Hiện Tượng Học Chay, Học Vẹt Trong Học Sinh Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Phi Công Trung Quốc ‘học Vẹt’ Tiếng Anh Để Lái Máy Bay
  • 4 Trở Ngại Khiến Tiếng Anh Chuyên Ngành Trở Nên “khó Nuốt”
  • Môn Chuyên Ngành Tiếng Anh Là Gì? Có Thật Sự Quan Trọng Với Bạn?
  • Con Gái Nên Học Ngành Gì Dễ Xin Việc Nhất Sau Khi Ra Trường
  • Con Gái Nên Học Ngành Gì Dễ Xin Việc Nhất Hiện Nay?
  • 1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

    2. Dàn bài chi tiết

    a. Mở bài

      Giới thiệu vấn đề nghị luận: Nhiệm vụ của nền giáo dục là trang bị cho học sinh những tri thức nền tảng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt đẹp, kiện toàn năng lực, cho học sinh sẵn sàng bước vào làm việc trong cuộc sống. Sẽ không có thành công nếu không gắng sức học tập. Thế nhưng, tình trạng học sinh học chay, học vẹt, học đối phó vẫn còn phổ biến trong các trường học nước ta.

    b. Thân bài

    • Giải thích
      • Học chay là gì?
          Học chay là học lí thuyết suông không gắn với thực hành rèn luyện kĩ năng, kiện toàn năng lực của học sinh.
      • Học vẹt là gì?
          Học vẹt là học như con vẹt, chỉ biết nhai lại, bắt chước, lặp lại một cách vụng về mà không hiểu gì.
    • Hiện trạng học chay, học vẹt của học sinh hiện nay
      • Hầu hết ở các trường học, việc dạy học giáo viên thiên về trình bày bài giảng, học sinh ghi chép, ít được luyện tập, thực hành, thực tế. Học sinh vẫn còn ghi chép nhiều, ít giờ thực hành, trao đổi.
      • Số phòng thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu thiếu nghiêm trọng.
      • Các hoạt động ngoài giờ chưa thật sự được chú ý nâng cao hiệu quả giáo dục. Học sinh vẫn học chay, học vẹt, lý thuyết không gắn với thực hành.
      • Hầu hết học sinh học để lấy điểm, học để thi, học vì bằng cấp, không xem trọng việc rèn luyện kĩ năng.
      • Giáo viên truyền đạt một chiều, giờ học mang tính tiếp nhận thụ động cao.
      • Có thể nói, tại các trường học hiện nay, học sinh không còn hứng thú học tập, nhất là các môn khoa học xã hội, học bài nhiều.
    • Nguyên nhân khiến học sinh học chay học vẹt
      • Đầu tiên là do chương trình nước ta nặng về dạy học lý thuyết, ít thực hành khắc sâu kiến thức, hình thành kĩ năng.
      • Cơ sở vật chất tại các trường học chưa đảm bảo, không thể đáp ứng được yêu cầu học tập, thực hành, nghiên cứu của học sinh.
      • Lực lượng giảng dạy còn khá thụ động, chưa thực sự bắt kịp sự thay đổi của thời đại.
      • Tâm lí học để lên lớp, học để lấy bằng cấp của học sinh, phụ huynh và toàn xã hội khiến cho học sinh chỉ học đối phó, không thật sự đam mê trong học tập, rèn luyện và nghiên cứu.
      • Học sinh lười biếng, đua đòi lối sống thời thượng, lơ là trong học tập.
      • Nội quy và các biện pháp kỉ luật trong trường học chưa thật sự nghiêm khắc, không có tính răn đe học sinh, từ đó không thể bắt buộc các em học tập và rèn luyện hiệu quả.
    • Hậu quả của lối học chay, học vẹt
      • Học sinh học nhiều, học căng thẳng nhưng không hiểu bài, chất lượng giáo dục giảm sút nghiêm trọng.
      • Học sinh học chay, học vẹt, làm các giờ học thụ động, nhàm chán tăng cao càng khiến cho học sinh chán nản, rời bỏ việc học.
      • Phòng thực hành, phòng thí nghiệm thiếu dụng cụ khiến cho các giờ thực hành diễn ra chậm, thiếu chính xác, việc rèn luyện kĩ năng không đạt hiệu quả cao.
      • Học sinh lên lớp, ra trường nhưng năng lực không tương xứng, càng học càng thấy khó. Số học sinh bỏ học hằng năm tăng cao.
      • Chất lượng giáo dục thấp kém, việc đào tạo và giáo dục con người không đạt hiệu quả cao, con người khó tìm việc làm, bất mãn với cuộc sống, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội.
    • Giải pháp khắc phục học chay học vẹt
      • Xây dựng chương trình giáo dục tiên tiến, bắt kịp với tri thức của thế giới đồng thời phù hợp với tình hình dạy và học ở nước ta.
      • Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học đảm bảo được yêu cầu học tập, thực hành của học sinh. Đặc biệt là các phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, phòng vi tính,…
      • Kiên quyết chống dạy chay, học chay, học vẹt trong các trường học.
      • Bồi dưỡng, nâng cao trình độ độ ngũ giáo viên, đảm bảo năng lực giảng dạy tốt.
      • Khuyến khích học sinh thi đua học tập. Thay đổi phương pháp giảng dạy, quy chế tuyển sinh và thi cử. Gia đình và xã hội cần khuyến khích học sinh say mê học tập. Xác định mục tiêu học tập rõ ràng, hướng đến lý tưởng cao đẹp, phục vụ đất nước.
    • Bài học nhận thức
      • Nói không với hiện tượng dạy chay, học chay, học vẹt.
      • Xây dựng cách học lành mạnh, tiến bộ, hiệu quả, hướng đến rèn luyện bản thân, kiện toàn năng lực, sẵn sàng làm việc xây dựng sự nghiệp cho bản thân, xây dựng quê hương đất nước.

    c. Kết bài

      Không ai sinh ra đã là một thiên tài. Con người thành công là bởi biết kiên trì rèn luyện và học tập đúng cách. Học là để nhận diện tri thức, còn thực hành mới thực sự đem lại cho ta trí tuệ, sự sáng suốt và thành công.

    Bài văn mẫu

    Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày về hiện tượng học chay, học vẹt trong giới học sinh hiện nay.

    Nhiệm vụ của nền giáo dục là trang bị cho học sinh những tri thức nền tảng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt đẹp, kiện toàn năng lực, cho học sinh sẵn sàng bước vào làm việc trong cuộc sống. Sẽ không có thành công nếu không gắng sức học tập. Học tập là sự nghiệp lâu dài, cần có phương pháp và cách thức phù hợp để có thể tiếp thu được kiến thức một cách nhanh chóng, có chọn lọc nhất. Tuy nhiên bên cạnh những người có phương pháp học khoa học, hiệu quả thì vẫn còn những người học vẹt, học chay, học tủ, học đối phó. Đây là những phương pháp khiến cho thành tích học tập của bạn tụt dốc trầm trọng.

    Học chay là học lí thuyết suông không gắn với thực hành rèn luyện kĩ năng, kiện toàn năng lực của học sinh.

    Học vẹt chính là học không có khoa học, học tràng giang đại hải, học kiểu bắt chước, nhại lại nhưng thực chất của vấn đề lại không hiểu được. Kiểu học này sẽ khiến cho bạn học nhanh quên, hổng kiến thức nhiều.

    Vậy hiện tượng học chay, học vẹt hiện nay diễn ra như thế nào? Hầu hết ở các trường học, việc dạy học giáo viên thiên về trình bày bài giảng, học sinh ghi chép, ít được luyện tập, thực hành, thực tế. Số phòng thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu thiếu nghiêm trọng. Học sinh vẫn còn ghi chép nhiều, ít giờ thực hành, trao đổi. Các hoạt động ngoài giờ chưa thật sự được chú ý nâng cao hiệu quả giáo dục. Học sinh vẫn học chay, học vẹt, lý thuyết không gắn với thực hành. Hầu hết học sinh học để lấy điểm, học để thi, học vì bằng cấp, không xem trọng việc rèn luyện kĩ năng. Giáo viên truyền đạt một chiều, giờ học mang tính tiếp nhận thụ động cao. Có thể nói, tại các trường học hiện nay, học sinh không còn hứng thú học tập, nhất là các môn khoa học xã hội, học bài nhiều.

    — Để xem được đầy đủ tài liệu,mời quý thầy cô và các em vui lòng đăng nhập vào HOC247 để dowload tài liệu về máy —

    Bên cạnh đó, chúng ta cần nói không với hiện tượng dạy chay, học chay, học vẹt. Xây dựng cách học lành mạnh, tiến bộ, hiệu quả, hướng đến rèn luyện bản thân, kiện toàn năng lực, sẵn sàng làm việc xây dựng sự nghiệp cho bản thân, xây dựng quê hương đất nước.

    Không ai sinh ra đã là một thiên tài. Con người thành công là bởi biết kiên trì rèn luyện và học tập đúng cách. Học là để nhận diện tri thức, còn thực hành mới thực sự đem lại cho ta trí tuệ, sự sáng suốt và thành công. Học chay vè học vẹt là phương pháp học nên tránh xa. Bạn cần phải ý thức được điều này để lựa chọn cho mình phương pháp hữu ích hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Hiện Tượng Học Chay, Học Vẹt Của Học Sinh Hiện Nay
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Học Vẹt Và Học Tủ
  • Tình Trạng “học Tủ” “học Vẹt” Của Nhiều Học Sinh, Bạn Đã Từng?
  • Phi Công Trung Quốc “học Vẹt” Tiếng Anh Để Lái Máy Bay
  • Quy Định Về Giảng Dạy Các Học Phần Bằng Tiếng Anh
  • Giáo Viên Sốc Với Tiếng Lóng Của Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Lóng Của Học Sinh Mỹ
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này Tài Liệu Học Tập
  • Học Sinh, Sinh Viên Trong Vòng Xoáy Ngôn Ngữ “biến Dạng”
  • Tiếng Lóng Của Tuổi Mới Lớn
  • Với cách “hành văn” của giới teen hiện nay, khó có cha mẹ nào hiểu được vì tiếng lóng của một số bạn trẻ bây giờ không theo bất cứ qui luật, nguyên tắc nào.

    Chỉ mới bước vào đầu năm học mà không ít giáo viên dạy văn các trường PTTH đã ngao ngán trước “tài” sáng tác văn chương bằng tiếng lóng của một số học sinh. Dường như cách xài tiếng lóng của giới trẻ hiện nay đang là mốt.

    Đây là kết quả của thói quen blog, chat trên mạng, nhắn tin qua điện thoại di động mà nếu gia đình và nhà trường không kịp ngăn ngừa thì rất dễ dẫn đến những hệ quả xấu trong lối suy nghĩ và ứng xử của các em.

    Với cách “hành văn” của giới teen hiện nay, khó có cha mẹ nào hiểu được vì tiếng lóng của tuổi trẻ bây giờ không theo bất cứ qui luật, nguyên tắc nào. Chẳng hạn một bạn chat như sau: “Hum ni hok bit lèm j, đg ngồi pùn. Mi đến chỏ đéy rùi đợi tau” (hôm nay không biết làm gì, đang ngồi buồn. Mày đến chỗ đấy rồi đợi tao).

    Đọc dòng chữ này nếu nắm được qui tắc xài tiếng lóng của tuổi teen là giữ nguyên chữ cái đầu rồi nói chệch đi các nguyên âm, phụ âm đi sau (như “hok” là hông, “bit” là biết…) thì sau đó phụ huynh cũng có thể giải mã được nội dung câu chữ, nhưng đến khi các bạn xài tiếng lóng bằng tiếng Anh thì cha mẹ thật sự “bó tay”.

    Có bạn “oánh” hàng chữ như sau: “No have water mother”. Câu này được giải nghĩa theo kiểu dịch từng từ, nghĩa là: “Chẳng có nước m. gì”(!). Còn với câu “Give me beg a word soldier black peace” thì phải hiểu câu đó là “Cho tôi xin một chữ binh huyền (bình) yên”! Đến mức này thì bất cứ vị phụ huynh nào cũng phải toát mồ hôi hột, bởi mớ tiếng lóng quá “siêu hiện đại” của tuổi teen thế hệ 9X.

    So với những tiếng lóng mà teen thế hệ 8X hay dùng như Like afternoon – thích thì chiều, No four go-vô tư đi, Know die no – biết chết liền… thì quả 8X chưa bõ bèn gì so với 9X. Tuy nhiên, tiếng lóng của tuổi teen không chỉ dừng lại ở chừng mực đó.

    Để hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ, các teen thỏa thuận những qui ước ngầm như đổi chữ cái tiếng Việt sang con số (A=1, B=2, C=3…), thay chữ bằng biểu tượng, thậm chí viết tắt cả tiếng Anh như “hello (xin chào)” thì viết thành số “2”, U là viết tắt của chữ you (anh), “G9” là viết tắt chữ “good night”…

    Ở giới trẻ hiện nay, rõ ràng đây là một hiện tượng không hay trong giao tiếp vì nó không làm phong phú thêm kho từ vựng, mà còn khiến tiếng Việt bị tối tăm!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Học Anh Cấm Dùng Tiếng Lóng
  • Cả Làng Nói ‘tiếng Lóng’ Độc Đáo Nhất Ở Hà Nội
  • Các Khái Niệm Cơ Bản
  • Một Số Thuật Ngữ Pháp Lý (Anh
  • Phân Tích Tư Tưởng Và Tình Cảm Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Tiếng Lóng Của Học Sinh Mỹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này Tài Liệu Học Tập
  • Học Sinh, Sinh Viên Trong Vòng Xoáy Ngôn Ngữ “biến Dạng”
  • Tiếng Lóng Của Tuổi Mới Lớn
  • Từ Lóng Dùng Trong Lớp Học Tác Động Đến Sinh Viên Như Thế Nào.
  • Tin tức du học Mỹ

    Sự kiện: Du học, du học Mỹ

    Hiện nay, việc học sinh thường sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội và tin nhắn để giao tiếp với nhau đã trở nên phổ biến tại trường học khắp cả nước Mỹ.

    Ông Terry Wood, một giáo viên ngoại ngữ trường trung học ST. Mary’s Ryken ở thị trấn Leonard, Maryland đã nhận thấy “sự xuống cấp trầm trọng” trong các hành văn của học sinh mình là do ảnh hưởng từ các trang mạng xã hội Facebook, Tweeting, và công nghệ nhắn tin. Là một giáo viên thâm niên 10 năm trong nghề, Ông nhận thấy rằng ” Hiện nay học sinh không muốn sử dụng từ viết hoa trong văn bản hay dùng dấu chấm câu thậm chí trong cả thư điện tử gửi thầy cô giáo hay trong bài tập gửi giáo viên, các chữ dài hơn một âm tiết thì giờ viết tắt thành một”

    Theo cuộc khảo sát với 700 học sinh từ lứa tuổi 12-17 của dự án nghiên cứu “Chỗ đứng của Internet và đời sống người Mỹ”, 85% trả lời là sử dụng công cụ điện tử để giao tiếp qua tin nhắn hay các trang mạng xã hội. Lớn lên trong thế giới công nghệ, học sinh trung học không ý thức được họ đang sử dụng thứ ngôn ngữ bị cắt gọt quá nhiều trong lớp học.

    Một giáo viên thâm niên ở trường Maine South High School ở Park Ridge, Alice Sakowicz cho rằng “Học sinh thậm chí không nhận ra họ đang làm gì.”. Khi chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội chúng ta thường không nghĩ nhiều về vấn đề phải đánh vần chữ như thế nào cho đúng, và dần dần, chúng được thay thế trong lớp học một cách tự nhiên. Trên thực tế, theo nghiên cứu đã đươc báo cáo, đến 64% học sinh đều sử dụng các từ tiếng lóng địa phương khi nhắn tin hay khi dùng mạng xã hội. Nhưng vấn đề không kết thúc ở đây vì ngay cả các giáo viên trẻ cũng nhìn thấy điều đó nhưng gần như “lờ” đi. Bà cho rằng: cũng không phải các em thích nó mà dường như mong đợi điều đó. Những giáo viên nhiều tuổi và không mấy quen với các thiết bị truyền thông thì thực sự cảm thấy khó chịu với những biến đổi ngôn ngữ theo chiều hướng này.

    Trong khi một số người biện hộ trào lưu này đơn giản là cuộc cách mạng về ngôn ngữ, thì giáo sư Chad Dion Lassiter chuyên nghiên cứu về quan hệ chủng tộc của trường ĐH Pensylvania, thi xem như đó là ” sự xuống dốc của văn hoá”. Lassiter hiện đang phụ trách chương trình học thuật cho học sinh trung học ở Philadelphia và ông nhận thấy “các chuẩn mực giao tiếp đang bị phá vỡ”. Ông cho rằng “Chúng ta hãy nhìn vào một số kỹ năng viết và điều tôi nhận thấy là việc giao tiếp có vấn đề là do nó bị giới hạn quá nhiều. Vấn đề là ở người lớn, chúng ta nên hướng người lớn cùng làm việc với thế hệ trẻ và trông chừng chúng một cách có trách nhiệm.

    Mr Lassiter cho rằng khi thời điểm việc sử dụng tiếng lóng ngày càng phổ biến trong giới học đường thì các trường đại học đang phải tiếp nhận những bài thi đầu vào mà họ chưa từng thấy trước đây.

    Ông còn nói rằng, nhiều đồng nghiệp chia sẻ với tôi là họ gặp phải rất nhiều bài viết của học sinh thấm đẫm văn hoá công nghệ, lược bỏ câu từ, văn viết như văn nói. Sau khi đọc được vài câu đầu, họ đã gạt sang một bên.

    Bà Martha Allman, trưởng khoa đầu vào trường ĐH Wake Forest nói: học sinh cần được nhấn mạnh rằng thời điểm đang học trung học là nền tảng thể hiện khả năng giao tiếp trong tương của họ ở trường ĐH. Tôi cảm nhận là hoc sinh rõ ràng nhận thấy được sự khác biệt giữa việc giao tiếp xã hội và việc viết bài luận ở truờng ĐH.

    Có một biện pháp không chắc chắn lắm là liệu các giảng viên đại học có chấp nhận sự thay đổi xã hội về ngôn ngữ này hay là những sinh viên tương lai cần phải suy nghĩ và quan sát thứ ngôn ngữ mà họ sử dụng. Các trường ĐH sẽ phải tiếp tục có trách nhiệm tìm ra được sự thích ứng, hài hoà trong quá trình tiếp nhận học sinh. Giáo dục là sự thích ứng đến một trình độ nhất định. Một học sinh thông minh, có giáo dục tốt sau khi rời trường sẽ có khả năng thích ứng cao. Em nào không thích ứng được sẽ không được chấp nhận.

    Một khi quan điểm, lập trường của các giảng viên đại học về vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng lóng trong học sinh còn bó hẹp, thì tương lai chưa thể có gì rõ ràng trong khi đó ngày càng nhiều thế hệ học sinh lớn lên trong thế giới công nghệ tràn ngập ngôn ngữ tiếng lóng.

    Bà Sakowicz, giáo viên trường trung học cho hay, học sinh lớp 4 lớp 5 đã sử dụng nhắn tin, tham gia facebook hay Twitter, lên trung học thì càng tăng dần lên. Đối với học sinh, sinh viên trong tương lai, họ lớn lên cùng với những ngôn ngữ này.

    Du học, du học Mỹ, thủ tục du học, học bổng du học, trường quốc tế

    Đăng ký nhận thông tin du học qua email tại ô bên dưới

    Kênh Tuyển Sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Viên Sốc Với Tiếng Lóng Của Học Sinh
  • Trường Học Anh Cấm Dùng Tiếng Lóng
  • Cả Làng Nói ‘tiếng Lóng’ Độc Đáo Nhất Ở Hà Nội
  • Các Khái Niệm Cơ Bản
  • Một Số Thuật Ngữ Pháp Lý (Anh
  • Từ Lóng Dùng Trong Lớp Học Tác Động Đến Sinh Viên Như Thế Nào.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Tiếng Lóng Trong Học Đường Mỹ
  • Vấn Đề Ngôn Ngữ Chat Trong Học Đường
  • Cần Thơ: Không Bắt Buộc Học Sách Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Gia Sư Tiếng Anh Lớp 1 Gia Sư Dạy Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 1
  • Có Một Giọng Trung Chuẩn Hơn Hà Nội, Huế, Sài Gòn?
  • SSDH – Hiện nay, việc học sinh thường sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội và tin nhắn để giao tiếp với nhau đã trở nên phổ biến tại trường học khắp cả nước.

    Các cụm từ tiếng dùng tiếng lóng như là IDK (i donnt know), SMH (shaking my head), và BTW (By the way) được sử dụng phổ biến trong các bài tập của học sinh, sinh viên. điều này đã làm cho một số giáo viên lo ngại không biết làm cách nào để hạn chế những vấn đề đang dấy lên gần đây.

    Ông Terry Wood, một giáo viên ngoại ngữ trường trung học ST. Mary’s Ryken ở thị trấn Leonard, Md đã nhạn thấy “sự xuống cấp trầm trọng” trong các hành văn của học sinh mình là do các mạng xã hội Facebook, Tweeting, và công nghệ nhắn tin. Là một giáo viên thâm niên 10 năm trong ngề , Ông nhận thấy rằng ” Hiện nay học sinh không muốn sử dung từ viết hoa trong văn bản hay dùng dấu chấm câu thậm chí trong cả thư điện tử gửi thầy cô giáo hay trong bài tập gửi giáo viên, các chữ dài hơn một âm tiết thì giờ viết tắt thành một”

    Theo cuộc khảo sát 700 học sinh từ lứa tuổi 12-17 của dự án nghiên cứu “Chỗ đứng của Internet và đời sống người Mỹ”, 85% trả lời là sử dụng công cụ điện tử để giao tiếp , qua tin nhắn hay các trang mạng xã hội. Lớn lên trong thế giới công nghệ, học sinh trung học không ý thức được họ đang sử dụng thứ ngôn ngữ bị cắt gọt quá nhiều trong lớp học.

    Một giáo viên thâm niên ở trường Maine South High School ở Park Ridge, Alice Sakowicz cho rằng ” Học sinh thậm chí không nhận ra họ đang làm gì.” ” khi chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội chúng ta thường không nghĩ nhiều về vấn đề phải đánh vần chữ như thế nào cho đúng, và dần dần, chúng được thay thế trong lớp học một cách tự nhiên.

    Trên thực tế , theo nghiên cứu đã đươc báo cáo, đến 64% học sinh đều sử dụng các từ tiếng lóng địa phương khi nhắn tin hay khi dung mạng xã hội. Nhưng vấn đề không kết thúc ở đây vì ngay cả các giáo viên trẻ cũng nhìn thấy điều đó nhưng gần như “cứ để như vậy”. Bà cũng cho rắng : Cũng không phải các em thích mà hồ như mong đợi điều đó. Những giáo viên nhiều tuổi và không mấy quen với các thiết bị truyền thông thì thực sự cảm thấy khó chịu với những biến đổi ngôn ngữ theo chiều hướng này.

    Trong khi một số người biện hộ trào lưu này đơn giản là cuộc cách mạng về ngôn ngữ, thì giáo sư Chad Dion Lassiter chuyên nghiên cứu về quan hệ chủng tộc của trường ĐH Pensylvania , thi xem như đó là ” sự xuống dốc của văn hoá”. Lassiter hiện đang phụ trách chương trình học thuật cho học sinh trung học ở Philadelphia và ông nhận thấy ” các chuẩn mực giao tiếp đang bị phá vỡ”. Ông cho rằng “Chúng ta hãy nhìn vào một số kỹ năng viết và điều tôi nhận thấy là việc giao tiếp có vấn đề là do nó bị giới hạn quá nhiều. Vấn đề là ở người lớn. Chúng ta nên hướng người lớn cùng làm việc với thế hệ trẻ và trông chừng chúng một cách có trách nhiệm.

    Mr Lassiter cho rằng trong thời điểm, khi việc sử dụng tiếng long ngày càng phổ biến ở các trường lớp , các trường đại học đang phải tiếp nhận nhũng bài thi đầu vào mà họ chưa từng thấy trước đây.

    Ông còn bảo rằng, nhiều đồng nghiệp chia sẻ với tôi là họ gặp phải rất nhiều bài viết của học sinh thấm đẫm văn hoá công nghệ, lược bỏ câu từ , văn viết như văn nói. Sau khi đọc được vài câu đầu, họ gạt sang một bên.

    Bà Martha Allman, trưởng khoa đầu vào trường ĐH Wake Forest nói rằng : Hoc sinh được nhấn mạnh khi đang học trung học đây làc cách họ thể hiện khả năng giao tiếp ở trường ĐH. Tôi cảm nhận là hoc sinh sinh viên rõ rang nhận thấy được sự khác biệt giữa việc giao tiếp xã hội và việc viết bài luận ở truờng ĐH.

    Có một biện pháp không chắc chắn lắm là liệu các giảng viên đại học có chấp nhận sự thay đổi xã hội về ngôn ngữ này hay là những sinh viên tương lai cần phải suy nghĩ và quan sát thứ ngôn ngữ mà họ sử dụng. Các trường ĐH sẽ phải tiếp tục có trách nhiệm tìm ra được sự thích ứng, hài hoà trong qúa trình tiếp nhận học sinh. Giáo dục là sự thích ứng đến một trình độ nhất định. Một học sinh thông minh, có giáo dục tốt sau khi rời trường sẽ có khả năng thích ứng cao. Em nào không thích ứng được sẽ không được chấp nhân.

    Một khi quan điểm, lập trường của các giảng viên đại học về vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng lóng trong học sinh con bó hẹp, thì tương lai chưa thể có gì rõ rang trong khi đó ngày càng nhiều thế hệ học sinh lớn lên trong thê giới công nghệ tràn ngập ngôn ngữ tiếng long

    Bà Sakowicz, giáo viên trường trung học cho hay, học sinh lớp 4 lớp 5 đã sử dụng nhắn tin, tham gia facebook hay Twitter, lên trung học thì càng tăng dần lên. Đối với học sinh, sinh viên trong tương lai, họ lớn lên cùng với những ngôn ngữ này.

    Nguồn: education.usnews.rankingsandreviews

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Lóng Của Tuổi Mới Lớn
  • Học Sinh, Sinh Viên Trong Vòng Xoáy Ngôn Ngữ “biến Dạng”
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này Tài Liệu Học Tập
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này
  • Tiếng Lóng Của Học Sinh Mỹ
  • Vấn Đề Đạo Đức Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Tài Liệu Tham Khảo Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh
  • Những Câu Nói Về Đạo Đức, Giáo Dục Bằng Tiếng Anh Thấm Thía Nhất!
  • Tài Khoản Elsa Speak Pro 9/2020
  • Làm Sao Để Học Giao Tiếp Hiệu Quả Sau Khi Tải Elsa Speak
  • Về vấn đề đạo đức của HS hiện nay (nói bao quát là đạo đức thanh thiếu niên – TTN), dư luận xã hội cho rằng: HS “chưa ngoan” là do “nhiều gia đình mải kiếm sống, thiếu sự quan tâm đến con, trong khi nhà trường chưa phải là chỗ dựa tinh thần cho HS”; và do môn giáo dục công dân (GDCD – tức môn giáo dục đạo đức) chỉ là môn học phụ.

    Hai cách hiểu như thế về nguyên nhân khiến HS “chưa ngoan” – theo tôi – là không khoa học và chưa nhìn thẳng và nhìn sâu vào hiện thực đời sống xã hội, mà chỉ là sự nhìn nhận vấn đề một cách quá đơn giản, hời hợt, sơ sài, né tránh những gì mà họ cho rằng “phạm húy”(?).

    Như chúng ta đã chứng kiến thường ngày, qua các phương tiện truyền thông và nhận định của Bộ Công an: Tội phạm lứa tuổi TTN nói chung và tội phạm trong HSSV nói riêng đang gia tăng nghiêm trọng và có nhiều kẻ phạm tội rất man rợ, gây kinh hoàng cho xã hội và tạo tâm lý thất vọng về “một bộ phận không nhỏ” TTN đang sống rất buông thả, lười biếng học hành và lao động, yêu đương bừa bãi, ham hưởng thụ, thích quậy phá, coi thường luật pháp (chứ không phải là không biết gì về pháp luật!), sẵn sàng làm bất cứ việc gì để có tiền và ăn chơi – kể cả cướp của, giết người (thậm chí giết cả ông, bà, cha, mẹ…)!!! Song, nguyên nhân chính của tình trạng suy đồi đạo đức của TTN và HSSV là do đâu? Điều này lâu nay cán bộ các cơ quan có trách nhiệm, các chuyên gia tâm lý – giáo dục và các phương tiện truyền thông còn chưa bắt mạch được đúng; còn né tránh khi giải thích nguyên nhân và chưa nhìn sâu, nhìn thẳng vào vấn đề.

    Trước hết, nói về môn GDCD. Đành rằng môn học này, chương trình và số tiết dạy (ở tiểu học và THCS) không nhiều bằng các môn văn, toán, nội dung SGK dù chưa hay, biên soạn chưa tốt, nhưng cũng dạy cho HS những điều cơ bản về đạo đức công dân, về lối sống, cách đối nhân xử thế đúng mực. Nhiều GV dạy môn GDCD có thể dạy chưa giỏi, chưa hay, ít vận dụng những điều nêu trong SGK với thực tế đời sống; nhưng nhìn chung, họ cũng chuyển tải được nội dung SGK đến với HS. Ở THCS và THPT, HS còn phải học các môn khác, nhiều tiết (giờ dạy) hơn, như văn, toán, lý, hóa, sử, sinh, địa, ngoại ngữ… Suy cho cùng, môn học nào cũng dạy HSSV những điều đúng đắn, tốt đẹp, đều hướng các em đến với chân – thiện – mỹ, đặc biệt là các môn KHXH&NV. Thực tế môn lịch sử nhiều năm là môn thi tốt nghiệp THPT, nhưng tại sao HS học rất kém và cũng “chưa ngoan”? Nói khái quát: Nhà trường (cả xưa và nay) không bao giờ xa rời mục đích nhân văn và nhân bản khi truyền thụ kiến thức cho người học. HSSV có tiếp thụ được kiến thức hay không, có trở thành người tốt hay không, còn tùy thuộc vào môi trường gia đình và xã hội. Cho nên, không thể nhận định rằng: Vì môn GDCD (môn đạo đức) chỉ là môn phụ, ít giờ học, dạy không đạt chất lượng, không thi tốt nghiệp, nên HS “chưa ngoan”!

    Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một điều: Rất nhiều GV hiện nay thiếu quan tâm và rất ngại việc giáo dục đạo đức cho HS. Vì giáo dục đạo đức thì phải căn dặn, nhắc nhở, phê bình và xử lý kỷ luật HS chưa ngoan, nên GV rất dễ bị HS và phụ huynh thù ghét, thậm chí xâm phạm đến danh dự và thân thể người thầy.

    Về nhận định thứ hai, cho rằng: “Nhiều gia đình mải kiếm sống, thiếu sự quan tâm đến con, trong khi nhà trường chưa phải là chỗ dựa tinh thần cho HS …”, tôi thấy cũng là một nhận định phiến diện và rất hời hợt! Đành rằng, có một bộ phận các gia đình – mà trong đó các bậc cha mẹ là những người tử tế (Tôi nhấn mạnh hai chữ “tử tế”, đồng nghĩa với lương – thiện – đích – thực) bận rộn công tác, làm ăn, ít thì giờ dạy bảo con cái. Song, tôi xin hỏi vài điều:

    Trong xã hội hiện nay, có bao nhiêu phần trăm các gia đình thực sự tử tế, thực sự sống lương thiện? Đừng dựa vào các con số “hoành tráng” mà vô nghĩa: địa phương nào cũng nhan nhản các “Khu (tổ) dân cư văn hóa”; nơi nào cũng 100% là các “Gia đình văn hóa”! Những con số do “bệnh thành tích” đẻ ra, làm cho những người trung thực, tự trọng và có lương tri cảm thấy nhức nhối, khó chịu và còn thấy xấu hổ! Bởi nó tô hồng, giả tạo, không đúng với thực tế.

    Một thực trạng bức bối của xã hội thời kinh tế thị trường sơ khai và do Nhà nước buông lỏng quản lý xã hội, luật pháp không nghiêm! Những cái đó, làm cho đạo đức xã hội … “lan tỏa” suy đồi nghiêm trọng! Nó làm cho rất đông, rất đông, rất nhiều những người làm ông bà, cha mẹ, anh chị trở nên bất lương, nhiều kẻ trở thành tội phạm nguy hiểm. Ông cha ta có những câu thấm thía: “Rau nào, sâu ấy”; “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”; “Con hư là tại mẹ cha/ Cháu hư là tại cả bà lẫn ông”. Quả thật, loài hổ dữ tất phải sinh “hổ dữ”. Con hổ không thể đẻ ra con thỏ, và ngược lại! Thế thì làm sao mà họ giáo dục được cho con cháu trở nên ngoan ngoãn, chứ chưa nói trở nên người tử tế?

    Chủ tịch Hồ Chí Minh có minh triết: “Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có tốt, thì xã hội mới tốt”. Câu ấy cực kỳ đúng đắn, sáng suốt, có đầy đủ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn. Bác Hồ rất quan tâm đến đạo đức gia đình và đạo đức xã hội, cũng như Bác rất chăm lo đến môi trường giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, kết hợp hài hòa với giáo dục nhà trường. Con trẻ được sinh ra trong một gia đình lương thiện, thì rất hiếm khi trở thành kẻ xấu, kẻ ác. Khoa học Âu – Mỹ đã chứng minh: Tội ác (và các tính nết của con người) có gen di truyền. Cố nhiên, theo lẽ biện chứng, thì hoàn cảnh xã hội có tác dụng rất lớn tạo nên tính cách con người.

    Cho nên, vấn đề HS “chưa ngoan”, phải đồng thời nêu lên ba nguyên nhân chính: 1- Có rất nhiều gia đình có những ông bà, cha mẹ, anh chị không phải là người tốt. Sự thật (qua các biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày và qua báo chí phản ánh) là có rất nhiều, rất nhiều người lớn không tử tế, không lương thiện. 2- Xã hội đang suy thoái về đạo đức, lối sống – trong đó có “một bộ phận không nhỏ” là cán bộ, công chức Nhà nước – kể cả nhiều người có chức vụ cao và rất cao. Điều này không cần phải chứng minh! 3- Văn bản hệ thống pháp luật còn nhiều yếu kém, sơ hở và xử lý pháp luật không nghiêm. Vì thế, muốn cho TTN và HS chăm ngoan, muốn có lớp trẻ tốt để đưa đất nước phát triển phồn vinh, thì trước hết phải đặc biệt quan tâm đến giáo dục gia đình (Mỗi người lớn phải làm gương tốt cho con cháu noi theo); phải làm cho đạo đức xã hội thật-sự-trong-sáng, thật-sự-tốt-đẹp, đồng thời phải nâng cao chất lượng biên soạn các bộ luật và việc xử lý pháp luật phải kịp thời, nghiêm minh; bên cạnh đó là việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường học. Đây là một công cuộc cách mạng nhân văn rất to lớn, một yêu cầu vừa cần kíp vừa lâu dài của đất nước và thời đại, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân phải tiến hành thường xuyên, tích cực, bền bỉ.

    Có người khuyến cáo rằng: Ngày nay, muốn cho đất nước phát triển, văn minh, thì chớ quá tập trung vào kinh tế mà xem nhẹ việc phát triển văn hóa – giáo dục và xử lý pháp luật nghiêm minh! Tiếc rằng, xã hội ta còn QUÁ HIẾM những con người trung thực và dũng cảm như thế! Chưa kể là còn QUÁ HIẾM những cái tai biết lắng nghe ý kiến của những người trung thực và thông minh!

    TTN và HSSV sinh ra từ mỗi gia đình. Thời gian chủ yếu là các em sống với gia đình và giao tiếp ngoài xã hội. Gia đình chính là mái trường đầu tiên của mỗi người và cha mẹ chính là thầy giáo đầu tiên và suốt đời của các em! Thế nên, gia đình và xã hội có tốt, thì TTN và HSSV mới chăm ngoan, mới trở nên con người tử tế và có ích cho đất nước và dân tộc, mới thật sự nâng cao được chất lượng văn hóa và giá trị con người Việt Nam ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Về Vấn Đề Đạo Đức Của Học Sinh Ngày Nay
  • Giáo Dục Đạo Đức, “cốt Lõi” Của Việc Hình Thành Nhân Cách Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Top 12 Cung Hoàng Đạo Học Giỏi Nhất
  • Các Cung Hoàng Đạo Giỏi Nhất Trong Lĩnh Vực Gì?
  • Đại Học Ngôn Ngữ Anh Với Hình Thức Học Hệ Từ Xa Rất Thuận Tiện
  • Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Qua Loa, Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay
  • Nghị Luận Về Học Đối Phó Qua Loa Ở Học Sinh, Viết Đoạn Văn Mẫu Nghị Luận Về Tính Trạng Học Đối Phó
  • Tiếng Anh Của Sinh Viên Kém Vì Chỉ Học Đối Phó Các Kỳ Thi
  • Học Viện Khoa Học Quân Sự
  • Trọn Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Chủ Đề Quân Đội
  • Văn lớp 9 Nghị luận về hiện tượng học đối phó

    Văn mẫu lớp 9: Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay. Đây là tài liệu tham khảo hay do VnDoc sưu tầm. Bài nghị luận xã hội lớp 9 này gồm dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu hay được đánh giá cao viết về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay. Các bài nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt chuẩn bị cho bài kiểm tra 1 tiết, thi học kì và ôn tập vào lớp 10, ngoài ra đây còn là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô nhằm phục vụ công tác giảng dạy.

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay

    Dàn ý nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay

    1. Mở bài

    • Dùng danh ngôn hoặc câu hỏi gợi mở vào đề (nếu sử dụng cách mở bài gián tiếp).
    • Nêu ý chính, điều cần phân tích từ việc học đối phó.

    2. Thân bài a/ Giải thích học đối phó là gì?

    • Học tập mà không có hứng thú, say mê, không tìm hiểu, không động não, ham thích.
    • Học để tránh né, bị ép buộc, áp đặt từ ba mẹ, gia đình.
    • Thể hiện sự đối phá bằng những hành động khác nhau, không gây ra tác hại ngay lập tức, nhưng để lại nhiều hậu quả xấu.

    b/ Nêu một vài ví dụ điển hình thể hiện cách học thụ động này:

    • Chép sách khi thầy cô giao bài tập
    • Hỏi bạn, nhìn bài, làm mọi cách gian lận để có điểm cao.
    • Khi thầy cô giảng bài, lơ đễnh làm việc riêng, uể oải chép bài cho được cái mác “siêng học”.
    • Thiếu trung thực trong thi cử để có danh hiệu, đối phó với lòng tin của ba mẹ, sự nghiêm khắc của thầy cô, …

    c/ Tác hại của việc học đối phó:

    • Ảnh hưởng đến tâm lý, gây thụ động, dẫn đến nhàm chán.
    • Mất căn bản, nạn học sinh “nhảy lớp”, học đến lớp 12 mà chính tả còn sai be bét, …
    • Ảnh hưởng đến sự trung thực của con người, học sinh đánh mất dần những nhân cách tốt.
    • Về lâu dài, làm suy thoái nền giáo dục nước nhà.

    d/ Cần phải làm gì để ngăn chặn nạn học đối phó?

    • Học sinh chúng ta phải thay đổi ngay từ hôm nay, phải chủ động tìm hiểu và tiếp thu kiến thức.
    • Ứng dụng những công nghệ hiện đại để giúp ích cho việc học tập.
    • Trung thực khi thi cử, trong trường lớp, với bạn bè và chính bản thân.

    3. Kết bài

    • Khẳng định lại giá trị đích thực của việc học.
    • Tự nhủ sẽ luôn học tập tốt, bằng chính khả năng và thực lực của mình.
    • Kêu gọi thiếu niên chủ động học tập, vì tương lai đất nước, vì hạnh phúc mỗi con người.

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 1

    Trong cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa hôm nay, đất nước Việt Nam ta đã có những đổi mới tích cự trong việc giáo dục. Nhưng song song với những mặt tích cực đó, còn có những cái xấu, cái chưa tốt nhìn thấy rõ, mà ví dụ điển hình là việc học đối phó của phần lớn học sinh ngày nay.

    Vậy học đối phó là gì và do đâu? Ai trong chúng ta dám thừa nhận mình chưa bao giờ như thế? Việc học, quan trọng là lòng yêu thích, sự say mê tìm tòi, tạo cho mình một cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận và tích lũy kiến thức. Từ đó, ta mới có thêm niềm tin, những hứng thú để tiếp tục chặng đường học tập. Hãy nhìn những đứa trẻ, học tập đối với chúng luôn là sự tự do, là những bí ẩn chúng mong muốn được giải mã. Nhưng học sinh ngày nay thì lại khác. Học tập, xem như một nghĩa vụ bắt buộc, áp đặt và nặng nề. Thầy cô giảng, ta cứ dỏng tai lên nghe, nhưng chữ có vô đầu không thì không quan trọng. Nói điều này ra, một số người bảo ta bày vẽ, họ nói rằng: “Dào, chép bài mỏi tay chết còn học này học nọ!”. Vậy là việc học cũng nhàm chán như một nỗi khổ. Người ta dần dần nghĩ ra những “quái chiêu” để đối phó với việc học, để qua mặt thầy cô.

    Phao, copy, chép sách giải, hỏi bài bạn, đến “lò” luyện mong vớ lấy vài con chữ,… Học mà không biết mình học vì cái gì, vì một mục đích cao đẹp nào, để đạt được thành công ra sao trên đường đời. Học như học vẹt, miệng đọc qua loa, bài tập không chuyên sâu, mồm miệng cố la cho lớn để ra vẻ ta đây với thiên hạ. Không những học sinh yếu kém mà các bạn có năng lực tốt cũng “đối phó”. Thầy dạy cho có và trò học đối phó, một khung cảnh dễ nhận thấy ở các lò luyện thi, trường chuyên, lớp giỏi,.. Việc đối phó như một tấm khiêng chống đỡ sự thất vọng của thầy cô, cha mẹ và những lời bàn tán của bạn bè. Chúng ta dần đánh mất những truyền thống học tập của người học sinh, để đổi lấy những con điểm cao chót vót, những nguyện vọng để bằng bạn bè.

    Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhắm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh chúng ta. Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai. Mỗi khi học tập, hãy tìm tòi những câu hỏi, đi sâu vào những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến. Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích.

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 2

    Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều góc khuất, nhiều vấn đề nan giải chưa giải quyết được. Có những hành động dù là nhỏ của học sinh nhưng lại gây ra hậu quả xấu đối với tương lai. Hiện tượng học đối phó là một trong những hiện tượng như vậy.

    Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyên, học chỉ để thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chữ thầy lại trả cho thầy. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Tình trạng này kéo dài sẽ gây nên hệ quả khó lường, học sinh hổng kiến thức cơ bản nặng, học xong là quên hết, không lưu lại một thứ gì trong đầu.

    Hầu hết học sinh đang có suy nghĩ học để vừa lòng cha mẹ, thầy cô, học để được lên lớp, để đạt điểm cao. Chứ các em chưa nghĩ học để làm gì cho mình sau này. Chính suy nghĩ này mới dẫn đến tình trạng các em học đối phó một cách cứng nhắc như vậy.

    Biểu hiện của việc học đối phó này rất phổ biến như làm bài tập ở nhà theo kiểu đối phó, chép lời giải ở sách mẫu, chép đủ, chép hết để sáng mai lên lớp thầy cô kiểm tra. Hoặc ngày mai có kiểm tra, thì tối nay bắt đầu thức đêm, cày kiến thức, để mong sao ngày mai không bị điểm kém. Khi thi xong thì coi như kiến thức cũng theo gió trời mà bay. Một khi đã đối phó thì sẽ không trên tinh thần tự nguyện, tự giác học.

    Học sinh học đối phó nhưng giáo viên vẫn chưa có biện pháp để ngăn chặn hoặc xử lý để không tái diễn lần sau. Giáo viên vẫn cứ làm lơ, coi như không có chuyện gì, chính vì thế mà lối học này mới ăn sâu vào tiềm thức của các em như vậy.

    Khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em học đối phó, sau này ra xã hội, đi làm, lối sống này sẽ chi phối rất nhiều. Làm đối phó cho qua chuyện, cho xong việc dẫn đến tình trạng làm ẩu, không hoàn thành tốt công việc. Đây là một điều rất đáng tiếc

    Chỉ vì lối học đối phó mà sẽ dẫn đến hệ lụy xấu cho các em trong tương lai sau này. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các em mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

    Để giải quyết tình trạng học đối phó thực sự không phải đã rơi vào bế tắc. Điều này cần xuất phát từ chính bản thân các em phải xác định cho mình mục đích học tập đúng đắn để có thể nghiêm túc hơn trong học tập. Giáo viên cần đi sâu giảng bài, kiểm tra bài, cần kiểm tra về chất chứ không nên chỉ kiểm tra lượng.

    Giáo dục Việt Nam cần phải có biện pháp “rắn” để mang đến môi trường học tập lành mạnh cho các em. Phải làm sao cho suy nghĩ học đối phó ấy không tồn tại nữa. Như thế các em sẽ có một tương lai tươi sáng hơn.

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 3

    Học đối phó là một trong những mối quan tâm được đặt lên hàng đầu không chỉ với nhà trường mà còn ở trong ngành giáo dục Việt Nam. Hiện tượng này hiện vẫn đang tồn tại và lan rộng ra.

    Học đối phó được hiểu là một cách học của học sinh nhằm mục đích qua một kì thi hoặc một môn học nào đó. Tuy nhiên những kiến thức học sinh đó tiếp thu được là rất ít, hoặc gần như là không có.

    Xét về một khía cạnh nào đó, nó đem lại những lợi ích nhất thời với học sinh. Học sinh sẽ chỉ cần dành khoảng thời gian ngắn cho việc học mà vẫn đạt một mức điểm vừa đủ để bản thân không bị đánh trượt môn. Tuy nhiên về lâu dài, nó là một phương pháp học tiêu cực. Lượng kiến thức của học sinh khi ngồi trên ghế nhà trường sẽ bị thu hẹp và hạn chế. Khi nó trở thành một thói quen, đặc biệt là ngay từ những kiến thức nền tảng, thì sau này học chuyên sâu, học sinh đó sẽ khó nắm bắt được một cách tối đa. Hệ quả là, với kinh nghiệm non yếu cùng với kiến thức kém học sinh đó sẽ gặp vô vàn khó khăn khi bước vào đời.

    Để có thể giải quyết một cách triệt để được những hiện tượng trên, thì ngay từ phía phụ huynh cần có những định hướng, quan tâm nhiều hơn về việc học hành cho con em mình. Ngoài ra, học cũng nên cho con em mình những khoảng thời gian riêng cho những hoạt động ngoại khóa. Phía nhà trường cũng cần có những biện pháp làm giảm tải áp lực thi cử cho học sinh.

    Học sinh là thế hệ trẻ, là tương lai của đất nước. Việc ngăn chặn, bài trừ học đối phó là góp phần cho đất nước phát triển giàu mạnh, có thể sánh ngang cùng bạn bè quốc tế

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 4

    Người xưa có nói: sự học thì vô cùng mà cuộc đời con người chỉ là hữu hạn. Sống này chỉ có thể kéo dài khi chúng ta học tập, tiếp thu được càng nhiều tri thức và hiểu biết. Thế nhưng, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, đang ở tuổi học hành thì lại không nhận thức được điều đó. Học qua loa, đối phó đang là một vấn đề đáng buồn ở học sinh ngày nay.

    Cách học qua loa, đối phó có thể hiểu là cách học, làm bài không tập chung, không chuyên tâm và cố gắng cho môn học. Việc học qua loa, đối phó là hành động thuộc về thái độ với việc học, là ý thức của từng người học sinh.

    Trong xã hội hiện đại ngày nay, hiện tượng học đối phó đã trở thành một căn “bệnh” khá phổ biến ở học sinh và có tốc độ “lây lan” khá nhanh. Bài làm qua loa, nhanh chóng, thậm chí đi chép bài để có đủ số lượng mà không hề quan tâm đến việc hiểu bản chất vấn đề, môn học. Ở trường học, học đối phó thường diễn ra với những môn xã hội: Lịch sử, Địa Lý, Ngữ Văn, … ở những học sinh ham chơi, không có ý thức phấn đấu trong môn học.

    Hiện trạng học qua loa, đối phó đang phổ biến có nhiều nguyên do. Có thể thấy, sự khác nhau giữa các nước đều xuất phát từ nền giáo dục. Nền giáo dục Việt Nam vẫn còn chú trọng vào thành tích, điểm số mà chưa có giải pháp cho việc phát triển toàn diện năng lực học sinh, không tìm được động lực cho học sinh tự mình cố gắng. Những áp lực điểm số với bạn bè, áp lực bằng cấp của bố mẹ khiến cho học sinh không có thời gian làm một cách nghiêm túc. Quá nhiều bài phải làm, quá nhiều môn phải học, nhưng thời gian vẫn chỉ 24 tiếng như thế. Một phần đó cũng là do môn học quá nhiều kiến thức, chỉ chú trọng vào lí thuyết mà không đề cập tới thực hành dễ khiến học sinh chán ngán và sinh ra sự đối phó. Chính môi trường học như thế khiến học qua loa, đối phó lây lan nhanh như “virus”. Đặc biệt, đó cũng là do bản thân học sinh, không nhận thức được vai trò của việc học cũng như thái độ với công việc mình làm. Với học sinh, học vẫn là cho cha mẹ, thầy cô, không ảnh hưởng đến tương lai và việc của mình. Tự học sinh đã nghĩ như thế thì không chỉ có việc học qua loa, đối phó mà còn dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực khác.

    Rất nhiều học sinh biết hành động của mình là không đúng, cũng biết tác hại của việc học đối phó nhưng vẫn không biết cách tự cứu lấy mình. Muốn thay đổi học sinh, phải thay đổi môi trường học tập của chúng. Điểm số sau này chẳng nói rằng bạn giỏi hay không, chẳng quyết định cuộc đời bạn sau này thế nào. Vì thế, hãy đặt vấn đề điểm số và bằng cấp sang một bên, khuyến khích học sinh tìm hiểu và phát huy năng lực của mình, tham gia nhiều hơn vào những hoạt động ngoại khóa, những thí nghiệm thực hành, … Khi đó, hứng thú với môn học sẽ tự đến. Học sinh cũng cần thay đổi suy nghĩ của mình, rằng học cho mình, không phải một ai khác. Không ai có thể sống thay ta và không ai có thể hủy hoại cuộc sống chúng ta ngoài chính chúng ta cả. Tự mình thay đổi, tự mình học hỏi để tự mình tỏa sáng!

    Chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống nhưng những kiến thức thì mênh mông và thành công vẫn đang đợi bạn. Học hay không, đối phó hay nhiệt huyết, chỉ có bạn mới có thế quyết định.

    Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 5

    Giáo dục luôn là vấn đề được chú trọng và quan tâm nhất đối với con người. Cuộc sống ngày càng phát triển, khoa học công nghệ hiện đại xong cũng có nhiều phương pháp học tập mới. Bên cạnh đó trong xã hội vẫn tồn tại lối học đối phó. Đây là lối học sẽ gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh.

    Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là lối học đối phó? Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài, nghe giảng bài không trên tinh thần tự nguyện mà như bị ép buộc học chỉ để đối phó qua kì thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chả được chữ gì vào đầu gây ra những hậu quả khôn lường. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Việc học này chủ yếu do ý thức của mỗi con người.

    Hiện nay ở nước ta tình trạng học đối phó diễn ra khá nghiêm trọng và phổ biến khiến cho Nhà nước, ngành giáo dục và gia đình học sinh gặp nhiều phiền muộn trong việc nâng cao tinh thần, ý thức trách nghiệm của việc học tập đối với học sinh bởi nước ta luôn coi trọng giáo gục là quốc sách hàng đầu. Học đối phó ở trên lớp là những hành động lơ đãng, không chú ý nghe giảng, mất tập trung, chỉ ngồi cho “có mặt” trong lớp. Về nhà, học sinh thường không làm bài một cách nghiêm túc. Nhiều học sinh đến lớp trong tâm thế ngồi ở đây nhưng tâm hồn ở chỗ khác. Lại có những trường hợp coi thường môn phụ không để ý đến, ham chơi, chểnh mảng trong việc học. Với thái độ và ý thức học tập như thế sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào? Học đối phó sẽ khiến cho học sinh cảm thấy chán nản, căng thẳng cho người học, cứ đến mỗi giờ học như là một cực hình. Học đối phó còn làm cho con người bị hổng kiến thức vì chả tiếp thu vào đầu được chữ gì. Học đối phó sẽ dẫn đến lực học sa sút, yếu kém. Không chỉ có ý nghĩa tiêu cực cho bản thân mà còn kéo theo rất nhiều những hệ lụy khác ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình thậm chí là đối với cả xã hội bởi mỗi học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường chính là những mầm non tương lai của đất nước. Tương lai của đất nước là nhờ một phần không nhỏ ở các em. Học cho mình, cho tương lai mình mà học sinh vẫn có thái độ không cố gắng, không trung thực thì rất khó để làm những việc khác với sự nhiệt tình và cống hiến. Khi nó trở thành một thói quen, đặc biệt là ngay từ những kiến thức nền tảng, thì sau này học chuyên sâu, học sinh đó sẽ khó nắm bắt được một cách tối đa. Các bạn có hiểu tại sao Nhật Bản luôn là một nước phát triển không? Bởi do ý thức và thái độ học tập rất nghiêm túc hiệu quả, đạt kết quả cao. Đây là một trong những điều tạo nên sự khác biệt giữa nước phát triển với những nước còn nghèo nàn trên thế giới.

    Học đối phó đã trở thành một căn bệnh lan rộng và phổ biến trong ngành giáo dục. Thế nên chúng ta cần làm gì để cho lối học đối phó đấy không tiếp diễn nữa. Chúng ta phải đầu tư cho môi trường học để tăng thêm sự lôi cuốn hấp dẫn học sinh thích thú với việc học. Chúng ta là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Hãy níu giữ những gì mà mình đang có, đừng để đánh rơi thanh xuân, đánh rơi tuổi trẻ, đến lúc hối lại cũng không kịp sẽ chẳng còn lại gì cho bản thân nữa. Mỗi học sinh phải có ý thức học tập nghiêm túc, học sâu, học kĩ, học từng chi tiết để hiểu bản chất, có tinh thần học thoải mái thích thú, phân bố thời gian hợp lí, tránh lối học vẹt, học tủ, học đối phó. Còn với gia đình thì cần quan, chăm sóc, tạo điều kiện cho con em được học hành. Về phía nhà trường, xã hội cần luôn thay đổi phương pháp dạy học linh hoạt để không nhàm chán.

    VnDoc đã hướng dẫn các bạn Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay, sẽ là tài liệu hay giúp các bạn học sinh có thêm nhiều tài liệu tham khảo, có thêm nhiều ý tưởng cho bài văn của mình, mời các bạn cùng tham khảo

    ……………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Qua Loa, Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Tìm Nhóm Học Tiếng Anh Qua Skype
  • Học Tiếng Anh Theo Nhóm
  • Nối Mi Tiếng Anh Là Gì? Tiếng Anh Nghề Nối Mi
  • Thủy Sản Tiếng Anh Là Gì
  • Học Sinh, Sinh Viên Trong Vòng Xoáy Ngôn Ngữ “biến Dạng”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Lóng Của Tuổi Mới Lớn
  • Từ Lóng Dùng Trong Lớp Học Tác Động Đến Sinh Viên Như Thế Nào.
  • Ảnh Hưởng Tiếng Lóng Trong Học Đường Mỹ
  • Vấn Đề Ngôn Ngữ Chat Trong Học Đường
  • Cần Thơ: Không Bắt Buộc Học Sách Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Phần lớn học sinh khi chat với nhau đều sử dụng ngôn ngữ “biến dạng”

    Một trong những vấn đề làm đau đầu phụ huynh và những nhà giáo dục có tâm huyết là vấn đề ngôn ngữ (NN) của giới trẻ hiện nay mà người ta gọi nôm na là “NN thời @”, hay nói đùa là NN “hại điện” (hiện đại). Nó là một loại NN “biến dạng”, thay đổi các âm của từ, sử dụng nhiều tiếng lóng, có những lối nói vần vô nghĩa và chêm nhiều tiếng Anh. Từ nhiều kiểu “biến dạng”

    Đối tượng sử dụng NN này chủ yếu là học sinh – sinh viên (HS, SV). Có hai cách thể hiện chính là NN nói và NN viết (chat và blog). Chat là hoạt động giao tiếp của hai hay nhiều người trên mạng internet thông qua các công cụ như Yahoo Messenger, MySpace… NN nói hàng ngày của giới trẻ cũng bị ảnh hưởng của NN chat và blog, chẳng hạn, ” Đói lém rồi, Pà cô hem cho ra, khổ wé “.

    Nhiều giáo viên đã cảnh báo loại NN này đang xâm nhập vào nhà trường, vào tập vở và bài làm của các em HS. Ở gia đình, nhiều phụ huynh cũng rất lo lắng vì không hiểu được NN của con để biết được nó đang nói gì.

    Những kiểu “biến dạng” thường thấy là lối nói theo vần một cách vô nghĩa (buồn như con chuồn chuồn, chán như con gián, đuối như con cá chuối…), dùng nhiều tiếng lóng (tám – buôn chuyện, lúa – quê mùa, bó tay – chịu thua…), lạm dụng nhiều từ tiếng Anh (If you đu dây, dây đứt you die…). Tuy nhiên, hiện tượng thường xuyên xuất hiện trong blog giới trẻ là cố tình thay đổi âm của nhiều từ ngữ. Trước hết là biến đổi âm chính: ô – u (rồi – rùi, thôi – thui), uô – u (buồn – bùn, muốn – mún), ă – e (lắm – lém, tắm – tém), iê – i (biết – bít, viết – vít)… Kế đến là biến đổi âm đầu: qu – w (qua – wa, quen – wen) và bỏ bớt âm cuối: vâng – vaag, mình – mìn… Thông thường, những biến đổi âm này sẽ được vận dụng đồng thời và dẫn đến kiểu nói phá cách như sau: “Iu an quá trời lun” (Yêu anh quá trời luôn).

    Đến việc sính dùng tiếng nước ngoài

    Hiện tượng sính dùng tiếng nước ngoài không phải là mới, nhất là trong thời kỳ tiếng Anh phổ biến khắp thế giới thì giới trẻ lại có điều kiện để tiếp cận rộng và sâu hơn. Trong quá trình hội nhập với toàn cầu, ảnh hưởng của tiếng Anh đối với tiếng Việt là điều tất yếu, không thể tránh khỏi.

    Hiện nay, ở các thành phố lớn, nhu cầu học tiếng Anh ngày càng nhiều. Các trường dạy ngoại ngữ được mở ra khắp nơi, nhiều HS ngay từ mẫu giáo đã được học tiếng Anh. Để học tiếng Anh có hiệu quả, ai cũng có nhu cầu được thực hành nên NN này được dùng rộng rãi, phổ biến, chủ yếu là nói “chêm” với tiếng Việt, từ đó hình thành tiếng nói mà nhiều người gọi là “lai căng”.

    Việc sử dụng tiếng Anh xen với tiếng Việt là điều dễ hiểu. Nhưng vấn đề mà nhiều người quan tâm, lo lắng là việc sử dụng thái quá các từ ngữ tiếng Anh, đặc biệt là giới trẻ. Nếu bất chợt nghe một bạn trẻ nói chuyện với bố mình ắt hẳn chúng ta sẽ giật mình với hàm lượng tiếng Anh quá cao: “Con đang làm nốt assignment, con send xong rồi về. Đợi con chút, con chek lại xong rồi phone lại cho ba ngay” hoặc hai bạn trẻ nói chuyện với nhau: “Mày ok hay không ok cũng phải call lại cho nó chứ. Chẳng pro chút nào cả” (Lê Vy, 2008).

    NN thể hiện tính cách của con người, trước khi sử dụng thành thạo một ngoại ngữ thì người nói cũng phải thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình. Thói quen sử dụng một NN “nửa Tây nửa ta” như vậy chẳng những không mang lại lợi ích nào cho bản thân người nói mà còn gây phản cảm cho nhiều người khác.

    Nhiều người đã rất bức xúc, lo lắng trước sự lan rộng của hiện tượng “biến dạng” của tiếng Việt cũng như cách dùng từ “nửa Tây nửa ta” của giới trẻ. Nếu không được chỉ đường đúng lối, điều này e rằng sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập nói chung và khả năng cảm thụ tiếng Việt nói riêng của HS. Trước mắt, gia đình và nhà trường là nơi giúp tìm ra những lời giải cho bài toán “NN thế hệ @”. Gia đình phải là chỗ dựa tinh thần, là tấm gương về việc sử dụng tiếng Việt. Cha mẹ cũng không nên có biện pháp quá cứng rắn mà nên giáo dục ý thức rèn luyện tiếng Việt cho con mình. Nhà trường, ngôi nhà thứ hai của HS cũng cần có biện pháp kiểm soát nhắc nhở các em, giúp các em hình thành thói quen nói tốt, viết tốt tiếng Việt, giúp các em phân biệt NN ảo trên mạng với tiếng Việt chuẩn trong nhà trường.

    (Giảng viên ngôn ngữ Trường ĐHKHXH-NV TP.HCM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này Tài Liệu Học Tập
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này
  • Tiếng Lóng Của Học Sinh Mỹ
  • Giáo Viên Sốc Với Tiếng Lóng Của Học Sinh
  • Trường Học Anh Cấm Dùng Tiếng Lóng
  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Nay, Học Sinh Phổ Thông Có Hiện Tượng Lạm Dụng Tiếng Lóng Và Xem Đó Là Biểu Hiện Của Sự Sành Điệu. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Này Tài Liệu Học Tập
  • Học Sinh, Sinh Viên Trong Vòng Xoáy Ngôn Ngữ “biến Dạng”
  • Tiếng Lóng Của Tuổi Mới Lớn
  • Từ Lóng Dùng Trong Lớp Học Tác Động Đến Sinh Viên Như Thế Nào.
  • Ảnh Hưởng Tiếng Lóng Trong Học Đường Mỹ
  • Trong sự phát triển của lối sống hiện đại, cùng với sự đa dạng của các phương tiện truyền thông đại chúng… một số cá nhân, một số nhóm trong giới trẻ đã sử dụng tiếng lóng khi giao tiếp với mục đích tạo ra tính độc đáo, cách tân hoặc để làm một ký tín hiệu riêng. Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng lóng trong giới trẻ hiện nay đã tạo ra sự sai lệch chuẩn mực xã hội.

    Khi xem xét, đánh giá tiếng lóng trong ngôn ngữ của giới trẻ, theo tôi cần nghiên cứu hai vấn đề có tính phương pháp luận: Một là, không phải tất cả các hiện tượng tiêu cực trái với trạng thái phát triển bình thường của xã hội, đều có thể coi là sai lệch chuẩn mực. Hai là, không phải mọi hoạt động, hành vi của con người đều coi là lệch chuẩn khi nó vi phạm một loại chuẩn mực cụ thể. Và sai lệch trong sử dụng ngôn ngữ tiếng lóng của giới trẻ hiện nay thường biểu hiện hai trạng thái cơ bản: Sai lệch tích cực và sai lệch tiêu cực. Những ngôn ngữ tiếng lóng có sự ảnh hưởng xấu đến sự trong sáng của tiếng Việt và sự phát triển, tiến bộ chung của xã hội thì được xác định hành vi sử dụng ngôn ngữ sai lệch tiêu cực. Những ngôn ngữ, lời nói, những hành động của cá nhân, nhóm xã hội có thể vi phạm hệ thống chuẩn mực đương thời, nhưng xét toàn cục theo chiều hướng đi lên của xã hội thì đó là những hành vi sử dụng ngôn ngữ sai lệch tích cực. Ví như trong ngôn ngữ văn học thế kỉ 19, 20 xuất hiện ngôn ngữ tiếng lóng ít được sử dụng hoặc chỉ sử dụng trong một số tầng lớp nhất định. Và trong số tiếng lóng đã từng sử dụng, giờ đây có nhiều từ ngữ đã trở nên quen thuộc và đi vào ngôn ngữ phổ thông: Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có các từ: “Đi dạo”, “rước khách”, “chịu tốt”, “chơi”… hay các từ ngữ trong các tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng: “Giang hồ”, “chạy làng” hoặc một số từ ngữ khác: “Ba hoa”, “xỉn”, “xịn”, “mánh mung”, “quay cóp”…

    3. Việc sử dụng tiếng lóng của giới trẻ hiện nay là phổ biến, tùy tiện và khó kiểm soát; trong khi đó, gia đình, nhà trường và xã hội chưa làm tốt chức năng giáo dục giới trẻ sử dụng ngôn ngữ tiếng lóng đúng mực. Chúng ta nên giáo dục, định hướng các em giao tiếp theo chiều hướng tích cực, đúng cách, đúng lúc, đúng nơi và đúng chuẩn. Song song đó chính bản thân các em cũng cần coi trọng và có trách nhiệm trong việc sử dụng, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Có như vậy, kho tàng ngôn ngữ của Việt Nam sẽ ngày càng phong phú và giàu đẹp hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Lóng Của Học Sinh Mỹ
  • Giáo Viên Sốc Với Tiếng Lóng Của Học Sinh
  • Trường Học Anh Cấm Dùng Tiếng Lóng
  • Cả Làng Nói ‘tiếng Lóng’ Độc Đáo Nhất Ở Hà Nội
  • Các Khái Niệm Cơ Bản
  • Suy Nghĩ Về Hiện Tượng Học Chay, Học Vẹt Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Tượng Học Chay, Học Vẹt Trong Học Sinh Hiện Nay
  • Phi Công Trung Quốc ‘học Vẹt’ Tiếng Anh Để Lái Máy Bay
  • 4 Trở Ngại Khiến Tiếng Anh Chuyên Ngành Trở Nên “khó Nuốt”
  • Môn Chuyên Ngành Tiếng Anh Là Gì? Có Thật Sự Quan Trọng Với Bạn?
  • Con Gái Nên Học Ngành Gì Dễ Xin Việc Nhất Sau Khi Ra Trường
  • Suy nghĩ về hiện tượng học chay, học vẹt của học sinh hiện nay

    Không quá xa lạ khi nhắc đến hiện tượng học chay, học vẹt của học sinh ở các trường học hiện nay. Đó là cách học vô cùng tai hại, gây những tổn thất to lớn đối với nhiệm vụ giáo dục con người. Mặc dù nhà trường và chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách, ra sức nỗ lực khắc phục nhưng vẫn chưa thể cải thiện được tình hình. Học sinh ở nước ta vẫn cứ học chay, học vẹt.

    Học chay là gì?

    Học chay là cách học đơn lập, chỉ học lí thuyết suông mà không gắn với thực hành, thực tế để rèn luyện kĩ năng, kiện toàn và phát triển năng lực người học.

    Học vẹt là gì?

    Học vẹt là một cách nói ẩn dụ, ví cách học của học sinh như cách học của con vẹt. Học sinh chỉ bắt chước sao cho giống, lặp lại trôi chảy nhưng không hiểu gì. Học vẹt là cách học thụ động, tiêu cực. Người học chỉ nhớ được cái bóng của kiến thức chứ không lĩnh hộ được nội dung, ý nghĩa. Tuy ghi nhớ nhưng hoàn toàn không thấu hiểu tri thức. Từ đó không có kĩ năng và kinh nghiệm thực tiễn. Học chay, học vẹt là cách học lệch lạc, sai lầm và phản khoa học.

    Hiện trạng học chay, học vẹt của học sinh hiện nay:

    Trong những năm gần đây, nền giáo dục đã có những chuyển biến mạnh mẽ và tích cực. Nội dung và phương pháp giảng dạy có nhiều thay đổi lớn. Thế nhưng, tình trạng họ chay, học vẹt của học sinh vẫn tồn tại. Thậm chí là còn rất phổ biến.

    Tại các trường học, một hình thức dễ thấy nhất đó là dạy học tại lớp. Giáo viên độc giảng còn học sinh chăm chú ghi chép. Với khoảng 10 môn học bắt buộc phải có ghi chép. Tính trung bình mỗi học sinh, trong một năm học phải chép đến hơn 1000 trang vở. Ở một vài khối lớp có thể còn nhiều hơn nữa. Việc ghi chép nhiều cản trở nghiêm trọng đến khả năng lắng nghe, suy nghĩ và trình bày của học sinh.

    Hầu hết các trường đều có phòng thực hành, phòng thí nghiệm nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu thực tế. Chương trình các môn khoa học tự nhiên thiên về dạy lý thuyết. Bài học thiếu các bài thực hành sinh động. Học sinh học mà không được thực hành khắc sâu kiến thức. Học sinh vẫn học chay, học vẹt trên trang sách.

    Nguyên nhân khiến học sinh học chay, học vẹt:

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng học chay, học vẹt của học sinh. Trước hết là do chương trình giáo dục thiếu tính khoa học. Giáo dục nước ta vẫn còn nặng về lý thuyết và xem trọng việc học thuộc lòng. Bài học kém sinh động, nhàm chán, ít liên hệ và vận dụng trực tiếp vào giải quyết vấn đề trong cuộc sống.

    Dù chương trình giảng dạy đã lạc hậu, trì trệ, không còn phù hợp với thực tế nhưng việc cải tiến, thay đổi lại diễn ra chậm chạp và thiếu tính quyết liệt, đột phá. Tư duy của các nhà giáo dục chưa bắt kịp với thời đại. Sự cẩn trọng vô tình khiến chúng ta tiến chậm hơn thế giới đến mấy chục năm phát triển. Trong những năm gần đây, nước ta bắt đầu học tập mô hình giáo dục của một vài nước tiên tiến trên thế giới. Thế nhưng, việc vận dụng lại không phù hợp với tình hình giáo dục cảu đất nước khiến cho nền giáo dục ở nước ta giống như một bức tranh với những mảnh ghép vụng về, khập khiễng, thiếu tính đồng bộ sâu sắc.

    Cơ sở vật chất và lực lượng giáo dục dù đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Chính cơ sở vật chất yếu kém làm nảy sinh lối học chay, học vẹt. Đội ngũ giảng dạy tuy đông đảo, liên tục được bồi dưỡng và nâng cao năng lực nhưng chậm biến đổi và thích ứng với phương thức giáo dục hiện đại. Nhiều thầy cô giáo vẫn kiên trì với hình thức giảng dạy truyền thống đã tồn tại trong mấy chục năm qua vốn đã rất lạc hậu và trì trệ gây ảnh hưởng sâu sắc đến cách học và phương thức tiếp cận, tiếp nhận tri thức của học sinh.

    Các quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của giáo viên và học sinh tuy tích cực, tiến bộ. Song chính nó lại gây trở ngại lớn đối với người dạy học trong công tác quản lí, giảng dạy và khuyến khích học sinh hứng thú học tập và rèn luyện kĩ năng.

    Có thể so sánh vấn đề này với Hàn Quốc. Bằng việc học tập nền giáo dục Nhật Bản, người Hà Quốc đã từng bước nâng cao nền tri thức, tiến đến sáng tạo và thành công, đưa Hàn Quốc thoát khỏi trì trệ trở thành cường quốc.

    Cốt lõi của họ là vừa học tập vừa vận dụng vào thực hành. Lý thuyết và hành động phải song song. Họ không ngần ngại học cái hay, cái tốt của người khác. Điều quan trọng đối với họ đó là chương trình giáo dục có thực sự phục vụ sự tiến bộ của con người và đất nước hay không.

    Một nguyên nhân khác xuất phát từ tâm lí xã hội. Nước ta vốn vừa thoát ra khỏi ý thức Nho học, nặng về giáo dục con người mang tính khuôn mẫu. Học sinh có tâm lí ỷ lại, dựa dẫm nên thường học qua loa, đối phó, không hứng thú đối tri thức khoa học và kĩ năng thực hành.

    Phương pháp học tập bảo thủ và sai lầm. Con người chạy theo môn học thời thượng để cầu danh, cầu lợi mà chú trọng đến thực hành. Bởi thế học sinh Việt Nam dù giỏi về lý thuyết nhưng lại kém sáng tạo và kĩ năng vận dụng vào công việc, chưa đáp ứng được nhu cầu đời sống.

    Cơ chế thi cử khắt khe theo kiểu kiểm tra thuộc bài, vấn đề cạnh tranh việc làm khốc liệt khiến cho học sinh phải nỗ lực thi đậu để có trường học. Họ không còn thời gian và hứng thú đối với rèn luyện kĩ năng thực hành. Học chay, học vẹt là một xu thế tất yếu phải xảy ra.

    Học sinh ngày nay trở nên lười biếng và thụ động hơn các thế hệ trước. Họ ham chơi, ít học, xem thường việc thực hành và rèn luyện kĩ năng, sống buông thả, không biết lo xa.

    Hậu quả đáng lo ngại của hiện tượng học chay, học vẹt đối với học sinh hiện nay:

    Đầu tiên là học sinh học nhiều nhưng hiểu ít. Rất nhiều học sinh thiếu kiến thức, thiếu kĩ năng và năng lực làm việc thực tế. Họ không có năng lực sáng tạo và năng động trong công việc học tập và làm việc. Thực tế cho thấy, mỗi năm có hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp ra trường chật vật trong vấn đề tìm kiếm việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp hoặc làm việc việc trái ngành khá phổ biến trong xã hội.

    Doanh nghiệp than không có người tài, xã hội bức bối trong vấn đề thất nghiệp của sinh viên. Một lí do rất đơn giản là sinh viên có trình độ nhưng không có kĩ năng làm việc thực tế. Học chay, học vẹt, chạy đua thành tích, trọng bằng cấp thực sự gây tai hại cho nền giáo dục nước nhà.

    Đất nước đang trên đà phát triển, cần có đội ngũ lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Nhưng lực lượng lao động quá yếu kém. Đây là một vấn đề gây đâu đầu cho các nhà quản lí và tuyển dụng nhân lực trong suốt nhiều năm qua.

    Học sinh học chay, học vẹt, học nhiều mà không hiểu làm nảy sinh nhận thức lệch lạc, sai lầm, thiếu niềm tin vào cuộc sống. Từ đó mất định hướng, nảy sinh tâm lí bất mãn dễ dẫn đến tệ nạn xã hội và các hành vi phạm pháp. Thực tế, nó đã là hiện thực. Tỉ lệ tội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng tăng cao qua các năm là một lời cảnh báo toàn xã hội về vấn đề giáo dục con người ngay trên ghế nhà trường.

    Nền tảng tri thức thấp kém là nguyên nhân dẫn đến các hành vi hối lộ, tham nhũng, tệ nạn quan liêu trong xã hội. Hiện tượng mua việc, chạy việc, bổ nhiệm bất hợp lí vốn là vấn đề được đề cập khá nhiều trên báo chí, gây nhức nhối trong xã hội. Một khi hiện tượng này còn tiếp diễn sẽ tiếp tục gây tổn thất lớn lao cho học sinh, gia đình và đất nước.

    Giải pháp khắc phục hiện trạng học chay, học vẹt, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường:

    Để chấm dứt tình trang học chay, học vẹt của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước không còn cách nào khác là nhà nước và nhân dân phải vào cuộc, kiên quyết hành động cùng nhau tháo gỡ.

    Trước hết là phải đầu tư cải cách toàn diện nền giáo dục. Thay đổi từ chương trình cho đến phương pháp giáo dục. Hướng đến giáo dục phát triển toàn diện năng lực người học. Gắn việc đào tạo với nhu cầu công việc trong thực tế. Cải cách phương thức kiểm tra, thi cử, tuyển dụng. Tạo điều kiện cho người học tiếp cận nền tri thức tiến bộ và dễ dàng tìm được việc làm trong đời sống.

    Nâng cao tri thức nền tảng trong xã hội. Nhà trường kiên quyết thực hiện chống hiện trạng học chay, học vẹt, học đối phó, chạy theo thành tích. Mỗi học sinh phải tự nỗ lực nâng cao nhận thức, ra sức học tập, rèn luyện tri thức toàn diện cho bản thân, hướng đến kiện toàn kĩ năng, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ trong đời sống ở tương lai.

    Tuyên truyền, khuyến khích học tập và làm việc tiến bộ trong đời sống. Phải tạo được môi trường toàn dân học tập, cùng hướng đến sự thịnh vượng chung của đất nước.

    Phê phán:

    Học chay, học vẹt là cách học sai lầm. Nó hoàn toàn phản khoa học và tiềm ẩn nhiều nguy cơ lạc hậu và suy thoái tri thức, nhân cách con người. Những người lười biếng, ngại thay đổi, chọn lựa điều dễ, tránh việc khó, lựa chọn cách học đối phó, nguy hại, sớm muộn gì cũng rước thất bại vào thân. Những người như thế thật đáng chê trách.

    Bài học nhận thức:

    Nhận thức rõ tác hại của lối học chay học vẹt, học đối phó, cần phải loại bỏ nó ngay lập tức. Học phải đi đôi với hành. Học không phải để cầu danh cầu lợi. Học để sống và làm việc thành công trong sống.

    Trên đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng. Và chắc chắn rằng chẳng có kẻ lười biếng nào mà đạt được thành công chân thực cả. Là học sinh phải phấn đấu trong học tập, rèn luyện nhân cách nhân phẩm tốt đẹp, tránh lối học chay, học vẹt nguy hại. Xác định mục đích học tập đúng đắn để trở thành người hữu ích mai này đem sức mình xây dựng quê hương, đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Học Vẹt Và Học Tủ
  • Tình Trạng “học Tủ” “học Vẹt” Của Nhiều Học Sinh, Bạn Đã Từng?
  • Phi Công Trung Quốc “học Vẹt” Tiếng Anh Để Lái Máy Bay
  • Quy Định Về Giảng Dạy Các Học Phần Bằng Tiếng Anh
  • Căn Bản Tiếng Anh Là Gì?
  • Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Qua Loa, Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Về Học Đối Phó Qua Loa Ở Học Sinh, Viết Đoạn Văn Mẫu Nghị Luận Về Tính Trạng Học Đối Phó
  • Tiếng Anh Của Sinh Viên Kém Vì Chỉ Học Đối Phó Các Kỳ Thi
  • Học Viện Khoa Học Quân Sự
  • Trọn Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Chủ Đề Quân Đội
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chủ Đề Quân Đội
  • Nghị luận về hiện tượng học qua loa, đối phó – Sưu tầm và tổng hợp những bài văn nghị luận hay lớp 8 bàn về việc học qua loa và học đối phó của một bộ phận học sinh hiện nay.

    : Trình bày suy nghĩ về hiện tượng học qua loa, đối phó của học sinh hiện nay.

    Top 3 bài văn nghị luận về hiện tượng học qua loa, đối phó của học sinh hiện nay

    Giáo dục là một vấn đề được xã hội Việt Nam chú ý đến rất nhiều trong những năm đầu của thế kỉ XXI. Mặc dù đây là một trong những ngành quan trọng bậc nhất của đất nước và nhận được sự quan tâm rất lớn của chính phủ, nhưng nhưng khuất mắc, tiêu cực trong ngành vẫn cứ tồn tại và lan rộng ra. Một trong những vấn đề lớn nhất, nổi bật nhất chính là hiện tượng gian lận trong thi cử, kiểm tra, hay nói một cách khác là tình trạng học đối phó, quay cóp bài của học sinh trong kiểm tra, thi cử.

    “Học đối phó” là hiện tượng học sinh học bài chỉ để vượt qua một kì thi, một giờ kiểm nào một cách gượng ép và không hề lưu giữ một tí gì về những thứ đã học sau lần kiểm tra, lần thi đó. Còn “quay cóp bài” là tình trạng học sinh xem bài của nhau hoặc xem tài liệu trong giờ kiểm tra, thi cử. Nói một cách đơn giản hơn, đó là những hiện tượng tiêu cực trong một nền giáo dục.

    Và đáng tiếc thay, cái tiêu cực đó dường như đã trở thành “một phần tất yếu trong cuộc sống” của học sinh thời nay và nó đang ăn sâu, lan rộng vào tiềm thức của những người đang ngồi trên ghế nhà trường.

    Xét về một mặt nào đó, những hành động này có thể cho họ lợi ích nhất thời, đó có thể là những điểm tám, điểm chín,..trong các kì thi, kiểm tra chẳng hạn. Nhưng nếu ta xét một cách toàn diện và sâu rộng hơn, thì cái lợi trước mắt đó sẽ lại là cái hại lâu dài cho chính bản thân họ và cho cả đất nước, dân tộc. Khi những người học sinh thực hiện những hành động tiêu cực đó, thì liệu khi họ rời khỏi ghế nhà trường bước vào xã hội, trong bộ óc của họ có chứa được một tý kiến thức nào để có thể chung sống với xã hội hay không. Và liệu một dân tộc, một đất nước sẽ ra sao khi nền giáo dục của đất nước đó, dân tộc đó chỉ tạo ra những con người trẻ tuổi với cái đầu rỗng tuếch và suy nghĩ dối trá, tôi chắc hẳn rằng sẽ trở nên suy yếu đi, thậm chí là diệt vong.

    Mọi thứ đều có nguyên nhân của chính nó và những tiêu cực trên cũng thế. Nguyên nhân trước hết chính là mỗi bản thân người học sinh đã không tự xác định được học để làm gì và học như thế nào, từ đó suy nghĩ và hành động của họ trở nên sai trái là đương nhiên. Nhưng ta cũng ko thể trách họ hoàn toàn được, làm sao họ có thể tốt được khi mà những người thầy, người cô cứ mãi đếm tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp,…khi mà những người đứng đầu ngành cứ mãi loay hoay với những vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” như cải cách sách giáo khoa, học phí,…khi mà….Và tất cả những thứ đó đã góp phần tạo nên một hiện tượng tiêu cực phổ biến này.

    Để có thể giải quyết một cách triệt để được những hiện tượng trên, thì những vị lãnh đạo của chúng ta cần phải có những chiến lược, mục đích thật sự đúng đắn và sáng tạo cho ngành giáo dục, cùng với đó những người giáo viên phải truyền được cho học sinh tinh thần học tập, phải cho họ thấy mục đích của học tập không phải là để trở thành “ông này bà nọ”, để được “ăn sung mặc sướng”, để có cái bằng cấp vô nghĩa,…mà là tích lũy tri thức để có thể tồn tại, chung sống, phát triển và tự khẳng định mình. Và trên hết, bản thân mỗi học sinh cần phải tự nỗ lực học tập, tự xác định được mục đích học tập và phương pháp học tập hiệu quả, và nhất là phải để cho lòng tự trọng của mình lên tiếng trước những cám dỗ của tiêu cực.

    Hãy hành động ngay bây giờ, và đừng chờ đợi nữa. Nếu không, đến một lúc nào đó, khi những sản phẩm thất bại này của ngành giáo dục bước ra xã hội và làm chủ đất nước thì dân tộc ta, đất nước ta sẽ phải đứng bên bờ suy thoái, diệt vong.

    Trong cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa hôm nay, đất nước Việt Nam ta đã có những đổi mới tích cực trong việc giáo dục. Nhưng song song với những mặt tích cực đó, còn có những cái xấu, cái chưa tốt nhìn thấy rõ, mà ví dụ điển hình là việc học đối phó của phần lớn học sinh ngày nay.

    Vậy học đối phó là gì và do đâu? Ai trong chúng ta dám thừa nhận mình chưa bao giờ như thế? Việc học, quan trọng là lòng yêu thích, sự say mê tìm tòi, tạo cho mình một cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận và tích lũy kiến thức. Từ đó, ta mới có thêm niềm tin, những hứng thú để tiếp tục chặng đường học tập. Hãy nhìn những đứa trẻ, học tập đối với chúng luôn là sự tự do, là những bí ẩn chúng mong muốn được giải mã. Nhưng học sinh ngày nay thì lại khác. Học tập, xem như một nghĩa vụ bắt buộc, áp đặt và nặng nề. Thầy cô giảng, ta cứ dỏng tai lên nghe, nhưng chữ có vô đầu không thì không quan trọng. Nói điều này ra, một số người bảo ta bày vẽ, họ nói rằng: “Dào, chép bài mỏi tay chết còn học này học nọ!”. Vậy là việc học cũng nhàm chán như một nỗi khổ. Người ta dần dần nghĩ ra những “quái chiêu” để đối phó với việc học, để qua mặt thầy cô.

    Phao, copy, chép sách giải, hỏi bài bạn, đến “lò” luyện mong vớ lấy vài con chữ,… Học mà không biết mình học vì cái gì, vì một mục đích cao đẹp nào, để đạt được thành công ra sao trên đường đời. Học như học vẹt, miệng đọc qua loa, bài tập không chuyên sâu, mồm miệng cố la cho lớn để ra vẻ ta đây với thiên hạ. Không những học sinh yếu kém mà các bạn có năng lực tốt cũng “đối phó”. Thầy dạy cho có và trò học đối phó, một khung cảnh dễ nhận thấy ở các lò luyện thi, trường chuyên, lớp giỏi,.. Việc đối phó như một tấm khiêng chống đỡ sự thất vọng của thầy cô, cha mẹ và những lời bàn tán của bạn bè. Chúng ta dần đánh mất những truyền thống học tập của người học sinh, để đổi lấy những con điểm cao chót vót, những nguyện vọng để bằng bạn bè.

    Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhắm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh chúng ta. Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai. Mỗi khi học tập, hãy tìm tòi những câu hỏi, đi sâu vào những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến. Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích.

    Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều góc khuất, nhiều vấn đề nan giải chưa giải quyết được. Có những hành động dù là nhỏ của học sinh nhưng lại gây ra hậu quả xấu đối với tương lai. Hiện tượng học đối phó là một trong những hiện tượng như vậy.

    Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyên, học chỉ để thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chữ thầy lại trả cho thầy. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Tình trạng này kéo dài sẽ gây nên hệ quả khó lường, học sinh hổng kiến thức cơ bản nặng, học xong là quên hết, không lưu lại một thứ gì trong đầu.

    Hầu hết học sinh đang có suy nghĩ học để vừa lòng cha mẹ, thầy cô, học để được lên lớp, để đạt điểm cao. Chứ các em chưa nghĩ học để làm gì cho mình sau này. Chính suy nghĩ này mới dẫn đến tình trạng các em học đối phó một cách cứng nhắc như vậy.

    Biểu hiện của việc học đối phó này rất phổ biến như làm bài tập ở nhà theo kiểu đối phó, chép lời giải ở sách mẫu, chép đủ, chép hết để sáng mai lên lớp thầy cô kiểm tra. Hoặc ngày mai có kiểm tra, thì tối nay bắt đầu thức đêm, cày kiến thức, để mong sao ngày mai không bị điểm kém. Khi thi xong thì coi như kiến thức cũng theo gió trời mà bay. Một khi đã đối phó thì sẽ không trên tinh thần tự nguyện, tự giác học.

    Học sinh học đối phó nhưng giáo viên vẫn chưa có biện pháp để ngăn chặn hoặc xử lý để không tái diễn lần sau. Giáo viên vẫn cứ làm lơ, coi như không có chuyện gì, chính vì thế mà lối học này mới ăn sâu vào tiềm thức của các em như vậy.

    Khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em học đối phó, sau này ra xã hội, đi làm, lối sống này sẽ chi phối rất nhiều. Làm đối phó cho qua chuyện, cho xong việc dẫn đến tình trạng làm ẩu, không hoàn thành tốt công việc. Đây là một điều rất đáng tiếc

    Chỉ vì lối học đối phó mà sẽ dẫn đến hệ lụy xấu cho các em trong tương lai sau này. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các em mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

    Để giải quyết tình trạng học đối phó thực sự không phải đã rơi vào bế tắc. Điều này cần xuất phát từ chính bản thân các em phải xác định cho mình mục đích học tập đúng đắn để có thể nghiêm túc hơn trong học tập. Giáo viên cần đi sâu giảng bài, kiểm tra bài, cần kiểm tra về chất chứ không nên chỉ kiểm tra lượng.

    Giáo dục Việt Nam cần phải có biện pháp “rắn” để mang đến môi trường học tập lành mạnh cho các em. Phải làm sao cho suy nghĩ học đối phó ấy không tồn tại nữa. Như thế các em sẽ có một tương lai tươi sáng hơn.

    Giáo dục của nước ta trong thời gian gần đây đã thu được một số thành quả nhất định, có thể gọi là thành công, gây được tiếng vang lớn với bạn bè trong nước và quốc tế. Chúng ta đã biết đưa ra những phương pháp học tập hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nước nhà. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những phương pháp học đáng bị lên án và cần phải được loại bỏ, đó chính là học đối phó. Phương pháp học này đang dần dần gây nên hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta khó có thể lường trước được.

    Vậy thế nào là học đối phó? Đó chính là hiện tượng các em học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyện và ý thức tự giác học tập để tiếp thu kiến thức. Các em học chỉ mang tính chất tạm bợ, ví dụ như học chỉ để vượt qua bài kiểm tra, vượt qua kỳ thi, rồi sau đó lượng kiến thức không hề đọng lại trong tâm trí của các em. Hiện tượng này đang xảy ra rất phổ biến ở học sinh hiện nay, dần trở thành một vấn đề khó có thể kiếm soát. Nếu cứ kéo dài tình trạng học thế này, sẽ gây nên một hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai của đất nước khi mà các em ra trường, sẽ không có kiến thức thực sự để phục vụ cho công việc, cuộc sống. Lý do của tình trạng này có lẽ một phần do tư tưởng của các em, học chỉ để đối phó,báo cáo kết quả với cha mẹ, thầy cô, chứ các em không hề nghĩ rằng học là để cho mình, cho tương lai của chính bản thân của mình.

    Hiện tượng học đối phó đang diễn ra rất nhiều trong học sinh, biểu hiện rõ ràng khi học đối phó cơ bản nhất là khi hàng ngày, các em làm bài tập về nhà một cách đối phó, chép lời giải ở sách giải mẫu, hoặc chép của chính các bạn cùng lớp…mục đích chỉ để hôm sau các thầy cô kiểm tra không bị phạt, không bị điểm kém. Hoặc đó là khi ngày thường các em không học, không tập trung trau dồi kiến thức, chỉ khi sắp đến đợt có bài kiểm tra, hoặc trước một kỳ thi, các em mới lao vào học vẹt, học tủ, với mục đích vượt qua kỳ thi, rồi sau kỳ thi thì kiến thức đọng lại trong các em chẳng còn là bao nhiêu.

    Hậu quả của việc học đối phó là rất nghiêm trọng. Các em mới chỉ là học sinh, học cho mình nhưng đã tìm cách đối phó. Vậy đến khi các em trưởng thành, đi làm, cống hiến cho gia đình và xã hội, nhưng không có kiến thức thực sự thì các em sẽ ra sao? Một thế hệ trẻ, tương lai của đất nước đang bị đe dọa vô cùng nghiêm trọng, nếu như các em học sinh vẫn có tư tưởng học đối phó như vậy.

    Muốn xử lý tình trạng học đối phó, chỉ có thể bắt đầu từ ý thức của chính bản thân các em. Các em phải hiểu được mục đích việc học của các em là để làm gì? Cho chính tương lai của các em, cho gia đình, cho đất nước. Có như vậy các em mới có thể thay đổi tư tưởng và học hành nghiêm túc. Gia đình, nhà trường cần phải thường xuyên theo dõi, bảo ban các em học hành cẩn thận, để các em không xao nhãng học hành, dẫn đến những hậu quả không đáng có.

    Thật vậy, để thay đổi một nền giáo dục không phải chuyện dễ. Và muốn làm được điều đó, chính các em học sinh hiện nay sẽ là người quyết định, các em là tương lai của đất nước. Vậy nên mỗi chúng ta, cần phải ngăn chặn, bài xích hiện tượng học đối phó, vì một nền giáo dục của nước nhà phát triển tốt đẹp hơn.

    Sưu tầm và tuyển chọn Văn mẫu lớp 8 hay nhất / Đọc Tài Liệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay
  • Dàn Ý Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Qua Loa, Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Tìm Nhóm Học Tiếng Anh Qua Skype
  • Học Tiếng Anh Theo Nhóm
  • Nối Mi Tiếng Anh Là Gì? Tiếng Anh Nghề Nối Mi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100