Top 14 # Văn Học Là Tiếng Nói Của Thời Đại / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Khi Văn Học Thiếu Nhi Chưa Là Tiếng Nói Của Thời Đại / 2023

Đưa đến cho văn chương những điều mới mẻ bằng những sáng tạo mang dấu ấn cá nhân là ước vọng thường trực của người cầm bút. Tuy nhiên, khởi nguồn cho muôn nẻo sáng tạo ngẫm cho cùng là thực tại không ngừng biến chuyển. “Hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa do thực tiễn gợi ra” (Trần Đình Sử). Tính thời đại là một phẩm tính cần thiết của văn học nghệ thuật, trong đó có văn học thiếu nhi.

Ở Việt Nam, kể từ sau 1975, đặc biệt là sau Đổi mới, văn học thiếu nhi đã có những bước chuyển đáng kể, nhận được nhiều hơn sự quan tâm của các nhà văn. Nhật kí, tự truyện, truyện cổ viết lại, truyện giả cổ tích… là những thể nghiệm khả dụng. Nhưng cuộc tìm kiếm những hình thức biểu đạt đậm hơi thở thời đại nhiều khi lại không trùng khít với việc lắng nghe, phản ánh tiếng nói tâm hồn con người mới. Hình tượng thiếu nhi trong văn học hôm nay cơ bản vẫn bị đóng khung trong sự hồn nhiên trong sáng, trong cách ứng xử giản đơn các mối quan hệ. Mô thức tâm lí này tỏ ra phù hợp với lí thuyết của tâm lí học nhưng lại vênh lệch với thực tế. Văn học thiếu nhi sau 1975 xao nhãng mối quan hệ với hiện thực, điều mà văn học những giai đoạn trước làm khá tốt. Giai đoạn 1930-1945, vấn đề thân phận của trẻ em nông thôn được đặt lên hàng đầu. Có thể kể đến Một đám cưới, Từ ngày mẹ chết (Nam Cao), Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Bữa no đòn, Thằng ăn cắp (Nguyễn Công Hoan), Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Nhà nghèo (Tô Hoài)… Từ 1945 đến 1975, hình tượng thiếu nhi yêu nước, anh hùng trở thành cảm hứng nghệ thuật chủ đạo của văn học kháng chiến: Quê nội (Võ Quảng), Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (Xuân Sách), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Lượm (Tố Hữu), Kim Đồng (Tô Hoài)… Không khí của những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đi vào các tác phẩm: Ngày công đầu tiên của cu Tí (Bùi Hiển), Khi mùa xuân đến (Lê Phương Liên), Mái trường thân yêu (Lê Khắc Hoan), Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa)…

Sau 1975, văn học thiếu nhi cơ bản vận động theo những khuynh hướng sau: – Khai thác đề tài lịch sử, kháng chiến: Cơn giông tuổi thơ (Thu Bồn), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Búp sen xanh (Sơn Tùng), Ông Trạng thả diều (Hà Ân)… (1) – Viết lại hoặc phỏng theo cốt truyện, đề tài trong truyện kể dân gian: Chuyện ngày xưa – một trăm cổ tích (Tô Hoài), Truyện thơ cổ tích Việt Nam (Thái Bá Tân), Lá đa mặt nguyệt (Trần Quốc Toàn)… (2) – Hồi cố, tự thuật về tuổi thơ xa: Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa (Lê Bầu), Miền xanh thẳm (Trần Hoài Dương), Trên đôi cánh chuồn chuồn (Trần Đức Tiến), Quân khu Nam Đồng (Bình Ca)… (3) – Viết về loài vật, cây cỏ, các hiện tượng tự nhiên, đồ vật: Chú ếch ăn trăng (Dương Thuấn), Con lật đật (Đặng Hấn), Sự tích mùa thu (Nguyễn Hoàng Sơn), Những chú lợn con (Nguyễn Lãm Thắng), Dòng sông mặc áo (Nguyễn Trọng Tạo)… (4) – Viết về xúc cảm đầu đời của tuổi mới lớn: Ngồi khóc trên cây (Nguyễn Nhật Ánh), Khóc nữa đi sớm mai (Mường Mán), Hoàng tử online, Shock tình (Kawi), Thưa thầy em yêu anh (Ngọc Hân), Xu Xu đừng khóc (Hồng Sakura), Osin nổi loạn (Suly)… (5) – Phản ánh sinh hoạt đời thường của trẻ em trong cuộc sống hôm nay: Đốm lửa trên đồng (Mai Bửu Minh), Nhật kí hội Cầu Vồng (Đỗ Bích Thúy), Ông ngoại (Nguyễn Ngọc Tư), Cuộc chiến tóc ngắn tóc dài (Vũ Thị Thanh Tâm), Con ma da sau vườn (Nguyễn Ngọc Hoài Nam)… (6)

Những hướng đi này đều có những thành công nhất định. Với khuynh hướng (1), góc nhìn về hiện thực lớn có nhiều thay đổi. Các tác giả đã quan tâm nhiều hơn đến những giông gió dữ dội của lịch sử có khả năng sinh thành một thế hệ anh hùng nhỏ tuổi nhưng cũng đồng thời thổi bạt sự bình yên, lấy đi nhịp đập của những trái tim chưa đến tuổi mười lăm. Những tác phẩm ở khuynh hướng (2) thể hiện ý thức giữ gìn văn hóa dân gian một cách sáng tạo của các tác giả. Khuynh hướng (3) gắn với những cuộc trở về bồi hồi xúc động của những nhà văn tuổi trung niên. Tự truyện đã dẫn lối để họ được chân thành úp mặt cười khóc với ấu thơ nghèo khó mà nghĩa tình, khí khái. Ở hướng đi (4), văn học thiếu nhi ít có khả năng dẫn dắt trẻ thơ vào những cuộc rong chơi mới như các tác phẩm thuộc khuynh hướng (5) với những câu chuyện về tình yêu tuổi teen. Đây là sự tiếp tục đề tài rung động đầu đời của tuổi học trò trong văn học thiếu nhi trước đấy, đặc biệt là trong văn học đô thị miền Nam đầu những năm 70 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, chúng ta không có nhiều nhà văn như Nguyễn Nhật Ánh, Mường Mán nên nhiều tác phẩm trở thành thứ ngôn tình nặng tính giải trí, thiếu sự đầu tư về nghệ thuật.

Dù là quán tính hay sở thích, dù là nỗ lực làm mới hay là sự quẩn quanh an toàn, văn học đương đại nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng vẫn chưa thể là người đồng hành tin cậy và trách nhiệm của thời đại. Nếu các nhà văn của thiếu nhi sau 1975 không “đóng cửa phòng văn hì hục viết”, họ sẽ nhìn thấy những vấn đề thuộc về trẻ từ văn minh công nghiệp, từ xu hướng toàn cầu hóa như phát triển nhanh về tâm sinh lí, nhạy cảm trước cái mới, đa dạng về thị hiếu… và cả những căn bệnh rất thời sự như tự kỉ, vô cảm, lối sống hưởng thụ, đua đòi, bắt chước, tâm lí cả thèm chóng chán, mối quan hệ lỏng lẻo với văn hóa truyền thống, sự non kém về kĩ năng sống, bạo lực học đường… Thực tế cuộc sống đã cho các tác giả những gợi ý mà nếu hứng bắt được thì tác phẩm của họ sẽ rất tươi mới, cập thời.

Văn học thiếu nhi không chỉ là câu chuyện riêng của các em. Những tác phẩm có tầm vóc, có tuổi thọ vượt không gian và thời gian thường phản ánh sâu sắc, tinh tế đến không ngờ những vấn đề lớn của xã hội mà mãi đến những giai đoạn tiếp theo của cuộc đời trẻ mới thức nhận được, còn người đọc lớn tuổi hiện tại thì không khỏi giật mình và nhức nhối. Nhà văn không thể cứ ngây thơ tìm cách bóc tách trẻ ra khỏi bối cảnh sống hiện tại, cho trẻ lửng lơ trên đôi cánh thiên thần. Thầy cô, bè bạn, xóm giềng, ông bà, cha mẹ, anh chị của trẻ, cho đến cỏ cây, muông thú, núi rừng, biển cả… đều đang từng ngày từng giờ bị cuốn vào guồng quay của cơ chế thị trường nhiều cơ hội và cũng lắm thử thách. Thế giới “phẳng” mang con người đến gần nhau hơn và cũng dễ dàng đẩy họ ra xa nhau. Hiện đại – truyền thống, giàu sang – khốn khó, thiên thần – ác quỷ, sáng tạo – giới hạn… sẽ luôn song tồn trong bối cảnh sống vẫn được xem như sự lên ngôi của chủ nghĩa tiêu thụ. Sự biến đổi môi trường sống từ đồng bằng đến rừng núi, biển cả làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, số phận và phương cách sinh tồn của con người, trong đó có một bộ phận không nhỏ tuổi học trò. Di tích văn hóa bị xâm hại. Những trẻ thơ chưa kịp sống với tuổi xanh đã phải làm mẹ vì nạn ấu dâm… Nếu văn học thiếu nhi lưu giữ sinh động những “vỉa đời” đó, hẳn độc giả nhí không mải cúi đầu vào smartphone và người lớn cũng không còn dửng dưng đi giữa cuộc sống.

Thực tế, một số tác giả, tác phẩm văn học thiếu nhi sau 1975 khá thành công trong việc rút ngắn khoảng cách giữa trang văn và cuộc sống hiện đại. Thằng nhóc xóm tôi (Cao Xuân Sơn), Đi đến ngày xưa (Vi Thùy Linh), Nguyện cầu (Đỗ Nhật Nam)… dù là thơ nhưng tươi rói những âm thanh cuộc đời. Vương quốc lụi tàn, Làm mèo (Trần Đức Tiến), Đàn vịt bơi qua sông (Trương Tiếp Trương), Mun ơi, chạy đi! (Farhammer Mai Clara và Nguyễn Phan Quế Mai), Tắm sông (Nguyễn Ngọc Tư)… thể hiện vị trí người trong cuộc của các nhà văn với các vấn đề của sinh thái. Chúc một ngày tốt lành (Nguyễn Nhật Ánh) dùng vẻ đẹp của trẻ thơ và thế giới loài vật để hạ bệ người lớn, kể cả giới nhà báo, các vị chức sắc. Ngày xưa có một chuyện tình (Nguyễn Nhật Ánh) là một bước tiến đáng kể của tác giả khi viết về rung động đầu đời của tuổi học trò gắn với sex… Thế nhưng, thành công riêng lẻ và hiếm hoi của các tác giả cho thấy tính thời đại chưa thể là giá trị lớn của văn học thiếu nhi Việt Nam giai đoạn này. Lấy làm lạ khi Quế Hương – một người phụ nữ gần như một đời loay hoay với bệnh tật lại là nhà văn lắng nghe thường xuyên tiếng nói của thực tại. Những truyện ngắn của Quế Hương là vọng âm chân thực của cuộc sống hiện đại với những vết nứt tinh thần không thể xóa bỏ ( Bà mụ của búp bê, Tí bụi, Chiếc vé vào cổng thiên đường xanh, Ả ìa âu, Thằng tò he Xuân La, Apsara hoang dại, Ngày nắng đầu tiên, Cò gà, Lại chuyện bóng đỏ, Đãi kiến một bữa …).

Cũng trong tác phẩm này, lần đầu tiên, tuổi teen thời @ được khắc họa sống động và đúng điệu của teen đến vậy. Tuổi ô mai quá chừng thích thú khi nhìn thấy gương mặt tâm hồn, nghe thấy giọng của chính mình trong nữ sinh Ly cún, Mai tồ hay trong Sơn bóng… Đó là tập hợp một thế hệ dù cá tính nhưng hiện tượng mặc đồng phục về thị hiếu là điều không tránh khỏi: thích ăn mì cay, lướt web, đi xem phim, đi “siêu thị chỉ”, đi “uống trà chanh chém gió vù vù”; là fan cuồng của Sơn Tùng M-TP, Ông Cao Thắng, Đông Nhi, Khổng Tú Quỳnh; mặc hàng nhái rẻ tiền của Trung Quốc; mê trai đẹp… Nhân danh tuổi teen, tác giả xây dựng một thời khóa biểu thuộc thì tương lai mà ngày nào phim và ăn cũng trở thành một phần tất yếu với hi vọng việc học sẽ trở thành ngày hội. Lê Hoàng thấy được cái bóng bẩy, hào nhoáng của teen và chính thức thừa nhận, “nữ sinh là nghề tươi đẹp nhất” trong cuộc đời con người, là nghề duy nhất “có những tháng hè, có những lá me bay và có những tà áo dài buộc bụng”. Cũng không ít lần tác giả cho ta thấy sự chệch choạc của tâm hồn, xúc cảm thế hệ này ở văn hóa facebook, ở hiện tượng dễ dàng khóc cười với những thần tượng ca sĩ nhưng lại “đơ” trước lịch sử…

Lê Hoàng tạo ra sự khác biệt cho tác phẩm của mình bằng chính vốn liếng của một nhà đạo diễn dòng phim thị trường. Nhanh nhạy trong nắm bắt thị hiếu tuổi teen (ăn uống, giải trí, thần tượng, ngôn ngữ…), tận dụng đặc quyền của nghệ thuật thứ bảy, tác giả đã tạo ra một hình tượng người thầy – trai đẹp như đến từ hành tinh khác dù phần đời trong nhân vật rất dày dặn. Với sự kiêu kì của một người hiểu tiếng nói đặc thù của điện ảnh, Lê Hoàng chỉ ra ranh giới giữa nhà giáo và diễn viên, giữa lí thuyết và thực tế. Người thầy đã quay về nghiệp diễn với suy nghĩ phim trường là nơi “có thể làm mà không theo sách giáo khoa”. Sự trở về ấy không đơn thuần chỉ là đam mê mà còn là ý thức về sự đơn độc của mình trong không gian giáo dục, vì giỏi về chuyên môn, yêu lịch sử “như yêu một con người”, nói như ba của Ly cún, điều đó không mấy ai có được. Nhưng khi theo đuổi nghiệp diễn, thầy giáo đặc biệt này nhận ra rằng, ở lớp học mình có thể nói những điều mình nghĩ, còn ở trường quay mình phải nói bằng suy nghĩ của đạo diễn.

Tiểu thuyết đầu tay của Lê Hoàng như một bộ phim ăn khách nhưng tất yếu không thể sạch “sạn”. Một chút mất mát, hư hao của tác phẩm suy cho cùng cũng là bởi chất đạo diễn của nhà văn. Xu hướng đánh bóng cho showbiz, cho điện ảnh là điều không thể phủ nhận. Sự chuyển đổi vội vàng các khung hình theo lối ước lệ của điện ảnh làm cho phần sau của truyện hơi đuối. Nỗ lực làm cho hình tượng người thầy bớt chất “tài tử xinê” vô tình làm giảm giá trị của nhân vật. Để cho ngữ điệu nói dẫn dắt tác phẩm cũng gây những phản ứng tâm lí trái chiều cho người đọc. Tuy nhiên, nói rất đúng “giọng của teen” và thông qua giọng của teen để điểm trúng chỗ nhức nhối của giáo dục Việt Nam hiện tại là lối đi mới của tác giả. Cái đau đáu về những vấn đề xã hội đã tìm được con đường đi hợp lí để đến với không chỉ riêng tuổi teen. Có thể xem tác phẩm này như một gợi ý thú vị về cách viết cho trẻ em hôm nay.

Độc giả trung thành của văn học thiếu nhi là những người luôn dõi theo tiến trình vận động của bộ phận văn học này với nhiều cảm tình và kì vọng. Ngày hôm nay, nhà văn viết cho các em cũng cần phải “xuống đường”, đóng góp vai trò vào việc hình thành hệ giá trị mới trong điều kiện mới. Am tường đặc điểm tâm sinh lí trẻ, dõi theo những chuyển động tinh tế của các em trong sự chuyển động lớn của đời sống… là cơ sở để văn học thiếu nhi trình hiện một gương mặt mới. Người đọc mong mỏi nhìn thấy hơi thở cuộc sống đương đại với sự đa dạng của văn hóa, lịch sử, tôn giáo… trong văn học thiếu nhi hôm nay. Khi nhà văn mạnh dạn phát quang những hành trình mới, văn học thiếu nhi tất yếu sẽ mở rộng ý nghĩa giáo dục. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đang làm thay đổi cuộc sống và cách sống của giới trẻ. Cùng với khuynh hướng quốc tế hóa của đời sống, thế hệ trẻ được tự do chọn nơi học hỏi, làm việc, cư trú ở mọi nước, nếu thấy phù hợp. Lúc đó, vấn đề căn cội về dân tộc, về văn hóa và bản sắc văn hóa là một tài sản riêng, một nguồn tài nguyên riêng mà mỗi cá nhân cần được chuẩn bị. Văn học thiếu nhi sẽ đóng góp tích cực vào quá trình chuẩn bị ấy bằng nỗ lực tiếp cận thời đại mới của người cầm bút.

Văn học thiếu nhi không bé nhỏ như tên gọi của nó.

Theo Nguyễn Thanh Tâm (Văn nghệ Quân đội)

10 Tuyệt Tác Văn Chương Vĩ Đại Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1) / 2023

Anna Karenina, Quý bà Bovary, Chiến tranh và Hòa bình là ba trong những tuyệt phẩm có sức hấp dẫn vượt thời gian của các tác gia vĩ đại trong nền văn học thế giới.

1. Anna Karenina – Lev Tolstoy

“Anna Karenina” là tiểu thuyết của tác giả vĩ đại người Nga Lev Tolstoy (1828 – 1910). Đúng 120 năm sau ngày đại văn hào Lev Tolstoy hoàn thành tác phẩm (1877 – 1997), Tạp chí Time đã vinh danh “Anna Karenina” đứng đầu trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại”.

Nhiều nhà phê bình văn học thế giới đã nhận xét “Anna Karenina” là tuyệt phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết lãng mạn.

Người con gái lớn của đại thi hào Nga Pushkin (1799 – 1837) (là Maria Aleksandrovna Pushkina) mà Tolstoy gặp gỡ ở một buổi ăn tối đã tạo cảm hứng cho ông dệt nên tác phẩm tuyệt vời này.

Sau 137 năm từ ngày ra đời, tuyệt phẩm “Anna Karenina” được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật khác từ điện ảnh, truyền hình, kịch, opera, kịch truyền thanh… Riêng phim điện ảnh đã có 16 tác phẩm trải dài từ năm 1911 đến năm 2013.

2. Madame Bovary (Quý bà Bovary) – Gustave Flaubert

Ra đời năm 1857, “Quý bà Bôvary”(Madamme Bovary) của tiểu thuyết gia người Pháp vĩ đại Gustave Flaubert (1821 – 1880). Với những tác phẩm và tư tưởng nghệ thuật khác biệt mang chút u sầu, lãng mạn, Gustave Flaubert được mệnh danh là “Nhà văn buồn nhất thế kỷ”.

“Quý bà Bôvary”là một cuốn tiểu thuyết kể về số phận một người phụ nữ nông thôn trưởng giả vì chán chồng-một thầy thuốc làng-mà đi ngoại tình với một chàng luật sư trẻ tuổi nhưng không thành, rồi sau đó trở thành tình nhân của một tay chơi, nhưng cũng bị anh ta bỏ rơi. Cuối cùng thì cô ta gặp và bắt tình với anh chàng luật sư, nhưng sau đó thì phá sản và tự tử bằng thạch tín để lại chồng và đứa con gái lên ba tuổi.

Mặc dù mang nét lãng mạn và đơn giản, nhưng “Quý bà Bôvary” hấp dẫn người đọc và có sức sống giá trị trường tồn ở sự phản kháng của cá nhân chống lại những quy tắc của xã hội và đạo đức của thế giới tư sản chật hẹp và giả dối làm méo mó nhân cách, cằn cỗi tâm hồn và tha hoá con người.

Qua tuyệt phẩm văn học này, Gustave Flaubert muốn vạch ra sự tan vỡ của những ảo tưởng thơ mộng lãng mạn mà cá nhân khao khát hạnh phúc đặt vào thực tại tư sản tầm thường và hèn kém.

3. War and Peace (Chiến tranh và Hòa bình) – Lev Tolstoy

Đứng thứ ba trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại” chính là tác phẩm tiểu thuyết sử thi “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tolstoy.

Không hổ danh là “Con sư tử của nền văn học Nga” (Lev trong tiếng Nga là sư tử), đại văn hào Lev Tolstoy lại cho ra đời tuyệt phẩm phản ánh một giai đoạn bi tráng của toàn xã hội Nga, từ giới quý tộc đến nông dân, trong thời đại Napoléon.

“Chiến tranh và Hòa bình” là bộ sử thi vĩ đại nhất của Tolstoy, trước hết là vì tác phẩm đã làm sống lại thời kì toàn thể nhân dân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường.

Cốt truyện được xây dựng trên hai biến cố lịch sử chủ yếu đầu thế kỉ 19: cuộc chiến tranh năm 1805 và 1812, đồng thời phản ánh cuộc sống hòa bình của nhân dân và giai cấp quý tộc Nga vào các giai đoạn 1805 -1812, 1812 -1820.

“Chiến tranh và Hòa bình” và “Anna Karenina” là hai tuyệt phẩm vĩ đại làm danh tiếng lẫy lững của Lev Tolstoy trên văn đàn thế giới.

4. Lolita – Vladimir Nabokov

“Lolita” là bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhà thơ người Nga Vladimir Nabokov (1899 – 1977). Ra đời năm 1955, tiểu thuyết trở thành một tác phẩm kinh điển và là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và gây ra nhiều tranh cãi nhất trong nền văn chương thế kỷ 20.

Cái tên “Lolita” đã đi vào văn hoá phổ thông như là một từ để mô tả cô gái trẻ phát triển sớm về giới tính. “Lolita” khiến tất cả chúng ta – những người làm cha mẹ, những nhà hoạt động xã hội, những nhà giáo dục – phải dốc sức, với tinh thần cảnh giác cao hơn nữa và sáng suốt hơn nữa, vào nhiệm vụ nuôi dạy một thế hệ tốt hơn trong một thế giới an toàn hơn.”

Sự bí ẩn đến nguy hiểm của ngôn từ đến từng tình tiết của “Lolita”, tác phẩm hiện được chuyển thể thành những bộ phim nổi tiếng.

5. The Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) – Mark Twain

Tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” (1884) của nhà văn Mỹ Mark Twain (1835 – 1910) (tên thật là Samuel Langhorne Clemens) được đánh giá là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong nền văn học Mỹ. Đồng thời, tuyệt phẩm phiêu lưu này đứng thứ 5 trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại” do Tạp chí Time bình chọn năm 1995 dưới sự biểu quyết của 125 nhà văn, nhà phê bình hiện đại.

Thông qua cốt truyện kể về những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn trên dòng sông Mississippi với người bạn là một nô lệ đang chạy thoát tên Jim, cuốn tiểu thuyết thể hiện cái nhìn châm biếm những quan niệm cổ hủ xuất hiện ở miền Nam nước Mỹ thời tiền chiến, trong đó quan điểm kỳ thị chủng tộc bị lên án nhiều nhất.

Theo các nhà phê bình văn học thế giới, hình ảnh Huckleberry Finn và Jim trên chiếc bè chạy theo dòng sông, đi đến tự do, là một trong những hình ảnh bất hủ nhất trong nền văn học Mỹ.

Lớp Dự Bị Đại Học Là Gì? Thời Gian Học Dự Bị Đại Học Tại Nhật Bản / 2023

Đi du học Nhật Bản để được học tập trong môi trường hiện đại và đặc biệt sẽ thuận lợi hơn cho tương lai sau này. Chính vì thế, nhiều bạn đã định hướng tương lai sớm cho mình bằng lựa chọn đi du học Nhật Bản. Tuy nhiên, rất nhiều bạn cho rằng đi […]

Đi du học Nhật Bản để được học tập trong môi trường hiện đại và đặc biệt sẽ thuận lợi hơn cho tương lai sau này. Chính vì thế, nhiều bạn đã định hướng tương lai sớm cho mình bằng lựa chọn đi du học Nhật Bản. Tuy nhiên, rất nhiều bạn cho rằng đi du học Nhật Bản là học đại học luôn mà không biết rằng để có thể học lên đại học tại Nhật Bản. Thì, bạn phải học một lớp dự bị đại học trước.

Vậy, lớp dự bị đại học là gì và phải học trong thời gian bao lâu mới được học chuyên ngành đại học khi đi du học Nhật Bản? Bài viết này chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về điều đó.

1. Lớp dự bị đại học là gì?

Theo quy định: Khi sang Nhật Bản nhập học thì bạn phải đạt chứng chỉ N5 trở lên hoặc phải hoàn thành 150 tiết học tiếng Nhật tại Việt Nam. Với khả năng và trình độ tiếng Nhật như vậy, cũng chỉ giúp bạn có được giao tiếp cơ bản và có thể nghe hiểu đoạn hội thoại chậm mà thôi.

Vì thế, để có thể học đại học thì bạn sẽ phải tham gia hàm thụ tiếng Nhật tại các trường Nhật ngữ ở Nhật Bản. Việc hàm thụ này được gọi là lớp dự bị đại học. Trong quá trình học lớp dự bị đại học này, ngoài mục tiêu chủ yếu giúp bạn tăng khả năng ngôn ngữ tiếng Nhật ra. Thì, còn đào tạo bạn một số môn bắt buộc để thi vào học chuyên ngành đại học.

Việc làm này khác hẳn với đi du học Hàn Quốc vì: Hàn Quốc chỉ cần bạn đạt đủ yêu cầu về tiếng là được chuyển lên học chuyên ngành đại học. Còn với việc đi du học Nhật Bản thì ngoài việc đáp ứng yêu cầu về tiếng ra thì còn phải thi 1 trong 4 môn bắt buộc theo quy định về tự nhiên hoặc xã hội.

Kết luận: Lớp dự bị đại học khi đi du học Nhật Bản là lớp học dành cho du học sinh học tập, để tiếp tục học lên chuyên ngành đại học. Lớp dự bị đại học này, chủ yếu là đào tạo tiếng và đào tạo một số môn thi bắt buộc lên học chuyên ngành của các trường đại học ở Nhật Bản .

2. Thời gian học lớp dự bị đại học tại Nhật Bản

Theo quy định: Để có thể học chuyên ngành đại học, thì các trường đại học yêu cầu du học sinh phải đạt trình độ tiếng Nhật N2 trở lên. Với trình độ tiếng Nhật N2 này, bạn sẽ nghe hiểu và phản ứng nhanh như người bản xứ. Giúp bạn thuận lợi trong học tập cũng như tiếp thu được kiến thức của giáo viên Nhật Bản.

Do vậy, để có thể vào học được đại học thì bạn phải học ở các trường Nhật ngữ trước. Tại Nhật Bản có rất nhiều các trường Nhật ngữ nổi tiếng và uy tín. Đặc biệt tại thủ đô Tokyo, là nơi có vô vàn các trường Nhật ngữ. Tại các trường Nhật ngữ này có các khóa học tiếng Nhật khác nhau để bạn lựa chọn như:

– Khóa học 1 năm – Khóa học 1 năm 3 tháng – Khóa học 1 năm 6 tháng – Khóa học 1 năm 9 tháng – Khóa học 2 năm

Tức là khóa học ngắn nhất là 1 năm và khóa học dài nhất là 2 năm. Kết thúc mỗi khóa học thường các bạn sẽ phải thi và đến khi thi đạt chứng chỉ N2 bạn mới đủ điều kiện thi tiếp học chuyên ngành đại học. Nếu như, trong khoảng 2 năm học tiếng Nhật tại trường Nhật ngữ mà bạn vẫn không thể có được chứng chỉ tiếng Nhật N2 thì bạn sẽ không được thi học chuyên ngành đại học và bạn sẽ phải về nước.

Qua bài viết này, bạn đã hiểu vì sao Nhật Bản có nhiều trường Nhật ngữ và lớp dự bị đại học có ý nghĩa và mục đích như thế nào. Đặc biệt đóng vai trò quan trọng như thế nào của việc đi du học. Cùng với đó, là giới hạn khoảng thời gian cho việc học tiếng. Vì thế, bạn sẽ có được định hướng cũng như sự cố gắng thật sự giúp cho việc đi du học Nhật Bản của bạn được thành công trọn vẹn.

laodongxuatkhaunhatban.vn – Website xuất khẩu lao động Nhật Bản đầu tiên tại Việt Nam

Top 5 Tiểu Thuyết Văn Học Nhật Bản “Huyền Thoại” Hay Nhất Mọi Thời Đại / 2023

1. Rừng Na Uy (Murakami Harumi)

Được xuất bản vào năm 1987, nhưng quyển tiểu thuyết lại có bối cảnh chính là nước Nhật vào những năm 1960. Mạch chuyện trôi theo dòng hồi tưởng về thời trai trẻ của nhân vật chính và bài hát Norwegian Wood của The Beatles. Thông qua các mối quan hệ tình cảm của nhân vật chính câu chuyện nêu lên những vấn đề u ám của tuổi trẻ. Đó chính là trầm cảm, tự sát và các vấn đề tâm lý. Được dịch lần đầu tiên ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm nhưng theo thời gian và độ mở của văn hóa, Rừng Na Uy mới được xem là ra mắt hoàn chỉnh vào năm 2006. Quyển tác phẩm đã được giới trẻ Việt Nam đón nhận nồng nhiệt vì phản ảnh được tâm tư, cuộc sống và những mối quan tâm cụa họ lúc bấy giờ.

2. Một lít nước mắt (Aya Kitou)

Tác phẩm là câu chuyện có thật dựa trên nhật ký của cô bé Aya Kitou. Cố bé bị mắc căn bệnh hiểm nghèo thoái hóa tiểu não khi mới 15 tuổi. Căn bệnh như một bi kịch đối với cô bé và gia đình cô. Nhưng với niềm tin vào cuộc sống và khát vọng về tương lai, cô bé vẫn kiên trì tham gia các buổi trị liệu và luyện tập, kiên cường chiến đấu với căn bệnh cho đến khi qua đời ở tuổi 25. Cuộc sống ngăn ngủi của cô bé đã trở thành niềm cảm hứng cho mọi người cũng như là bài học quý giá: Hãy trân trọng hạnh phúc mình đang có, chấp nhận mọi khó khăn trong cuộc sống, vươn lên và cố gắng hết sức mình để không bao giờ hối tiếc.

3. 5cm trên giây (Shinkai Makoto)

Anime 5 cm trên giây

Câu chuyện xoay quanh mối tình trong sáng của Tono Takaki và Shinohara Akari – hai kẻ cô đơn. Giữa họ có mối liên kết vô hình khiến họ thân thiết với nhau suốt thời tiểu học. Tuy nhiên, về sau có nhiều điều vô hình trong cuộc sống khiến họ không thể đến được với nhau. Điều đặc biệt trong tác phẩm là câu chuyện có 3 phần, mỗi phần lại được kể theo một ngôi khác nhau nhưng đều chủ yếu xoay quanh nhân vật chính. Cách kể chuyện thú vị giúp độc giả có nhiều cái nhìn khác nhau về vấn đề của nhân vật, cũng như bản thân nhân vật. Mối tình đầu ngọt ngào, nhẹ nhàng cũng đầy tiếc nuối này sẽ khiến các bạn dừng tay hằng trăm lần trên mõi trang sách và đánh thức những cảm xúc ngủ quên trong tâm trí bạn.

Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào (Ichikawa Takuji)

Edu2Review – Cộng đồng đánh giá giáo dục hàng đầu Việt Nam

Màu xanh trong suốt (Ryu Murakami)

Màu Xanh Trong Suốt được đánh giá là một quyển sách khó đọc bởi toàn bộ tác phẩm là những câu trần thuật, gẫy gọn và thực tế đi thẳng vào vấn đề ma túy, tình dục và dòng nhạc rockn’roll ở nước Nhật vào những năm 1970. Qua lời kể của nhân vật chính – Ryu,chúng ta sẽ cảm nhận được những cảm xúc của chính những con nghiện: sợ hãi, hoang mang và chới với để rồi tuyệt vọng vì sự buông thả và lạc lối của tuôi trẻ. Tuy nhận được nhiều đánh giá khác nhau, nhưng tác phẩm Màu Xanh Trong Suốt đã mang lại cho tác giả Ryu Murakami giải thưởng Akutagawa cao quý nhất của Nhật Bản.

Thúy Duy tổng hợp