Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

--- Bài mới hơn ---

  • Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Bắc Sơn
  • Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Hải Sơn
  • Đề Án Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Mường Giai Đoạn 2022
  • Không Đơn Giản Là Người Biết Nhiều Dạy Người Biết Ít!
  • Trường Đại Học Khoa Học
  • Điện Biên TV – Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc trong đó khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Tại huyện Tuần Giáo chương trình dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh đã được triển khai tại 15 trường tiểu học và trung học cơ sở.

    Lớp học dạy tiếng Thái cho học sinh tại huyện Tuần Giáo.

    Năm 2011, trường PTDTBT Tiểu học Ta Ma là một trong những đơn vị trường học đầu tiên triển khai dạy tiếng Mông theo Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2022.  Chương trình được triển khai từ lớp 3 đến lớp 5, học sinh đã tương đối thuần tiếng phổ thông nên việc nắm bắt kiến thức tiếng Mông khá thuận lợi.

    Tuy nhiên, theo thầy giáo Nguyễn Phúc Đồng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc dạy tiếng dân tộc cũng gặp một số khó khăn. ĐÓ là nội dung kiến thức còn hơi nặng với học sinh khối lớp 3 bởi một số phần học sinh hơi khó nhớ và khó hiểu. Do vậy, đề nghị trong thời gian tới Đề án nên giảm tải bớt chương trình cho khối lớp 3.

    Chủ động truyền dạy tiếng dân tộc cho học sinh, đội ngũ giáo viên là người dân tộc Thái, dân tộc Mông đã sáng tạo, linh hoạt làm đồ dùng dạy học và sử dụng phù hợp với đặc thù và vùng miền nhằm nâng cao chất lượng truyền thu tiếng dân tộc. Đồng thời lựa chọn lồng ghép giới thiệu văn hóa, phong tục tập quán, các trò chơi dân gian,… của các dân tộc thông qua các chương trình chính khóa, ngoại khóa, các hoạt động tập thể.

    Khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc.

    Ông Đỗ Văn Sơn, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Tuần Giáo, cho biết: Năm học 2011 – 2012, khi bắt đầu triển khai Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2022, huyện Tuần Giáo chỉ có có 2 trường, 4 lớp và 85 học sinh học tiếng Thái; 1 trường, 2 lớp và 48 học sinh học tiếng Mông. Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện Đề án quy mô trường, lớp, học sinh học tiếng dân tộc trên địa bàn huyện Tuần Giáo được mở rộng theo từng năm.

    Tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc, huyện Tuần Giáo  đang vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học môn tiếng Việt vào dạy tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; xây dựng đội ngũ quản lý viên chức quản lý chỉ đạo dạy tiếng dân tộc có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết tiếng, chữ viết và văn hóa dân tộc… theo tinh thần Nghị quyết số 03/NQ-TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

     

    Việt Hòa/DIENBIENTV.VN

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Campuchia Uy Tín, Chất Lượng
  • Tuyển Dụng Giáo Viên Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm Tại Hà Nội
  • Job Type: Bán Thời Gian
  • Kết Quả Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh Phổ Thông Trên Địa Bàn Tỉnh Kon Tum
  • Khai Giảng Lớp Tiếng Bahnar, Khóa I
  • Nông Dân Ra Đường Học… Ngoại Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Trung Tâm Tiếng Anh Trẻ Em Tại Dĩ An Tỉnh Bình Dương
  • Học Tin Học Ở Dĩ An Bình Dương
  • Gọi Tên 4 Trung Tâm Luyện Thi Toeic Nức Lòng Người Học Tại Dĩ An
  • Tự Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Mới Bắt Đầu Từ Đâu Và Bằng Cách Nào??
  • Luyện Tập Trong Bao Lâu Thì Bạn Sẽ Giỏi Tiếng Anh?
  • Chiều, phố cổ Hội An tấp nập du khách thập phương. Bà Hoa (60 tuổi, trú phường Cửa Đại, TP Hội An) cùng mấy phụ nữ lụp xụp chiếc nón cũ đứng nói chuyện say sưa với gần chục du khách nước ngoài khiến anh hướng dẫn viên đứng ngẩn người vì “mất việc làm”. “Người dân ở đây họ phát âm chuẩn thật!”, hướng dẫn viên tên Hùng nhận xét.

    “Đó là thứ tiếng bồi thôi chứ tụi tui chẳng học qua trường lớp nào. Muốn bán được hàng, mời được khách đi thuyền dạo chơi trên sông… thì phải biết nói tiếng Anh. Mà muốn học tiếng thì chỉ có cách ra chợ, ra đường nghe người ta nói rồi bắt chước là nhanh nhất”, bà Hoa bật mí về khả năng nói tiếng Anh của mình.

    Vốn là dân đi biển, gần chục năm nay du khách nước ngoài ghé Hội An ngày một nhiều, bà Hoa chuyển qua nghề chèo thuyền đưa khách du lịch trên sông Hoài uốn lượn quanh phố cổ. Thời gian đầu ngày nào bà cũng chèo thuyền ra rồi lại ra về không vì gặp khách mà không biết đường mời, có khi khách đi thuyền bà không biết tính tiền, khách hỏi gì cũng lắc đầu cười trừ.

    Ngại quá nên bà Hoa quyết định phải học cho bằng được tiếng Anh. Nhưng từ nhỏ bám sông nước, bà có biết đến chữ nghĩa nào đâu mà vào trung tâm ngoại ngữ. Nghe mấy người hàng xóm mách muốn học tiếng Anh thì cứ ra đường bắt chuyện với khách, nói nhiều, nghe nhiều là học được, bà Hoa làm theo.

    “Không ngờ việc học tiếng bồi nhanh thiệt. Nói qua nói lại với khách, nếu mình nói sai họ lại sửa cho. Những lúc vắng khách thì đến nhờ mấy chị em cùng làm nghề dạy thêm”, bà Hoa kể và tự hào khoe giờ đã có thể giới thiệu cho du khách về tuổi thọ của những dãy nhà cổ, các món ăn đặc sản của phố cổ…

    Không riêng bà Hoa, hầu hết người dân buôn bán ở Hội An ai cũng biết một vài câu tiếng Anh. Ai chưa biết thì lại ra đường, nghe mọi người giao tiếp và học theo. Mỗi khi khách đi qua, những lời mời bằng tiếng Anh lại rôm rả. Dù họ không ghé quán, người dân cũng vui vẻ chào “Good luck!” khiến nhiều người tỏ ra thích thú.

    Làm nghề chạy xe ôm được 5 năm nay trên tuyến phố cổ, ông Nguyễn Đình Cáng, 55 tuổi, thông thạo từ việc mời khách nước ngoài đi xe một cách lịch sự và kiêm luôn việc tư vấn cho khách về các địa điểm du lịch sinh thái như đi chèo thúng chai, tập làm nông dân…

    “Lớn tuổi rồi nên việc học tiếng Anh, dù là tiếng bồi cũng không mấy dễ dàng. Ngoài việc lắng nghe thì bản thân người học cũng phải tập cách phát âm thế nào cho chuẩn, điệu bộ ra sao để thu hút sự chú ý của người nghe…”, ông Cáng nói và cho biết đã mất một năm ròng bám đường hỏi chuyện khách, hỏi cả những hướng dẫn viên du lịch để có được vốn ngoại ngữ như bây giờ.

    Ông Cáng thật thà bảo ở phố cổ Hội An này mỗi người học nói tiếng bồi đều theo một nhu cầu riêng. Như cụ Quỳnh chèo thuyền đi bán con tu huýt cho khách chỉ biết nói giá mỗi con một đôla và trả tiền mỗi khi mua hàng, bà Ngọc học một vài câu mời khách ăn Mì Quảng, cao lầu… Riêng những người chạy xe ôm, đạp xích lô thì phải học nhiều hơn để còn chỉ đường, kiêm hướng dẫn viên cho du khách. Có người biết nói đến 3-4 ngoại ngữ.

    Lợi thế của việc học tiếng Anh nơi phố cổ là người học được gặp và nói chuyện trực tiếp với khách nên hiện nay không riêng gì người dân phố cổ mà nhiều học sinh, sinh viên cũng tìm đến mong mở rộng vốn ngoại ngữ. Trần Quốc Hào, sinh viên ĐH Duy Tân Đà Nẵng, cứ cuối tuần lại cùng mấy người bạn chạy xe hơn 20 km vào Hội An, đứng bên đường để bắt chuyện, học tiếng Anh từ những người nước ngoài. Nhiều khách sẵn lòng ngồi hàng giờ để tiếp chuyện Hào.

    “Ở trường có dạy ngoại ngữ nhưng em thấy không ở đâu học nhanh tiến bộ bằng việc được học trực tiếp với người nước ngoài. Chúng em coi đây là dịp ngoại khóa, vừa đi chơi vừa có cơ hội nâng cao khả năng ngoại ngữ”, Hào chia sẻ. Điều Hào cảm thấy thán phục là dù mình được học hành bài bản nhưng nếu nói về việc phát âm hay sự linh hoạt trong từng ngữ cảnh giao tiếp thì vẫn còn kém xa so với những người dân buôn bán ở phố cổ.

    Ông Võ Phùng, Giám đốc Trung tâm văn hóa – thể thao thành phố Hội An, nhận xét Hội An là điểm du lịch rất sôi động, hầu hết thời gian trong ngày người dân phố cổ đều tiếp xúc với khách nước ngoài nên khả năng nói tiếng Anh không ngừng phát triển. Đó là một sự nhạy bén của người dân trong quá trình làm du lịch.

    “Người dân phố cổ hiền hậu, mến khách nên không riêng gì những người buôn bán học tiếng Anh để bán được hàng mà ngay cả người bình thường cũng muốn học được một vài câu để hướng dẫn mỗi khi khách hỏi đường. Điều này cũng tạo nên sự thú vị cho mảnh đất này phát triển du lịch”, ông Phùng cho biết thêm.

    Nguyễn Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đào Tạo Giáo Viên Tiếng Anh: Vận Dụng Những Gì Sẵn Có
  • Mẫu Bài Luận Tiếng Anh Về Hội An
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Danh Lam Thắng Cảnh
  • Top 10 Trung Tâm Dạy Tiếng Anh Hội An Chất Lượng
  • Học Phí Tiếng Anh Giao Tiếp Tại British Council Là Bao Nhiêu?
  • 5 Cách Học Ngoại Ngữ “bất Thường” Trên Pc Hoặc Smartphone

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Y Khoa
  • 19 Từ Vựng Tiếng Anh Về Hình Học Cần Ghi Nhớ
  • ‎busuu: Học Từ Vựng Và Ngữ Pháp
  • Cách Tạo Ghi Chú Ngay Trên Màn Hình Khóa Của Iphone Và Ipad
  • Hãy Học Ngôn Ngữ Như Những Đứa Trẻ Thơ
  • Học một ngôn ngữ mới đã được chứng minh có thể bắt bộ não trì trệ của bạn tiếp thu cái mới. Các bộ phận ít được sử dụng trong bộ não của bạn cần phải “tập thể dục” và lần lượt đưa ra những ý tưởng và giải pháp mới. Tất nhiên, học một ngôn ngữ mới là công việc khó khăn. Nhưng có một số ứng dụng và công cụ có thể làm cho việc này trở nên dễ dàng hơn.

    Nếu bạn nghiêm túc về việc học một ngôn ngữ mới, thì Duolingo là ứng dụng tốt nhất để học ngoại ngữ một cách có hệ thống. Nhưng bạn có thể không có thời gian, năng lượng, hoặc xu hướng làm điều đó thật nghiêm túc. Phải có một cách thú vị hơn chứ?

    Một số nhà phát triển đã đưa ra các giải pháp sáng tạo cho vấn đề này. Một số ứng dụng tích hợp vào thói quen hàng ngày của bạn. Một số ứng dụng khác biến việc học ngôn ngữ thành một trò chơi. Chọn phương pháp phù hợp với bạn và bạn sẽ thấy mình có khả năng nói được một ngôn ngữ hoàn toàn mới.

    1. Flash Academy (Android, iOS): Bài học ngắn, trò chơi và “Nhà biên dịch đồ vật”

    Việc tự học một ngôn ngữ rất khác với việc học ở trường. Bạn không có thời gian dành riêng cho việc học, không thể kiểm tra, nhưng bạn có thể làm một vài bài tập. Và bạn không có giáo viên để đặt câu hỏi. Flash Academy có giải pháp tuyệt vời cho tất cả những vấn đề này.

    Flash Academy đưa ra các bài học năm phút để bạn học một khía cạnh về ngôn ngữ đã chọn và sau đó chuyển sang bài học tiếp theo. Ứng dụng cũng khuyến khích bạn chơi trò chơi thay vì làm bài kiểm tra. Đó là một cách thú vị để luyện tập những gì bạn đã học. Phần ấn tượng nhất của Flash Academy là “Object Translator”, trỏ máy ảnh của bạn vào một đối tượng và nó sẽ dịch đồ vật đó.

    2. chúng tôi (Web, Điện thoại di động): Tạo thẻ flash card của riêng bạn

    Bạn có thể không muốn học hoàn toàn một ngôn ngữ mới, mà chỉ muốn học một vài từ hoặc cụm từ. Wordeys cho phép bạn tạo các thẻ flash card tùy chỉnh mà sau đó bạn có thể sử dụng để tìm hiểu và xem lại các bài học của mình.

    Thẻ flash card đặc biệt hữu ích cho các bài học ngắn. Đăng nhập vào Wordeys và bạn sẽ nhận được một danh sách các ô trống. Viết một từ hoặc cụm từ bằng tiếng Anh vào một bên và nghĩa trong hộp tương ứng hoặc yêu cầu Google Dịch tự động dịch nó cho bạn. Khi đã tạo xong một danh sách, bạn có thể kích hoạt Wordeys bất cứ lúc nào và bắt đầu học ngôn ngữ. Chọn tiếng mẹ đẻ hoặc ngoại ngữ bạn học từ danh sách để tự kiểm tra. Về cơ bản, bạn có thể sử dụng một trong hai bên của thẻ flash card.

    Wordeys hoạt động tốt trên cả trình duyệt web trên máy tính để bàn cũng như điện thoại di động, vì vậy bạn thậm chí không cần một ứng dụng để sử dụng nó. Thêm vào đó, hoàn toàn miễn phí để tạo ra nhiều từ và danh sách như bạn muốn.

    3. Flipword (Chrome): Thay đổi một vài từ trên bất kỳ trang web nào để giúp bạn học lại bài học

    Một khi bạn đã học một ngôn ngữ cơ bản sử dụng bất kỳ ứng dụng nào ở trên, bạn cần tiếp tục sử dụng nó thường xuyên. Đó là cách duy nhất bạn nhớ và cải thiện vốn ngoại ngữ của bạn. Flipword, một extension miễn phí của Chrome, giúp học ngôn ngữ bằng cách thay đổi một vài từ trong mỗi trang sang ngôn ngữ mong muốn của bạn.

    Bằng cách này, phần lớn trang vẫn giữ nguyên, nó không giống như sử dụng Google Translate. Tiện ích này dễ dàng và dễ tiếp cận hơn. Các từ đã thay đổi được đánh dấu rõ ràng. Di chuột qua chúng để xem các từ thay thế, cách phát âm của nó, hoặc thậm chí những bài học nhỏ. Flipword cũng bao gồm bài thực hành đánh máy, luyện nói với micrô trên máy tính của bạn và bài học trên YouTube.

    Hiện nay, Flipword chỉ hỗ trợ tiếng Anh, Tây Ban Nha và Trung Quốc. Tuy nhiên, tính đơn giản đã khiến nó trở thành công cụ tuyệt vời để sử dụng. Và hãy nhớ, bạn có thể sử dụng extension Chrome trong Opera hoặc các trình duyệt dựa trên Chromium khác.

    4. chúng tôi (Chrome): Xem Netflix, Amazon hoặc YouTube để học ngôn ngữ

    Đã đến lúc sử dụng Netflix cho việc học. Bạn thường xem phim nước ngoài với sự trợ giúp của phụ đề, giờ đây bạn có thể xem với phụ đề tiếng nước ngoài. Lingvo yêu cầu bạn cài đặt extension Chrome trên trình duyệt và ứng dụng di động trên điện thoại. Khi bắt đầu một bộ phim, âm thanh và phụ đề đều bằng tiếng nước ngoài. Lingvo làm cho việc học tập dễ dàng hơn và kích hoạt trí nhớ thị giác của bạn. Trong khi đó, trên điện thoại của bạn, bạn có thể chạm vào phụ đề để có được bản dịch tiếng Anh của bất kỳ từ hoặc cụm từ nào.

    Lingvo hiện đang làm việc với các bộ phim được chọn trên Netflix, Amazon Prime Video và YouTube. Tất nhiên, bạn sẽ cần phải trả phí cho Netflix hoặc Amazon để sử dụng.

    DownloadLingvo TV cho Chrome (Miễn phí)

    5. Duolir (iOS): Sách ngoại ngữ

    Một bộ phim có phụ đề có thể không phải là thứ bạn đang tìm kiếm. Vậy còn việc đọc một cuốn sách bằng tiếng nước ngoài thì sao? Bạn có thể gõ vào bất kỳ câu nào để dịch chúng và bản dịch này do con người thực hiện.

    Phụ đề bằng tiếng nước ngoài có thể trở nên lộn xộn. Vì nó thực hiện bằng một thuật toán máy tính, đôi khi nó mất đi sắc thái của ngôn ngữ, nhưng điều này rất cần thiết cho sách. Đó là lý do tại sao tất cả bản dịch của Duolir đều do những người biết cả hai ngôn ngữ thực hiện. Chỉ có một vài cuốn sách trên Duolir được miễn phí, nếu muốn đọc nhiều hơn bạn cần mua chúng.

    DownloadDuolir cho iPhone hoặc iPad (Miễn phí)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Ejoy English Học Tiếng Anh Qua Video Và Game Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Các App Học Từ Vựng Tiếng Anh Miễn Phí Tốt Nhất Hiện Nay
  • Ôn Thi Đại Học Môn Tiếng Anh
  • 8 Apps Học Từ Vựng Tiếng Anh Vừa Vui Vừa Hữu Dụng
  • Cách Tự Học Tiếng Anh Online Với App Hinative
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • NGÔN NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG TIẾNG THÁI

    A-MỤC TIÊU

    1 – Mục tiêu chung

    Trang bị kiến thức ngôn ngữ đại cương về tiếng Thái cho giáo viên dạy

    tiếng Thái cán bộ, công chức.

    2- Mục tiêu cụ thể

    Giúp cho giáo viên nắm được kiến thức ngôn ngữ tiếng Thái về các phương diện:

    -Ngữ âm, chữ viết

    -Từ vựng, ngữ nghĩa

    -Ngữ pháp.

    B- ĐỐI TƯỢNG

    Giáo viên dạy tiếng Thái cho cán bộ, công chức tại các tỉnh : Điện Biên,

    Hòa Bình,Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Yên Bái.

    C- THỜI GIAN : 02 ngày

    D- NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

    PHẦN THỨ NHẤT: NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TIẾNG THÁI.

    A-LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TIẾNG NÓI CHỮ VIẾT CỦA DÂN TỘC THÁI

    Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết từ

    lâu đời. Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện của chữ Thái, nhưng

    hàng ngàn năm nay, các nhóm Thái ở nước ta đã sử dụng con chữ riêng của mình cho

    đến ngày nay. Người Thái ở Việt Nam, cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước

    ngoài, đã và đang sử dụng, giữ gìn và bảo tồn nó. Bộ chữ Thái là một công cụ để ghi

    nhận và giao tiếp trong cộng đồng người Thái. Nó ghi nhận và phản ánh đầy đủ,

    phong phú và tế nhị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sáng lành mạnh của dân tộc

    Thái, các hoạt động của con người như lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên

    nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sinh hoạt của con người trong xã hội, mặt

    khác nó còn phản ánh văn hoá nghệ thuật (Thơ, ca, tục ngữ, truyện, các phong tục tập

    quán…) những di sản đó đều được bộ chữ Thái ghi chép và truyền đạt lại từ thế hệ

    này sang thê hệ khác.

    Cùng với các tộc người khác, người Thái còn có nền văn hoá phong phú đa dạng,

    các tác phẩm văn học dân gian đã được ghi chép lại bằng chữ Thái Cổ. Hiện nay có

    khoảng 3000 tác phẩm, còn chưa kể các tác phẩm đang được truyền miệng rải rác ở

    nhiều nhóm Thái khác nhau. Các tác phẩm văn học Thái đã và đang được khôi phục

    như: Tác phẩm Xống chụ xon xao, Khun Lù Nàng Ủa,Ý Đón, Ý Đăm, Ý nọi Nang

    1

    Xưa, Nang Ý tú, Nàng Phôm Hom, Tạo Nang Hôm Nang Hai, Hiến Hom, Tong Đón

    AmCa, Xông ca Xi Cáy, Khun tính, Út Ỏ, Pha mệt, Pha cáng, Chương Han, tay Pú

    Xấc, Trang Nguyên, Trang Tư…

    Chữ Thái được nhân dân các vùng người Thái cư trú truyền dạy học cho con cháu

    theo con đường cha truyền con nối đến tận bây giờ, không có trường, lớp học, không

    có sách giảng dạy, không có tài liệu hướng dẫn.

    Tây Bắc được giải phóng, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, sau này đổi tên là

    khu tự trị Tây Bắc, tháng 11/1954, sở Giáo dục khu đã tập hợp các tri thức người Thái

    toàn khu về họp bàn về sử dụng chữ Thái và thông nhất xây dựng bộ chữ Thái thống

    nhất nhân dân còn sử dụng đến ngày nay. Đó là bộ chữ để dùng cho công tác xoá nạn

    mù chữ, phương tiện báo cáo cấp xã, bản, được sử dụng trong văn bản nhà nước như

    giấy kết hôn, khai sinh, dùng trong phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách

    báo, ấn phẩm văn học, tuyên truyền cổ động.

    Sau đó Hệ chữ Thái cải tiến được thông qua năm 1963 tại Sở giáo dục Khu Tự

    trị Tây Bắc do nhóm nghiên cứu chữ Thái và tiếng Thái của khu Tây Bắc soạn thảo,

    và được phép sử dụng dạy cho các em học sinh ở cấp 1, vùng dân tộc Thái thuộc khu

    Tây Bắc, chủ yếu là ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu.

    Chữ Thái thống nhất và chữ Thái Cải tiến đã được soạn thảo thành sách, được

    đưa vào dạy trong các lớp bổ túc văn hoá và cấp 1 phổ thông ở một số tỉnh, từ năm

    học 1954-1955. Nhưng phong trào học và dùng chữ Thái cải tiến vấp nhiều khó khăn,

    trước hết là do bản thân chữ Thái cải tiến có những điểm chưa hợp lý; chưa hợp lòng

    dân, do vậy đến năm 1969 thì tạm dừng để nghiên cứu lại … (theo quyết định số 153

    ngày 20/8/1969 của Phủ thủ tướng ) về việc xây dựng cải tiến và sử dụng chữ viết các

    dân tộc thiểu số.

    Khi Quyết định số 53 Ngày 22/02/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ

    tướng Chính phủ) về ”chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số”, được ban

    hành, nhiều người muốn La tinh hoá chữ Thái. Năm 1981, phương án chữ Thái La

    tinh được phê chuẩn ở tỉnh Lai Châu. Bộ chữ này được sử dụng để làm từ điển TháiViệt, in các trang văn nghệ dân tộc trong các sách báo địa phương. Ở Sơn La và các

    tỉnh khác một số trí thức người Thái dùng chữ quốc ngữ phiên âm để in những tác

    phẩm văn học dân gian Thái. Nhưng chữ Thái la tinh đã không thể hiện đúng một số

    âm của tiếng Thái.

    Để giữ gìn, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ chữ viết trong thời kỳ hội nhập, Đảng,

    Chính phủ và các bộ ngành trung ương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc truyền

    dạy và bảo tồn phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, cụ thể như:

    2

    Trong luật phổ cập giáo dục tiểu học được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1991,

    tại Điều 4 có ghi: “Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt. Các dân tộc

    thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để

    thực hiện giáo dục tiểu học”.

    Thông tư số 01 ngày 3/2/1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã Hướng dẫn việc

    dạy học tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số.

    Luật giáo dục (Luật số 11/1998/QH10) được Quốc hội thông qua ngày

    02/12/1998, tại Điều 5, tiết 2 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc

    thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Việc dạy và học tiếng nói, chữ

    viết của dân tộc thiểu số được quy định theo quy định của Chính phủ”.

    Nghị định số 72 ngày 06/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp

    lệnh Thư viện, Điều 14, mục 6 có ghi rõ như sau: “Nhà nước có chính sách đầu tư

    cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng DTTS,

    tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng này”.

    Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị của số 38 ngày 09/11/2004 về

    việc đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ công chức công tác ở

    vùng dân tộc miền núi chỉ rõ “Yêu cầu của công tác quản lý và phát triển kinh tế xã

    hội, an ninh, quốc phóng đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức công tác ở các vùng có

    đồng bào dân tộc thiểu số phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong công

    tác…đào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS cho cán bộ, công chức, đặc biệt là đối với cán

    bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, xã, công chức nhà nước, sĩ quan, chiến sĩ trong lực

    lượng công an, quân đội công tác ở các vùng dân tộc, miền núi. Đây là một trong

    những nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc”.

    Tại Điều 7 tiết 2 của Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 ghi

    rõ: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết

    của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học

    sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường

    và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được

    thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

    Thực hiện Chỉ thị số 38 ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ngày

    24/01/2006, Bộ Giáo dục đã ban hành Quyết định số 03 về việc Ban hành Chương

    trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở

    vùng dân tộc thiểu số. Ngày 15/7/2010 Chính phủ đã ban hanh Nghị định số 82 quy

    định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục

    phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư liên tịch số 50, ngày

    3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Cách Dạy Tiếng Anh Trẻ Em Mà Phụ Huynh Nên Áp Dụng Tại Nhà
  • 7 Gợi Ý Dạy Con Tiếng Anh Ở Nhà
  • 4 Cách Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ 3 Tuổi Tại Nhà Các Bậc Phụ Huynh Cần Biết
  • Học Tiếng Anh Qua Tên Các Loại Động Vật Có Phiên Âm
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Các Con Vật Khi Còn Nhỏ
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh còn nhiều khó khăn.

    Tỉnh Gia Lai hiện có gần 400.000 học sinh, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, chủ yếu là học sinh người dân tộc Jrai, Bahnar. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tổ chức triển khai chương trình dạy tiếng Jrai, Bahnar và coi đây là một môn học tự chọn trong các trường học từ năm 2006 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Tuy nhiên, vì nhiều lý do, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn, số học sinh theo học tiếng dân tộc thiểu số ngày một giảm.

    Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng Jrai là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng Bahnar là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2022-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

    Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa cho biết: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

    Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh.

    Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2022-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường.

    Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải pho to sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

    Ngoài ra, từ năm học 2022-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

    Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Việt Cho Tây
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1
  • Phạm Xuân Nguyên: Tôi Dạy Tiếng Việt Cho Bộ Đội Campuchia
  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Những năm gần đây, các tỉnh Tây Nguyên đã tuyên truyền, vận động các bậc phụ huynh là người dân tộc thiểu số cho con em mình tự nguyện tham gia học tiếng dân tộc thiểu số do các trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tổ chức.

    Các tỉnh Tây Nguyên cũng đã sử dụng các bộ sách giáo khoa tiếng Êđê, Jrai, Bahnar, K’ho… bậc tiểu học từ lớp 3, 4 và lớp 5 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Riêng việc dạy tiếng dân tộc thiểu số tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được thực hiện ở các lớp 6, 7 và 8 theo chương trình, tài liệu của địa phương.

    Các tỉnh Tây Nguyên cũng tổ chức dạy 2 tiết/tuần, bố trí phòng học học, giáo viên, mua sắm đồ dùng dạy học, hỗ trợ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập và vở viết cho học sinh dân tộc phục vụ tốt yêu cầu dạy và học cho các cháu.

    Từ đầu năm học 2022-2019 đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã cấp sách giáo khoa mới tiếng Êđê miễn phí cho 13.170 học sinh dân tộc Êđê thuộc 3 khối lớp 3,4, 5 và 133 giáo viên dạy tiếng dân tộc Êđê ở 106 trường tiểu học trên địa bàn.

    Các tỉnh Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng cũng đã trích ngân sách địa phương hàng trăm tỷ đồng để in sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc thiểu số tại chỗ, sách bài tập, mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ tốt yêu cầu dạy và học.

    Hầu hết, các giáo viên dạy tiếng dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên cũng đã được đào tạo nghiệp vụ sư phạm tại các trường Đại học, Cao đẳng và đã được học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo về chuyên ngành dạy tiếng dân tộc nên góp phần nâng cao chất lượng dạy học bằng tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh
  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Việt Cho Tây
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1
  • Phát Triển Vốn Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Bằng Song Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Giảm Mỡ Mông Tại Nhà Cấp Tốc
  • 12 Liệu Pháp Thần Thánh Trị Thâm Mông Cấp Tốc
  • Khách Tây Bất Ngờ Đến Nhà, Chàng Trai H’mông ‘trúng’ Lớn
  • Bế Mạc Lớp Học Tiếng H’mông Khóa Ii Tại Trung Tâm Mục Vụ Hưng Hóa
  • Cô Bé H’mông Nói Tiếng Anh Như Gió Và Chuyện Đổi Đời Nhờ Ngoại Ngữ
  • GD&TĐ – “Chúng tôi vui lắm vì gần đây các em rất hăng say học tập, có hứng thú khi đến trường, đến lớp!”, thầy giáo Đoàn Minh Cường, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học (TH) Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông (Điện Biên) hồ hởi chia sẻ sau thời gian triển khai đề án phát triển vốn tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số bằng dạy, học tiếng Mông.

    Pu Nhi là xã vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện Điện Biên Đông. Ở đây, gần như 100% là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Họ cần mẫn, chịu khó song vẫn giữ tập quán sản xuất cũ, quanh năm “vắt vẻo” trên các lưng đồi, sườn núi để làm ra bắp ngô, củ sắn sinh nhai. Pu Nhi vẫn có đến hơn 90% số hộ gia đình thuộc diện nghèo, bởi thế, việc quan tâm đến sự học của con em mình hầu như không có. Với các thầy cô giáo thì học sinh đến trường được đã quý, làm sao để giữ được các em ở trường theo học suốt cả một năm lại càng quý giá hơn.

    Sở dĩ cũng bởi do địa hình chia cắt nên ngoài điểm trường trung tâm, Trường Tiểu học (TH) Pu Nhi phải thành lập thêm 4 điểm trường lẻ để thuận tiện cho các em theo học. Ở đây có 337 học sinh thì 100% là con em đồng bào Mông. Ít tiếp cận với thế giới bên ngoài, lúc ở nhà chỉ lên rừng kiếm củi, chăn trâu, làm nương theo bố mẹ, nên hầu hết các em đều thiếu tự tin trong giao tiếp, đặc biệt là vốn ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế.

    Vì vậy, trong suốt một quá trình khá dài, chất lượng học tập của các em học sinh ở đây vẫn chưa được như mong muốn bởi vốn tiếng Việt của nhiều em vẫn còn rất hạn chế. Nhiều lúc chỉ với một câu hỏi mà giáo viên phải nêu lên nhiều lần nhưng các em vẫn không hiểu, không trả lời được.

    “Nhiều em sau khi lên lớp còn đọc chậm và phát âm sai, viết sai chính tả, nhiều học sinh thiếu tự tin trong giao tiếp và trong học tập. Các em không tự tin tương tác cùng các bạn để phấn đấu vượt khó trong học tập. Nguyên nhân chính của những hạn chế trên là do các em còn ít vốn tiếng Việt nên việc tiếp thu kiến thức thụ động và chóng quên”, thầy Đoàn Minh Cường tâm sự.

    Cứ sau mỗi dịp hè thì các thầy cô giáo ở đây lại lo “ngay ngáy” vì nhiều em quên luôn cả việc đọc, viết và làm Toán. Một số em còn hầu như chưa biết và giao tiếp được bằng tiếng Việt. Đối với số học sinh qua mẫu giáo thì việc giao tiếp bằng tiếng Việt của các em còn nhiều khó khăn. Các em chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh đơn giản như “Trật tự”, “Ra chơi”, “Vào lớp” hay “Ra về”…

    Ở trường thì vậy, còn ở gia đình, việc tạo thói quen và bồi dưỡng tiếng Việt của các em hầu như không có bởi đồng bào Mông sống riêng lẻ theo hộ, nhóm hộ tận các rừng sâu. Hãn hữu lắm họ mới có cơ hội giao tiếp với người Kinh. Nhiều gia đình không nói được tiếng Việt hoặc ít sử dụng tiếng Việt nên việc sinh hoạt giao tiếp trong gia đình hầu như bằng tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, khi trẻ ra lớp thường chưa nói và hiểu được tiếng Việt.

    Từ thực tế trên, từ năm học 2013 – 2014, nhà trường chính thức thực hiện đề án dạy tiếng dân tộc Mông cho các em học sinh khối lớp 3, 4, 5 tại điểm trường trung tâm. BGH nhà trường đã xây dựng kế hoạch cụ thể, giao cho các tổ chuyên môn, Tổng phụ trách Đội có trách nhiệm tổ chức các sân chơi trí tuệ, các trò chơi dân gian trong cácbuổi học để các em học sinh có cơ hội giao tiếp với nhau, qua đó nâng cao vốn ngôn ngữ tiếng Việt, đồng thời rèn cho các em tính bạo dạn và tự tin hơn trong giao tiếp bằng tiếng Việt.

    Tập thể BGH đã cố gắng tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Có thể kể đến, đó là việc đổi mới phương pháp dạy học, tăng thời lượng một số môn học cơ bản như: Toán, Tiếng Việt. Bên cạnh đó còn tăng cường phụ đạo học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng, tổ chức các hình thực học tập như học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến, nhiều tiết học kéo dài.

    Giáo viên trong trường cũng vận dụng nhiều giải pháp trong việc tăng cường tiếng Việt cho các em học sinh. Điển hình có thầy giáo Sủng A Nhan, người dân tộc Mông, trực tiếp là người dạy tiếng dân tộc. Do thấu hiểu tính cách, con người và quan niệm sống của đồng bào Mông nên thầy Nhan đã đề xuất với nhà trường tổ chức ngày càng nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức các sân chơi tiếng Việt và dạy học lồng ghép giữa tiếng Mông và tiếng Việt vào trong giao tiếp, dịch các đoạn hội thoại, thơ, văn từ tiếng Mông sang tiếng Việt.

    “Trong quá trình giảng dạy các em, tôi còn tổ chức các trò chơi dân gian, biên dịch lời bài hát từ tiếng Việt ra tiếng Mông như các bài: Đi học xa, Em yêu trường em; cho các em hát bằng cả hai thứ tiếng. Sau nhiều lần như thế đã giúp cho các em hứng thú hơn, thích học bài, thích đến trường hơn. Các em đã tự tin hơn trong giao tiếp bằng tiếng Việt”, thầy giáo Sủng A Nhan nói.

    “Việc thầy giáo Sủng A Nhan thực hiện dạy học môn tiếng dân tộc Mông và áp dụng đổi mới phương pháp dạy học vào quá trình giảng dạy đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, giảm thiểu số lượng học sinh bỏ học. Nhiều giáo viên đã thấy được hiệu quả của việc tăng cường tiếng Việt trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục nên đã hưởng ứng nhiệt tình và thực hiện giải pháp như trong quá trình dạy tiếng Việt cũng dịch các đoạn văn, đoạn thơ, giải nghĩa từ tiếng Việt sang tiếng Mông để học sinh hiểu rõ hơn”, thầy giáo Đoàn Minh Cường nói.

    Thầy Cường cũng cho biết thêm, hiện nhiều gia đình đồng bào Mông cũng đã có ý thức sử dụng một phần tiếng Việt trong giao tiếp nên ngày càng nhiều em có được vốn tiếng Việt tốt khi vào lớp, chất lượng học tập cũng tăng lên qua mỗi năm; đặc biệt ở đây không còn hiện tượng học sinh nghỉ học và bỏ học giữa chừng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Học Phần Hệ Thống Hóa Những Kiến Thức Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Mông Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Mông
  • Khai Giảng Lớp Học Tiếng H’mông Khóa 1
  • Lớp Học Tiếng H’mông Khóa 1 Diễn Ra Thành Công Tốt Đẹp
  • Sử Thi “đẻ Đất Đẻ Nước” Của Người Mường Với Sự Tích Trống Đồng
  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 5 Môn Tiếng Việt Trường Tiểu Học Mường Mìn, Thanh Hóa Năm 2022
  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Trong Nghiên Cứu Dân Tộc Học Của Việt Nam
  • Gs. Phan Hữu Dật: Đường Đến Với Dân Tộc Học
  • Dân Tộc Học Là Gì?
  • Dân Tộc Học: What It Is Và Như Thế Nào Để Làm Điều Đó ·
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Dân Tộc Học Là Gì?
  • 1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

    Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

    Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

    So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

    Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

    Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

    (Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

    Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

    + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

    + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

    Một số định nghĩa khác về dân tộc:

    Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

    Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

    Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

    Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

    Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

    Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

    Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

    1

    Công tác dân tộc

    Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Nghị định 05/2011/NĐ-CP

    6

    Dân tộc thiểu số tại chỗ

    Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

    15/2008/QĐ-UBND

    (Hết hiệu lực)

    Tỉnh Đắk Lắk

    7

    bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

    9

    Mạng Ủy ban Dân tộc

    Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

    10

    Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

    là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

    11

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

    12

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

    Tỉnh Đắk Lắk

    13

    Vùng dân tộc thiểu số

    Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

    Nguồn: Thư viện pháp luật

    3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

    Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

    – Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

    – Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

    – Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

    – Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

    4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

    Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

    – Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    – Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    – Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

    – Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    – Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Cách Học Từ Vựng Tiếng Trung Dễ Nhớ
  • Kinh Nghiệm Học Từ Mới Tiếng Trung
  • Bộ Combo Tự Học Tiếng Trung Cho Người Mới Bắt Đầu + Tự Học Từ Vựng Tiếng Trung Theo Chủ Đề (Tặng Kèm Bookmark Cr)
  • Các Cách Học Từ Vựng Anh Văn Chủ Đề Bạn Bè Cho Trẻ Nhỏ
  • Cách Học Tốt Từ Vựng Anh Văn 9
  • Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái
  • Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Chuyện Về Người Cán Bộ Tâm Huyết Truyền Dạy Ngôn Ngữ Và Chữ Viết Tiếng Thái
  • Chuyên Đề Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc
  • Để Ngôn Ngữ Mường Không “rơi Rụng”
  • Đối với đa số cán bộ, công chức (CBCC) đang công tác ở vùng dân tộc, miền núi vẫn còn gặp không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, một trong những nguyên nhân là không biết tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) từ đó dẫn đến việc chưa am hiểu nhiều về phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của đồng bào. Những hạn chế trên đã một phần ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Trước thực trạng trên, ngày 9-11-2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC công tác tại các vùng dân tộc, miền núi. Thực hiện chỉ thị, các huyện miền núi trong tỉnh đã triển khai và thực hiện tốt công tác này. Tại huyện Quan Hóa, trong nhiều năm qua huyện thường xuyên ban hành kế hoạch, tổ chức mở các lớp học tiếng, chữ viết tiếng dân tộc cho CBCC. Theo đó, huyện đã giao cho Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Dạy nghề phối hợp với Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Hồng Đức) tổ chức được hàng chục lớp. Riêng năm 2022 đã đào tạo cho 60 học viên học tiếng và chữ viết của đồng bào dân tộc Thái. Trong thời gian 3 tháng, các học viên được học tập, rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Thái. Thông qua lớp học, đã giúp cho đội ngũ cán bộ hiểu được phong tục tập quán và có điều kiện thuận lợi hơn trong việc giao tiếp, làm việc và gần gũi với nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện.

    Tại huyện Lang Chánh, năm 2022 cũng đã tổ chức một lớp học tiếng, chữ viết dân tộc Thái cho 50 học viên là CBCC trong huyện. Kết thúc khóa học với thời gian 50 ngày, các học viên đạt yêu cầu được cấp chứng chỉ, bảo đảm sau khóa học, các học viên có thể nghe, nói, đọc, viết được tiếng dân tộc Thái.

    Ông Ngô Xuân Sao, Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Hồng Đức) cho biết: Trong những năm qua, đơn vị đã phối hợp thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng và chữ viết DTTS cho CBCC trên địa bàn các huyện miền núi của tỉnh. Giai đoạn từ năm 2013 – 2022 đã tổ chức được gần 20 lớp dạy tiếng Mông, tiếng Thái, tiếng Lào cho CBCC từ huyện đến xã. Ngoài ra, trung tâm còn phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo giảng dạy tiếng dân tộc cho hàng trăm giáo viên các cấp hiện đang công tác tại vùng đồng bào DTTS. Việc mở lớp, không chỉ để CBCC hiểu về ngôn ngữ, chữ viết và văn hóa đồng bào dân tộc, mà còn góp phần giữ gìn, bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết, phát huy và làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống, mở rộng giao lưu, quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa dân tộc các huyện miền núi xứ Thanh nói riêng, trên địa bàn tỉnh nói chung.

    Bài và ảnh: Gia Bảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Những năm qua, Sở GD&ĐT luôn chú trọng tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non là người dân tộc thiểu số. Thông qua nhiều hoạt động thiết thực, học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số hứng thú hơn khi tới trường, đồng thời, việc giao tiếp của các em cũng tự tin, dễ dàng hơn.

    Tiết học tiếng Việt của học sinh lớp 5, Trường TH&THCS Đại Dực, xã Đại Dực, huyện Tiên Yên.

    Tại huyện Tiên Yên, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non được thực hiện rất tích cực. Phòng GD&ĐT huyện đã chỉ đạo cho các trường tiểu học, mầm non trên địa bàn tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi tự tạo, tận dụng các nguyên vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền phù hợp với địa phương làm học liệu, phương tiện dạy học. Đồng thời chỉ đạo xây dựng môi trường tiếng Việt phong phú, hấp dẫn học sinh tham gia học tập, đặc biệt phát huy hiệu quả góc sách, truyện.

    Ông Nguyễn Văn Ty, Trưởng Phòng GD&ĐT huyện Tiên Yên, cho biết: “Phòng GD&ĐT huyện còn quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dạy học sinh vùng dân tộc thiểu số về các phương pháp, kỹ thuật dạy lớp có học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số. Từ đó, các thầy, cô phải xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình phù hợp với đối tượng trẻ. Mặt khác, Phòng còn động viên khuyến khích giáo viên học tiếng dân tộc của học sinh, trẻ mầm non.

    Cụ thể, đối với cấp học mầm non, huyện Tiên Yên đã xây dựng, tổ chức thực hiện chuyên đề “Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số”, xây dựng các tiết mẫu, trao đổi, chia sẻ về phương pháp tăng cường tiếng Việt, triển khai Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”. Đối với cấp tiểu học, với sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT huyện, 100% trường đã thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số đảm bảo đạt chuẩn năng lực tiếng Việt của mỗi lớp, như: Giãn thời lượng trong môn Tiếng Việt lớp 1; tổ chức trò chơi học tập, hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, làm truyện tranh, cây từ vựng; sử dụng hiệu quả phương tiện hỗ trợ kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, thư viện thân thiện; tổ chức ngày hội văn hoá đọc, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em dành cho học sinh dân tộc thiểu số”…

    Học sinh Trường TH&THCS Hà Lâu tập thể dục giữa giờ.

    Không riêng huyện Tiên Yên, qua tìm hiểu chúng tôi được biết, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số còn được thực hiện ở nhiều địa phương, như: Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hoành Bồ, Hải Hà… Các địa phương này đã đẩy mạnh xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số theo các tiêu chí, trong đó quan tâm xây dựng thư viện thân thiện, phù hợp để khuyến khích các bậc cha mẹ cùng đọc sách với trẻ tại trường, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho trẻ. Cùng với đó, nhiều địa phương cũng chú trọng đến công tác xã hội hóa để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số; quan tâm phát triển mô hình nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ làm cầu nối ngôn ngữ cho trẻ tại các điểm trường vùng khó khăn, hẻo lánh.

    Mặt khác, một số địa phương còn tích cực triển khai thực hiện chuyên đề: Tăng cường nghe, nói tiếng Việt cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non có đông trẻ em người dân tộc thiểu số. Không chỉ vậy, nhiều địa phương còn quan tâm đến việc bố trí giáo viên là người dân tộc thiểu số tại địa phương, giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục vùng dân tộc thiểu số…

    Theo đồng chí Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD&ĐT, hiện nay, nhận thức của cộng đồng và phụ huynh về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số đã được nâng lên đáng kể. Với trẻ mầm non, cơ bản các em đều có khả năng nắm bắt ngôn ngữ tiếng Việt, thường xuyên giao tiếp bằng tiếng Việt, mạnh dạn, tự tin, có kiến thức cơ bản để bước vào lớp 1. Đối với bậc tiểu học, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh từ lớp 2 đến lớp 5 có nhiều tiến bộ hơn, đa số các em có khả năng nghe, nói tốt, đáp ứng giao tiếp trong sinh hoạt và yêu cầu học tập.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100