Ý Nghĩa Tầm Sư Học Đạo Và Thành Đạo Của Đức Phật

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Thơ Công Giáo: Tầm Sư Học Đạo
  • Cảm Động Bé Lớp 2 Vùng Cao Cùng Mẹ Vượt Hơn 100Km Để Học Tiếng Anh
  • Tuyển Sinh Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Ở Hà Nội Hệ Từ Xa
  • 3 Lý Do Bạn Không Nên Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Từ Xa
  • Có Nên Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Từ Xa Hay Không?
  • Bài giảng tại Khóa tu Một ngày An lạc, Học viện Phật giáo Việt Nam

    tại chúng tôi cơ sở II, ngày 02-07-2017

    Khi Đức Phật còn là Thái tử, Ngài quán sát thấy cuộc đời là biển khổ, cho nên Ngài có ý định cứu khổ tất cả mọi loài chúng sanh. Bằng mọi cách Ngài làm, dù cố gắng tối đa vẫn không có kết quả, nên Ngài xuất gia tầm sư học đạo, muốn tìm thực chất của nó qua những nhà tu khổ hạnh.

    Cho nên Đức Phật học đạo với các nhà tu hành, thực tập với những người có tu hành thực sự. Ngài dấn thân đi tìm các vị Thầy, điều này kinh Nguyên thủy diễn đạt khác, kinh Đại thừa diễn đạt khác. Mỗi bộ kinh có cái nhìn khác nhau, cho nên pháp môn tu khác nhau, dẫn đến sở đắc, sở chứng khác nhau.

    Văn Thù bồ-tát cho chúng ta thấy Phật giáo muốn tồn tại phải đi lên, chứ không phải giữ chùa không mà được. Hòa thượng Khánh Hòa dạy: “Có chùa mà không có Tăng cũng như không có, mà có chùa, có Tăng mà Tăng dốt nát lại nguy hiểm hơn nữa”. Cho nên Hòa thượng bán chùa lấy tiền thỉnh Đại tạng kinh về dạy. Tăng phải có học, cho nên phải biết cái này quan trọng. Hòa thượng căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm mà nói như vậy. Vì thế, chúng ta “ngũ hạ dĩ tiền tinh chuyên giới luật”. Đạo đức đi đầu, nếu không có đạo đức coi như bỏ luôn. “Ngũ hạ dĩ hậu” mới thính giáo tham thiền. Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử theo ngài Đức Vân để rèn luyện đạo đức suốt 10 năm, 10 năm để rèn luyện con người trở thành đạo đức. Con người đạo đức này là gì? Là một thầy tỳ-kheo có đủ 3000 oai nghi. Tức là lấy 250 x 4 oai nghi ra 1000 oai nghi. Lại nhân với 3 (thân, khẩu, ý) thành 3000 oai nghi.

    Cho nên, mỗi lần tôi gặp khó khăn trên bước đường làm đạo thì tôi nhớ tới Hòa thượng Thiện Hoa. Tôi phải tập cho được cái này, gọi là Thiện Trụ tỳ-kheo. Đối với tôi thì Hòa thượng Thiện Hoa chính là Thiện Trụ tỳ-kheo. Trên bước đường tu, khi cái này chúng ta vững rồi thì chúng ta mới bắt đầu đi vào cuộc đời hành Bồ-tát đạo, cái này về sau mới tính.

    Hòa thượng Thích Trí Quảng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kèm Phụ Đạo Tiếng Anh Cho Học Sinh Quận 12
  • Ke Hoach Day Phu Dao Tieng Anh 8 Ky I, Ii
  • Người “truyền Lửa” Từ Lớp Phụ Đạo Tiếng Anh
  • Giáo Án Phụ Đạo Tiếng Anh 6 ( Hot )
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • 15. Phần 4: Tầm Sư Học Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Đến Ngày Nhà Giáo Việt Nam: Nghĩ Về Truyền Thống ‘tôn Sư Trọng Đạo”
  • Thanh Niên Với Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Chùa Bửu Minh Gia Lai
  • 21. Phần 10: Giữ Gìn Thân Khẩu Ý
  • Tại Sao Bạn Nên Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh?
  • 131. Một vị thầy có năng lực nghĩa là như thế nào? Có phải là người có thần thông, biết chuyện quá khứ vị lai, có thể giúp siêu độ, hay là giảng pháp thao thao bất tuyệt? Cái nào là bền vững nhất?

    Một vị thầy có năng lực tốt nhất là làm chủ được tam nghiệp của mình rồi mới tính đến các năng lực thần thông như biết túc nghiệp người khác, siêu độ vong linh hay giảng pháp trôi chảy. Những năng lực này chưa đủ để chứng tỏ vị thầy ấy đã giải thoát họ, có thể do túc duyên đời trước mà có, hay do tha lực hộ mà có. Các vị ấy khi dùng thần thông độ người nhưng nếu lạm dụng thì năng lực có thể giảm, mất. Hoặc độ sanh độ tử nhiều quá tâm lực suy giảm, tham sân si có thể quấy động mạnh hơn làm mất tự chủ cũng như thuyền chở nhiều quá thì đắm.

    132. Con thường hay nghe bảo chỉ có sống giản dị, thanh bần thì mới giúp mình có tâm an lạc, thảnh thơi tu hành. Vậy giản dị thanh bần nên hiểu như thế nào khi người tu ngày nay vật chất đồ dùng cá nhân, am cốc trang bị không khác nào khách sạn hay nhà cao cấp của thế gian? Mọi người bảo đó chỉ là phương tiện độ sanh, trợ giúp giữ thân vậy có đúng không?

    Giản dị thanh bần này phải hiểu là ít muốn biết đủ. Mà biết đủ thì thường vui. Người tu hành lấy đạo pháp, lấy tâm ít mong cầu làm vui thì đâu có lý do gì phải mượn những phương tiện vật chất cao sang để vui, vậy thì người ta vui bằng cái tâm nào? Cũng có một số các vị thầy không có mong cầu nhưng phật tử vì quý trọng bổn sư mà đem đến cúng dường nhiều vật chất sang trọng. Nhận hay không nhận là do vị thầy đó đang dụng tâm nào. Có khi vì nghĩ tình mà nhận rồi dần dần phật tử đua nhau mua sắm cúng dường từ đó mà sanh ràng buộc.

    133. Vì sao Phật tử luôn được dạy rằng phải sống tương kính trong tinh thần lục hòa, bớt ngã mạn. Tuy nhiên, vì sao cả người ngay trong chùa, giữa các chùa, các tông phái lẫn nhau vẫn ngấm ngầm bất phục, nói xấu cạnh tranh và thậm chí trù dập nhau?

    Giữa các chùa và các tông phái tranh tụng nhau nếu vì lý do phản biện làm sáng tỏ đạo lý thì rất tốt. Còn vì lý do cá nhân thị phi hơn thua mà cạnh tranh thì thật sự là thảm hoạ cho phật pháp. Đức Phật xưa từng dạy mình nói xấu người khác như rải bụi các ngược gió chỉ làm dơ bẩn chính mình. Những sự tranh tụng chỉ làm tổn hại cho nền giáo lý chung và làm mình bị giảm giá trị.

    134. Chùa chiền có nên xây dựng thật nhiều tượng, đục đẻo, chạm khắc kinh chú vào đá, vào gỗ ngàn năm, tượng ngọc, tạo những công trình kỷ lục để truyền giữ kinh Phật lâu đời giúp người khác tu tập tốt hơn có phải vậy không?

    Phật dạy các pháp là vô thường, các duyên là bất định, dù có tạo tác công trình gì vĩ đại cũng không tồn tại mãi mãi. Quá khứ đã chứng minh điều đó. Tại sao không đem kinh chú vào trong mình để thâm nhâp kinh tạng trí huệ như hải. Điều đó rất đáng làm và tôn quý hơn hết.

    135. Nhiều Phật tử bảo gặp các vị thầy có năng lực nên cung kính lễ lạy bớt ngã mạn, chỉ nên y giáo phụng hành, không nên tranh luận. Thầy dạy sao làm đó vì thầy mới là người hiểu rõ cái thấy cái biết của mình. Nếu mình hỏi hay đi ngược lại là sai. Nếu có sự tranh luận nghĩa là bất kính, sẽ bị các vị hộ pháp xung quanh vị thầy ấy xử phạt, vậy có đúng không?

    Nếu là một vị thầy có năng lực, có tri kiến hơn người cũng nên toàn tâm toàn ý nghe theo để tránh sai lầm và mình được nhất tâm. Tuy nhiên, nếu muốn sáng tỏ Phật pháp thì mình có thể hỏi hoặc tranh luận với vị thầy nhưng với tinh thần cầu học thì không sao cả. Đọc những pháp ngữ của bên thiền tông đốn ngộ thì bạn sẽ thấy thầy trò đối đáp không nhượng nhau nhưng cốt yếu để người học trò sáng tỏ. Còn nếu bạn có tâm ngã mạng thì chính tâm ấy làm cho bạn tổn phước chứ không có thánh thần nào quưở phạt cả.

    136. Có phải những vị thầy có năng lực có thể xui khiến những vị hộ pháp làm những điều mình muốn không? Nếu là điều sai các vị hộ pháp có làm không?

    Các vị thầy đâu phải là thầy bùa thầy pháp mà sai khiến hộ pháp hay những người vô hình làm điều mình muốn như vậy. Các thầy có năng lực được hộ pháp gia hộ cho chuyện tu hành và hạnh nguyện giúp đời chứ không phải muốn làm gì cũng được. Hộ pháp không bao giờ hộ làm sai cả. Những người ỷ lại vào hộ pháp mà làm càng sẽ rước hậu quả vô cùng tai hại.

    137. Con nghe nói người càng tu càng bị khảo? Vậy khảo là khảo cái gì? Có người bảo là còn có cả thiên ma ngoại đạo tà giáo quấy phá là có đúng không? Nhưng lại bảo người tu sẽ giúp giảm nghiệp giải thoát. Vậy sự khảo nghiệm hoặc quấy phá là nghiệp quả của mình hay là do sự gia hộ của ân trên?

    Người tu nào chắc chắn cũng sẽ bị khảo, một phần do nghiệp lực một phần do ma chướng. Tuy nhiên, cả hai điều đó sẽ có lợi cho người phát tâm dõng mảnh coi sự trở ngại là sự thăng hoa. Đây có thể ví như là hoa sen mọc trong bùn như biểu tượng của Phật giáo. Người tu một phần thọ lạc thanh tịnh vào pháp tu, một phần chấp nhận bị nghiệp khảo để nội lực tự thân phát ra đề kháng lại. Chính vì vậy không nên sợ hãi. Vì lý do đó, cũng có lúc là ơn trên thử thách.

    138. Con nghe nói mỗi người phải tự chịu trách nhiệm cho những hành vi nghiệp quả của mình. Tuy nhiên, con lại nghe có nhiều vị thầy có thể giúp hóa giải nghiệp quả. Nếu vậy vị thầy ấy có bị mang nghiệp không hay là vì người tu nên Phật và Bồ tát sẽ giúp hóa giải?

    Có các vị thầy vì hạnh nguyện và công đức tu tập có thể hoá giải nghiệp lực của người khác nhưng không tuyệt đối. Thường khi hoá giải cho ai thì vị ấy nương theo phần lực của Phật và bồ tát mà làm. Có những vị làm mà mang bệnh đau vì có hạnh nguyện chia sẻ nghiệp lực của chúng sanh. Người không có hạnh nguyện đó thì không bị bệnh đau.

    139. Làm thế nào để có thể nhận biết đó là một bậc chân sư đắc đạo hiển thánh? Những tiêu chuẩn nào để đánh giá đó là một bậc đạo sư Phật giáo?

    Một chân sư đắc đạo ít nhất là không sống với tâm tham sân si. Vị chân sư phải có trí tuệ và lòng từ bi rộng lớn, có năng lực và nhiều phương tiện để độ sanh. Đó chính là bậc đạo sư của Phật giáo.

    140. Con thường nghe nói người đã chứng ngộ dù là làm ác làm thiện gì cũng chỉ là một cách độ sanh, kiểu như Tế Công Hòa Thượng uống rượu ăn thịt vậy. Do đó không nên thắc mắc hay góp ý những việc làm của người tu, đặc biệt là các vị thầy lớn vì việc các vị làm đều là đúng cả? Như vậy có thật không?

    Vị đã chứng ngộ cao thì cách làm của các vị đều vì mục đích lợi ít cho đệ tử hoặc người đời. Do đó, có khi họ làm những việc trái với bình thường như sân nộ đánh đập. Nếu chúng ta lấy nhãn quan bình thường mà phán xét thì sanh lầm lẫn hoặc mất lòng tin. Tuy nhiên, các vị ấy cũng tuỳ cơ duyên của đệ tử mà làm nhằm mục đích khai ngộ chứ không phải lúc nào cũng thể hiện như vậy. Còn chuyện Tế Công Hoà Thượng thì từ xưa đến nay chỉ có một. May thay nếu có nhiều Tế Công thì sẽ trở thành cái đạo của Tế Công và các đệ tử thay hồ ăn thịt uống rượu.

    Phải hiểu rằng các vị tổ sư, bồ tát có trí tuệ siêu phàm họ biết nên làm gì. Khi cần thiết họ sẵn sàng làm nghịch hành (hạnh nghịch) để độ sanh. Do đó, con mắt bình thường nếu thiếu niềm tin không tránh khỏi nghi ngờ. Nếu bạn có dịp đọc lịch sử thiền tông Trung Quốc thì sẽ thấy có nhiều vị dùng gậy hoặc tiếng hét để khai ngộ đệ tử mà người đệ tử vẫn một lòng tôn kính.

    Thượng Tọa Thích Vạn Hùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘tôi Đang Trong Quá Trình Tầm Sư Học Đạo’
  • 10. Phần 9: Tình Duyên
  • Trường Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • Du Hoc Trung Quốc: Đại Học Dân Tộc Quảng Tây ” Amec
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Văn Thơ Công Giáo: Tầm Sư Học Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Động Bé Lớp 2 Vùng Cao Cùng Mẹ Vượt Hơn 100Km Để Học Tiếng Anh
  • Tuyển Sinh Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Ở Hà Nội Hệ Từ Xa
  • 3 Lý Do Bạn Không Nên Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Từ Xa
  • Có Nên Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Từ Xa Hay Không?
  • Giật Mình Lo Rà Soát Văn Bằng 2 Tiếng Anh Sau Vụ Đh Đông Đô
  • ***

    Chiến không ngại ngần chia sẻ với các học trò những trải nghiệm của mình. Anh cũng khuyến khích bọn trẻ giao lưu với các bạn Tin Lành, vì thực ra việc ngại tiếp xúc chỉ đơn thuần là vấn đề tâm lý. Bọn trẻ rất thích thú, chúng cởi mở hơn, đề đạt nhiều câu hỏi thú vị chứ không còn e sợ, giờ học Giáo lý trở nên vui tươi, giống hội thảo về Kinh Thánh hơn là những giờ học thuộc khô khan như ngày trước. Cha Xứ rất vui. Ngài lại cho họp Giáo lý viên, yêu cầu cử thêm người đi “tầm sư học đạo”, nhưng chẳng một ai chịu theo bước Chiến dù anh đã gắng sức làm “thuyết khách”. Thất vọng, ngài hạn cho đúng một tháng, nếu không ai chịu đi sẽ cắt cử luôn, cứ thế mà làm.

    Chiến vừa rời phòng họp đã thấy Lão Ngoan Đồng đứng dưới tượng Đức Mẹ, tủm tỉm cười.

    – Có gì vui đâu mà ông cười…

    – Tôi lại cười mấy Giáo lý viên nhà ông. Chắc lúc Thêm Sức, các ông chỉ chăm chắm xin những ơn riêng cho mình, nào Một, Hai, Ba, Bốn; rồi cho rằng xin được Bảy cũng có nghĩa là đã có Sáu. Còn ơn Năm, là phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân thì chẳng ông nào xin cả!

    – Hả? Mà ông thuộc “Bảy Ơn Cả” hồi nào vậy?

    – Hừ, ông đừng khinh tôi, hai mươi năm nay các ông cho bọn trẻ đọc ra rả, tôi chả thuộc à. Ông nghĩ tôi “ngồi một chỗ chia ba thiên hạ” như Khổng Minh chắc? Hay ông thấy tôi giỏi lên cũng chính là ông đã kém đi, haha…

    Chiến bàng hoàng nhìn theo bóng bạn. Không ngờ “nỗi xấu hổ mỗi kỳ thi Giáo lý” năm xưa lại vặn trái anh thế này. Hội Thánh, nếu thiếu “mạnh bạo”, không dám đi ra vì sợ đi lạc cũng giống một đất nước có nền kinh tế đóng kín, khó mà phát triển dù nội lực mạnh đến mấy. Vẫn biết “mở cửa” sẽ “trầy da tróc vảy” nhưng sẽ lớn mạnh, kiên cường hơn. Lão Ngoan Đồng quả không hề đơn giản! Cũng chính Lão vừa giúp anh ngộ ra: việc không tin nhận một số phép Bí tích tuy làm người Tin Lành vững tin những gì họ cho là Chân Lý, song vô hình chung đã lỡ mất nhiều Ân Sủng Chúa ban thông qua khí cụ của Ngài và không thể đo đếm theo kiểu”một cộng một bằng hai” hay”nói có lý” được, bởi Đạo chúng ta xuất phát từ “Một cộng Một cộng Một bằng Một”. Phải chăng Lão Ngoan Đồng mỗi ngày ở bên Đức Mẹ được thông ban nhiều Ân Sủng đã trở nên hiểu biết đến vậy, “nói câu nào chết câu đó”, giờ đây Giáo lý đức tin đã hơn xa anh rồi!

    Chiến chưa kịp kể với Cha Xứ những điều anh vừa lĩnh ngộ thì bất ngờ Bề trên thuyên chuyển ngài sang xứ khác, thay thế bằng Cha Mới – là cựu sinh viên Đại học Xây dựng – để chuẩn bị xây lại nhà thờ. Việc cắt cử người đi “tầm sư học đạo” không còn ai nhắc đến nữa. Chỉ có Chiến vẫn qua lại với các anh em Tin Lành như một thói quen, dù anh phải “vắt chân lên cổ” luyện thi cấp tốc cho lũ trẻ kịp thi Giáo lý do đã lỡ “tổ chức hội thảo Kinh Thánh” hơi nhiều.

    Cho đến một ngày…

    Cha Mới giảng, có đoạn: “Ngày nay, truyền thông rất mạnh làm ta nhầm tưởng đã mắt thấy tai nghe mọi việc trên đời. Phải biết truyền thông là con dao hai lưỡi, cùng một video, một hình ảnh thì hai báo có thể đưa ra hai cái tin khác hẳn, thậm chí trái ngược nhau. Vì vậy, ta có thể nghe, nhìn nhưng cần biết chọn lọc, tránh trường hợp nghe sự rối đâu đó về kể bậy bạ cho anh em, sinh ra nghi ngờ Giáo lý của Hội Thánh, nghi ngờ các tín điều trong đạo, chẳng hạn các phép Bí tích Chúa đã truyền…”

    Không ai bảo ai, mọi ánh mắt trong nhà thờ đều quay nhìn Chiến làm anh lạnh cả sống lưng, cúi gằm mặt xuống. Anh mường tượng đến cảnh Chúa Giê-su trước tòa Phi-lát, xung quanh hàng ngàn người hô to “Treo hắn lên cột” (Ma-thi-ơ, 27: 15-23) (***). Cảm giác tội lỗi ập đến khiến anh không dám lên rước lễ. Nặng trĩu lê bước về nhà, sau lưng anh là tiếng xầm xì: “Tôi cũng dặn cháu nhà tôi rồi, cái ông Chiến nửa Tin Lành này nói thì hay nhưng đừng nghe theo”…

    Chiến thấy sao đường về nhà hôm nay xa thế, nhưng có lẽ, ngày những người anh em Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo trở về Ngôi Nhà Chung còn xa hơn rất nhiều…

    (*)Lão Ngoan Đồng: Nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung, tuổi già nhưng tính tình ngây thơ, hồn nhiên đến độ ngốc nghếch; lĩnh hội được rất nhiều môn võ công tuyệt thế nhưng hiếm khi dùng đến.

    (**) Phép Báp-Tem: Tương tự Phép Rửa của Giăng Báp-tít (Gio-an Bao-ti-xi-ta) trên sông Giô-đanh (Gio-đan), tựa như Phép Rửa Tội (Công Giáo), nhưng chỉ người đã học hết Giáo lý căn bản của Tin Lành mới được lãnh nhận.

    (***) Tên riêng:

    – Ma-thi-ơ: Mát-thêu.

    – Mác: Mác-cô.

    – Giăng: Gio-an.

    – Phi-lát: Phi-la-tô.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tầm Sư Học Đạo Và Thành Đạo Của Đức Phật
  • Kèm Phụ Đạo Tiếng Anh Cho Học Sinh Quận 12
  • Ke Hoach Day Phu Dao Tieng Anh 8 Ky I, Ii
  • Người “truyền Lửa” Từ Lớp Phụ Đạo Tiếng Anh
  • Giáo Án Phụ Đạo Tiếng Anh 6 ( Hot )
  • Tầm Sư Học Đạo, An Trụ Hải Đảo Tâm Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Phí Học Cho Văn Bằng 2 Tiếng Anh Năm 2022 Là Bao Nhiêu ?
  • App Elsa Speak Có Tốt Như Mọi Người Review Không?
  • Dạy Trực Tuyến Trên Edumall – Có Nên Hay Không?
  • Ngành Hệ Thống (Cttt)
  • Học Bổng Toàn Phần Là Gì?
  • Điều thứ nhất, khởi đầu khi Phật là thái tử, tầm quan sát của Ngài trong cuộc đời, nhận thấy rõ cuộc sống của con người sao mà quá khổ, từ lúc chào đời cho đến chết, lúc nào con người cũng khổ và trong tất cả tầng lớp xã hội, ai ai cũng khổ. Nỗi khổ đau của mọi người là vấn đề chắc thật của chúng sanh mà Đức Phật đặt ra trước nhất gọi là Khổ đế.

    Và  từ đó, Phật luôn suy nghĩ về nguyên nhân nào dẫn đến khổ đau như vậy, nên Ngài thường sống trong tư duy, thiền định hơn là sống với cảnh phú quý vinh hoa. Chính sự thao thức về nỗi khổ trầm luân của con người đã khiến Phật luôn nghĩ đến tìm cách giải phóng nỗi khổ của nhân loại khi Ngài còn ở trong hoàng cung, nên Ngài nổi danh là người trầm mặc.

    Ngày nay, chúng ta là đệ tử Phật cũng khởi đầu nhìn thấy cái khổ của loài người và ta cũng suy nghĩ về nguyên nhân của khổ đau triền miên ấy và áp dụng phương cách Phật dạy để giúp ta và mọi người cũng thoát khổ.

    Khi Phật còn là thái tử, tất nhiên cũng có bận rộn của thái tử. Nói cách khác, ở thế tục, mọi người đều bận rộn, bận rộn với gia đình, vợ chồng, con cái, bạn bè, làm ăn…  Người đời không ai không bị thế tục quấy rầy.

    Riêng tôi, mùa hạ đầu tiên năm 1957, tôi làm thị giả Hòa thượng Thiện Hoa. Một hôm, đêm tối, hai thầy trò đứng ở hành lang, Hòa thượng nhìn tôi, nói :“Phúc đức thay cho người cô độc, không bị phiền não thế tục quấy rầy”; đó là bài học đầu tiên của tôi vào 60 năm trước.

    Người cô độc là người xả tục xuất gia, là quý thầy cô thấy mình có phước đức hơn người đời, nhờ xuất gia mà được ung dung tự tại, không bị phiền não thế tục quấy rầy. Phiền não thế tục là cơm ăn, chỗ ở và xa hơn là việc giao tế. Lo giải quyết những vấn đề này quả thật bận rộn suốt đời, chỉ có cách xả tục xuất gia là tốt nhất để không phiền não.

    Thật vậy, Tăng Ni đúng nghĩa là bỏ thế tục mới không bị phiền não chi phối, thể hiện ý nghĩa xuất gia mà chúng ta theo đuổi như Phật dạy. Nhờ không bị phiền não thế tục quấy rầy, chúng ta có thì giờ thực hiện mục tiêu lý tưởng của người tu.

    Phật cũng khởi xuất từ ý này mà Ngài xả tục xuất gia, bỏ ngai vàng điện ngọc để tầm sư học đạo. Nghe chỗ nào có người tu nổi tiếng được kính ngưỡng, Ngài đến tham vấn, nghĩa là học.

    Ngày nay, chúng ta khác với Phật một chút là chúng ta có trường lớp từ sơ cấp, trung cấp đến đại học Phật giáo. Chúng ta được trải qua ba cấp học như vậy là thời gian tầm sư học đạo.

    Tìm học với người danh tiếng, đương nhiên trong những người danh tiếng cũng có đủ thành phần. Họ nổi tiếng về việc nào đó, đâu phải việc nào cũng thích hợp với mình.

    Tôi cũng tới nhiều chùa, gặp các thầy nổi tiếng là việc tầm sư học đạo phải có, nhưng may mắn tôi được vào Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang là nơi có quý thầy uy tín dạy. Nhờ vậy, trình độ tri thức của tôi được nâng cao.

    Đức Phật cũng đi khắp nơi tìm thầy học đạo và cuối cùng Ngài nhận ra chỉ có hai vị Đạo sư có sở tu, sở chứng là Uất Đầu Lam Phất và Kamala. Trên thực tế, người nổi tiếng có nhiều, nhưng sở đắc, sở chứng thì ít người có. Vì vậy, chúng ta nhìn kỹ thấy có thầy nổi tiếng năm năm, ba năm là hết nổi tiếng, vì thực chất không có. Thực chất có mới tồn tại lâu dài, cho nên người ta thường nói rằng đối với người nổi tiếng sớm, chúng ta phải cân nhắc xem có phải là Phật, Bồ-tát hiện lại hay không. Nếu không, chỉ vài năm sau , tiếng tăm suy giảm lần.

    Tầm sư học đạo, cuối cùng Phật chọn hai Đạo sư có quá trình hành đạo lâu dài, mà càng lên cao, các vị này càng vững vàng. Ý này gọi là gừng càng già càng cay, nghĩa là tu lâu sẽ có những điểm nổi trội.  Vì vậy, chúng ta tham vấn, tìm các bậc cao minh có thể khôngnổi tiếng, nhưng họ có sở tu sở chứng mà chúng ta thực tập nhận thấy họ đã tự thân thể nghiệm và đạt kết quả tốt đẹp thực sự.

    Ở trường lớp thì thông thường các thầy giỏi lý thuyết. Chúng ta nghe lý thuyết, nhưng phải quan sát cuộc sống họ có đúng với lý thuyết họ nói hay không. Vì vậy, Phật nhắc nhở chúng ta rằng hãy nói điều mình làm và làm điều mình nói; nghĩa là phải thực hiện đúng những gì mình nói.

    Tôi thấy khi truyền giới Bát quan trai, một số thầy bảo Phật tử không được ăn chiều, nhưng các thầy lại ăn chiều; như vậy là nói khác, làm khác. Nói lời Phật dạy, nhưng các thầy cô có thực hiện đúng như Phật dạy hay không. Thiết nghĩ chúng ta phải có chút xíu tàm quý vì chưa giữ được giới không ăn chiều và nói cho Phật tử biết rõ tuy không ăn chiều, nhưng Phật cho phép uống sữa, uống bột ngũ cốc, nước trái cây. Như vậy, thầy cô truyền giới, buổi chiều được uống sữa, uống bột…, quý vị dạy như vậy và cũng làm như vậy thì được.

    Tôi dạy Phật tử có cân nhắc, nói rõ là Phật, Thánh đã đắc đạo, nên các Ngài không ăn một ngày cho đến một tháng cũng không sao, vì không bị thân ngũ uẩn chi phối, được giải thoát hoàn toàn. Còn phàm tăng chắc chắn không được như vậy. Trong phàm tăng, nếu đắc từ Sơ quả trở lên là Hiền Tăng không bị ngũ uẩn ngăn che và chi phối, nên không bệnh, cũng không cần ăn uống.

    Nhưng các vị có bệnh là còn nghiệp, chưa đắc quả vị thấp nhất, chưa được Ly sanh hỷ lạc thì chưa có nguồn sống nội tâm, nên còn lệ thuộc vật chất rất nhiều, mà muốn vượt lên nghiệp này để làm Thánh, coi chừng chết. Thật vậy, khi tu học ở Nhật, Thiền sư Kono dẫn tôi lên núi, chỉ cho thấy mộ của các Sa-di là phàm tăng muốn làm Thánh phải chết thôi.

    Phật, Thánh, thầy, Tổ đã vượt qua sự chi phối của thân ngũ uẩn, nhưng ta chưa được như vậy. Phải nói rõ cho Phật tử biết điều này, đừng đóng giả Phật, tự xưng Thánh, rất nguy hiểm.

    Tôi gặp một số Hòa thượng tự xưng nghiệp tăng, hay lão tăng, chẳng hạn như tôi 80 tuổi là lão tăng, có lúc đến giờ ăn, nhưng mải tu, hay phải giải quyết việc, nên không muốn ăn, hay ăn uống thất thường.

    Ngài Tối Trừng là Tổ Thiên Thai tông Nhật Bản, đến 60 tuổi, ngài xả giới Tỳ-kheo, nhưng vẫn làm Tổ. Ngài xả giới không phải là hoàn tục, ngài nói rằng vì già yếu, bệnh hoạn, không thể đi quả đường, tọa thiền cùng đại chúng, hoặc lạy một ngàn lạy mỗi ngày với chúng. Không làm việc của chúng là mất tính cách Tỳ-kheo, nên ngài xin xả giới Tỳ-kheo. Người tu sống thành thật như vậy quả là xứng đáng làm Tổ.

    Ở Việt Nam, Hòa thượng Thiện Hòa là bạn của Hòa thượng Trí Tịnh. Ngài bán thế xuất gia, nhưng trì luật đệ nhất, nên ngài là Luật sư. Xưa kia, Hòa thượng Trí Tịnh là Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự bảo văn phòng đóng dấu tròn trên Tăng điệp của Hòa thượngThiện Hòa, trong khi theo luật bấy giờ phải đóng dấu vuông cho người bán thế xuất gia. Hòa thượng Trí Tịnh nói đóng dấu tròn, vì Hòa thượng Thiện Hòa giữ giới thanh tịnh. Khi cầm Tăng điệp xem, Hòa thượng Thiện Hòa nói rằng ngài đã khai lý lịch là bán thế xuất gia, tại sao lại đóng dấu tròn, yêu cầu Ban Trị sự đóng dấu vuông cho đúng sự thật.

    Tu là chân thật, là thành thật. Nếu tất cả mọi người trong Tăng đoàn đều thành thật là thanh tịnh Tăng, chắc chắn không có vấn đề gì xảy ra. Trái lại, có vị bán thế xuất gia, nhưng sợ người khác biết điều này, nên yêu cầu đóng dấu tròn cho họ. Trong khi Hòa thượng Thiện Hòa yêu cầu đóng dấu vuông của người bán thế xuất gia, nhưng tất cả mọi người đều kính trọng ngài là bậc trưởng thượng.

    Người Nhật quan niệm rằng nếu người không thành thật là bỏ đi.Người tu không thành thật với mình, với Phật, với đạo, với chư Tăng càng phải bỏ đi. Trong Tăng đoàn có người như vậy sẽ bất an, là tạp tăng.

    Vì vậy, trong mùa An cư, nên nhớ mình là thanh tịnh Tăng, không phải tạp tăng, dù có Khất sĩ sống chung, nhưng tất cả đại chúng ở Học viện này đồng thanh tịnh, bắt đầu bằng hai chữ thật tình, thật lòng. 

    Đức Phật học với nhiều Đạo sư và biết rõ từng vị, nhưng về sau, Phật thuyết giáo chỉ đề cập đến Uất Đầu Lam Phất và Kamala là hai vị mà Ngài kính trọng sở đắc, sở chứng của họ và Ngài nương theo thành quả tu tập của họ mà phát triển đời sống tâm linh.

    Riêng chúng ta khi nương với vị Đạo sư mà ta cảm thấy lòng mình hoan hỷ thì nên biết lòng vị này cũng hoan hỷ khiến cho người ngoài thấy họ được hoan hỷ theo. Chính tâm chân thật, thành thật sẽ làm cho mình trở thành người dễ mến; nhà truyền giáo phải được như vậy.

    Thái tử Sĩ Đạt Ta gặp Kamala cảm thấy an lạc, vì ông đã chứng Ly sanh hỷ lạc, nên không lệ thuộc cơm ăn, chỗ nghỉ, danh tiếng, thể hiện một người thật lòng hoàn toàn. Còn gian dối, thiếu thành thật thì dù tu gì cũng không giải thoát, thậm chí cuối cuộc đời còn khổ đau nhiều. Trên bước đường tu, chúng ta dễ nhận ra việc này.

    Tu hành, không lệ thuộc cuộc đời mà tôi thường nói là không lệ thuộc thiên nhiên, không lệ thuộc xã hội, vì ta có nguồn vui trong lòng, trong thiền định, trong ốc đảo của ta.

    Thật vậy, đầu tiên, tu hành phải sống trong ốc đảo của mình, nghĩa là ra làm Phật sự, gặp nhiều chướng ngại phải đối phó thì chỉ cần trở về ốc đảo của mình, thân tâm chúng ta liền trở thành bình thường. Kinh nghiệm cho tôi nhận rõ lý này. Chúng ta làm mọi việc, nhưng cũng sẵn lòng bỏ hết để còn hai chữ giải thoát, để Ly sanh hỷ lạc là tự tại ngoài vòng cương tỏa của cuộc sống vật chất. Nếu không như vậy, ở nhà thì kẹt gia đình, đi tu thì kẹt chùa.

    Kamala được Ly sanh hỷ lạc, nên Sĩ Đạt Ta gặp ông, cảm thấy an lạc, cũng chứng được Ly sanh hỷ lạc đầu tiên; nói cách khác, tâm ông và tâm thái tử gắn liền với nhau, mà Thiền tông gọi là tâm ấn tâm.

    Và bước qua được cửa không lệ thuộc vật chất, mở ra đời sống nội tâm rồi, đi xa hơn, Kamala và thái tử cùng nắm tay nhau vào định vẫn giữ được hỷ lạc gọi là Định sanh hỷ lạc.

    Bước qua cửa thứ ba là Ly hỷ diệu lạc, nghĩa là những nguồn vui có được từ Ly sanh và Định sanh đến đây cũng bỏ luôn, vì đã hiện hữu niềm vui thầm kín bên trong không biết tại sao, nhưng ở hoàn cảnh nào cũng an lạc, nên gọi là diệu lạc.

    Cuối cùng bước thứ tư, thái tử đạt được Xả niệm thanh tịnh. Ngài hỏi Kamala còn gì nữa không. Ông nói đến chỗ này là hết rồi. Từ đầu đi đến cuối chứng được loại hình Không, thái tử mới bái sư, từ tạ ra đi.

    Sự thật Thái tử Sĩ Đạt Ta tầm sư học đạo như vậy đã được kinh Hoa nghiêm diễn tả qua hình ảnh Thiện Tài đồng tử cầu đạo, sau khi hoàn tất việc học với vị nào rồi thì rời bỏ để tiếp tục tìm đến vị thầy khác. Ý này trong thiền có câu nói rằng: “Khô mộc lý long ngâm bằng quân hội đạo khứ”, nghĩa là đã vào thế giới siêu hình của thiền định, tức ngộ đạo rồi thì đi đi.

    Vì vậy, sau khi Sĩ Đạt Ta chứng được Xả niệm thanh tịnh, Ngài tiếp tục tầm sư tìm đến Uất Đầu Lam Phất, tiến vào thế giới tâm thức bao la gọi là Không vô biên xứ. Thiền gọi là vào cửa Không, không còn gì quấy rầy là trụ vô biên vô tận, tầm quan sát của hành giả mở rộng vô cùng. Và đến Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Về sau, Phật giáo gọi là Bát định.

    Lịch sử ghi rằng trước khi Phật vào Niết-bàn, Ngài phô diễn lại trạng thái tu chứng từ Sơ thiền đến Tứ thiền cho đến Không vô biên xứ và sự chuyển biến ngược xuôi như vậy ba vòng rồi Ngài mới Niết-bàn. Theo dấu chân Phật, vị nào thực tập được pháp này, chắc chắn biết rõ giờ chết và xả Báo thân nhẹ nhàng.

    Theo tôi, việc quan trọng trong mùa an cư, Tăng Ni cần xây dựng ốc đảo tâm linh cho mình và từ đây đi xa theo con đường Phật đã đi, nghĩa là từ cuộc đời này, chúng ta tiến vào thiền định quan sát khắp Pháp giới, rồi từ đó chúng ta trở lại cuộc đời. Thực tế chúng ta thấy người có thực tập pháp Phật và tu chững được thì họ sinh hoạt bình thường, nhưng kết quả họ đạt được bất khả tư nghì, khác hẳn người không thể nghiệm giáo pháp. Đó chính là kinh nghiệm tu mà tôi đã trải qua muốn chia sẻ với quý vị.

    Khi đã chứng được Tứ thiền và Bát định, Thái tử Sĩ Đạt Ta chưa bằng lòng thành quả này, nên Ngài đã trở lại việc tu của riêng Ngài. Chúng ta cũng giống như vậy, tuy học chung, nhưng phải có cái riêng của mình, tức khi có được sở đắc sở chứng thì từ đây, chúng ta thực tập pháp riêng của ta.

    Học xong với Kamala và Uất Đầu Lam Phất, Phật trở về thể nghiệm pháp riêng của Ngài, mới dẫn đến quả vị Phật. Nếu không có cái riêng, thì Phật cũng mãi là đệ tử của hai Đạo sư này sao.

    Thật vậy, ông Kamala thấy Sĩ Đạt Ta thông minh, muốn giao tu viện cho thái tử, nhưng Ngài không bằng lòng và ra đi. Nếu là phàm phu thì được kế thừa sự nghiệp lớn của thầy là ở lại liền. Thiết nghĩ học theo Phật, khi còn tiến xa được thì nên cố gắng đi, đừng giậm chân tại chỗ, coi chừng tuột dốc. Tôi thấy những người dừng lại, họ nói rằng họ bị bận rộn suốt ngày. 

    Các thầy cô tốt nghiệp về trụ trì thay thầy làm việc, coi chừng dừng ở đây bị cột chân mình, không tiến tu được, vì phải lo toan nhiều việc, không giải quyết được, khiến tâm rối bời, dẫn đến tình trạng sống giữ chùa, chết làm quỷ giữ chùa. Đối với người tu, nhất định chúng ta phải bước vào thế giới tâm linh để đạt được tinh ba riêng của mình.

    Rời hai Đạo sư Kamala và Uất Đầu Lam Phất, Sĩ Đạt Ta cũng tiếp tục an trụ sở đắc Ly sanh hỷ lạc để bắt đầu quan sát trần thế. Ý này được kinh Hoa nghiêm diễn tả là Hải Vân Tỳ-kheo đứng trên bờ sinh tử quán sát các loài trong biển sinh tử.

    Ly sanh hỷ lạc đối với chúng ta là đứng ngoài cuộc đời bắt đầu quan sát. Tăng Ni xuất thế tục gia là đứng ngoài cuộc đời thế tục quan sát thấy thế tục đáng thương hơn, thấy mình may mắn hơn. Mình đi tu không có gì, nhưng mình có phước đức. Còn người có nhà cửa, tiền tài, danh vọng… thấy tội nghiệp họ quá.

    Đứng ngoài sinh tử quán sát mới thấy cuộc đời tu là phước đức thì chúng ta mới gắn bó tu hành lâu dài được. Ngược lại, thấy bên ngoài hấp dẫn chắc chắn sẽ bỏ tu, hoàn tục. Bạn tôi như vậy rất nhiều, nên đi tới càng không còn mấy người.

    Riêng tôi, quan sát lại, tôi vẫn tiếp xúc với tất cả mọi người. Ở Nhật, tôi cũng tiếp xúc với nghị sĩ, bộ trưởng, thương gia, cho đến những người nghèo, những hội đoàn… tôi thấy cuộc sống họ toàn là phiền não. Nói cách khác, chúng ta bắt đầu đi vào cuộc đời mà kinh Hoa nghiêm gọi là nhập Pháp giới để quan sát cuộc đời, kinh diễn tả hình ảnh Thiện Tài học đạo với Hải Vân.

    Tỳ-kheo này đứng trên bờ biển sinh tử quan sát tất cả các loài, nhận thấy nếu là chuột gặp mèo chắc chắn phải chết, nếu là thỏ gặp chó cũng chết, nếu là nai gặp hổ thì rồi đời… Nhìn sâu vào biển sinh tử, thấy rõ các loài cấu xé, sát hại nhau, không có gì vui; như vậy là chúng ta bắt đầu quan sát ngược lại cuộc đời.

    Nhưng nếu quý vị chứng Ly sanh hỷ lạc, có ốc đảo  tâm linh sẽ thấy an lạc vô cùng. Còn rời cuộc sống của đạo, trở về thế tục, sống với thân tứ đại, chắc chắn phiền phức không ít. Vì vậy, có vị nói thân này là cái thùng phân. Một Thiền sư Trung Hoa đội thùng phân đi, nói rằng thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ. Ông đứng ở ốc đảo giải thoát quan sát thấy thân tứ đại ô uế đáng bỏ.

    Huệ Tư đại Thiền sư nói người ta đánh là đánh cái nghiệp của mình, gây khó khăn là gây khó khăn cho cái nghiệp của mình. Thánh Gandhi thì nói người ta nhốt con chó của ông, hành hạ con chó đó, chứ không nhốt được ông, không hành hạ được ông. Đó là cuộc sống giải thoát của những người có đời sống tâm linh.

    Chúng ta tu hành không có ốc đảo tâm linh để an trụ, thì không khác người trần tục mà còn khổ hơn họ nữa.

     

    Tầm sư học đạo, an trụ hải đảo tâm linh

     Hoà Thượng Thích Trí Quảng –

    Vườn hoa Phật giáo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây Trung Quốc
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Dạy Tăng Cường Tiếng Việt Trong Môn Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Lớp 3 Trường Tiểu Học Võ Thị Sáu
  • Một Số Giải Pháp Giúp Hs Dân Tộc Thạo Tiếng Việt
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số
  • Yên Bái Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • ‘tôi Đang Trong Quá Trình Tầm Sư Học Đạo’

    --- Bài mới hơn ---

  • 15. Phần 4: Tầm Sư Học Đạo
  • Hướng Đến Ngày Nhà Giáo Việt Nam: Nghĩ Về Truyền Thống ‘tôn Sư Trọng Đạo”
  • Thanh Niên Với Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Chùa Bửu Minh Gia Lai
  • 21. Phần 10: Giữ Gìn Thân Khẩu Ý
  • “Tôi đảm nhận công việc ngày hôm qua, kinh nghiệm trong công tác tuyên giáo còn rất ít ỏi, đang trong quá trình tầm sư học đạo”, tân Trưởng ban Tuyên giáo Võ Văn Thưởng chia sẻ.

    Buổi giao ban báo chí đầu xuân Bính Thân sáng nay có sự tham dự của ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư; ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Vũ Đức Đam, Phó thủ tướng và nhiều lãnh đạo ban, bộ trung ương, cơ quan báo chí.

    Nhìn lại báo chí Việt Nam 5 năm qua, ông Đinh Thế Huynh cho rằng, không chỉ diễn ra cuộc cạnh tranh giữa các loại hình báo chí mà còn cả sự cạnh tranh giữa báo chí chính thống với các loại hình truyền thông khác trên Internet (không hoặc chưa được đăng ký pháp luật).

    Nguồn thu nhiều cơ quan báo chí khó khăn, sụt giảm. Tổng biên tập nào cũng thấy rõ sức ép vừa đảm bảo chất lượng thông tin vừa đảm bảo đời sống cán bộ, nhân viên. Báo chí Việt Nam cũng đối mặt thách thức về chất lượng nhân sự so với yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi ngày càng cao của độc giả.

    “Báo chí vừa có tính chiến đấu, hấp dẫn vừa phải có tính nhân văn, đẩy lùi cái xấu cái ác, xây dựng con người Việt Nam có những phẩm chất mới, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Niềm tin của công chúng là mục tiêu, căn cứ để chúng ta hành nghề”, ông Huynh kỳ vọng,

    Ở trách nhiệm mới được giao, ông Đinh Thế Huynh cho biết, sẽ cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để báo chí Việt Nam phát triển, các nhà báo tác nghiệp thuận lợi hơn.

    Ra mắt báo giới trên cương vị Trưởng ban Tuyên giáo, ông Võ Văn Thưởng đánh giá cao báo chí dịp Tết Bính Thân. Ông đề nghị các nhà báo cần nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, bám sát thực tiễn.

    “Tôi mới đảm nhận công việc ngày hôm qua, kinh nghiệm trong công tác tuyên giáo còn rất ít ỏi, đang trong quá trình tầm sư học đạo. Tôi mong các đồng chí lãnh đạo, nhà báo lão thành, đồng nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, góp ý chân thành”, ông Võ Văn Thưởng nói.

    Cảm ơn báo chí đã đồng hành cùng Chính phủ, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam chia sẻ cảm xúc “bâng khuâng” khi buổi giao ban báo chí đầu xuân năm nay thiếu vắng nhà báo Hữu Thọ, đại thụ của làng báo Việt Nam.

    “Tôi mong tinh thần tâm sáng, lòng trong, bút sắc còn mãi trong chúng ta”, ông Đam chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10. Phần 9: Tình Duyên
  • Trường Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • Du Hoc Trung Quốc: Đại Học Dân Tộc Quảng Tây ” Amec
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Học Tập Nghĩa Là Gì ? Tại Sao Phải Học Tập? Tầm Quan Trọng Và Mục Đích

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Viết Một Bài Báo Tường Để Khuyên Một Số Bạn Trong Lớp Phải Học Tập Chăm Chỉ Hơn
  • 20 Câu Danh Ngôn Về Sự Chăm Chỉ Hay Bổ Ích Nhất Mà Ai Cũng Nên Ghi Nhớ
  • Một Số Câu Châm Ngôn Tiếng Anh Nói Về Sự Cố Gắng
  • Bật Mí Giúp Mẹ 11 Phương Pháp Dạy Con Chăm Chỉ Học Hành Và Hiệu Quả
  • Giải Vở Bài Tập Đạo Đức 2 Bài 5: Chăm Chỉ Học Tập Trang 19
  • Theo các nghiên cứu và các sách từ điển thì học tập là:

    • Học và luyện tập để hiểu biết, để có các kỹ năng, để gặt hái được tri thức cho bản thân.
    • Học và rèn luyện để hiểu biết, trang bị các kỹ năng và tri thức: kết quả học tập, siêng năng học tập. Làm theo gương tốt: học tập lẫn nhau, học tập kinh nghiệm.
    • Ngoài ra, nếu định nghĩa theo các nhà tâm lý thì học tập là một sự thay đổi tương đối lâu dài về hành vi, là kết quả của các trãi nghiệm.
    • Học tập là hiểu sâu, hiểu rộng hơn vấn đề, lĩnh vực mà ta muốn biết. Giúp ta trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, làm tăng sự sáng tạo và trí tuệ, để chúng ta áp dụng được vào đời sống và xã hội.

    Các câu danh ngôn về học tập:

    • “Học, học nữa, học mãi” Lenin
    • “Âú nhi học, tráng nhi hành” luận ngữ
    • Học thầy không tày học bạn.
    • Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.
    • Ngọc không mài không thành ngọc quý. Người không học không biết đạo lý
    • Dốt đến đâu học lâu cũng biết.
    • Học ăn, học nói, học gói, học mở.
    • Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.
    • Người không học như ngọc không mài.
    • Học không hiểu, học không hành là học như vẹt.
    • Bộ long làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người.

    Qua các khái niệm nêu ở trên, chắc hẳn các em đã hiểu được tầm quan trọng của việc học tập. Sống trong một xã hội phát triển như ngày nay, nếu các em không chăm chỉ học hành, rèn luyện tính cách, trao dồi cho mình các kiến thức cần thiết, thì các em sẽ là người thất bại thảm hại trong cuộc sống.

    Xã hội càng phát triển, thì các em càng phải đẩy mạnh và đầu tư nhiều hơn cho việc học của mình. Học là phải thật sự học, nghiêm túc và có một sự nghiêm khắc với bản thân thì chính các em mới thật sự tiến bộ. Học nhiều không bao giờ là dư, là vô ích cả. Chỉ có không học mới thật tệ hại và vô dụng mà thôi. Khi bạn đã chú tâm vào việc học, bạn sẽ đạt được những thành tích mà bạn mong muốn. Khi đó, bạn sẽ cảm thấy niềm vui trong việc học tập của mình và cứ thế bạn sẽ có động lực để tiếp tục.

    Khi đã hiểu được đúng nghĩa của khái niệm học tập thì ngay từ bây giờ, các em phải lên kế hoạch cũng như những phương pháp cụ thể cho việc học của mình. Hãy thật nghiêm túc và đặt 1 mốc thời gian cho mình có động lực phấn đấu. Suy nghĩ và vẽ ra cho mình một thời khóa biểu cá nhân, ghi rõ chi tiết các công việc, kế hoạch mà các em đặt ra để làm trong ngày. Dán nó lên bàn học hoặc những nơi mà các em thường thấy để tiện theo dõi. Một chú ý là các em phải hoàn thành các mục tiêu mà mình đặt ra, như thế thì các em mới thành công.

    Hãy nhớ một điều: Thành công sẽ đến với những người siêng năng chứ không đến với những kẻ lười biếng. Trong việc học cũng thế thôi, hãy đầu tư thì các em sẽ nhận lại trong tương lai gấp bội lần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thề Non Hẹn Biển Với Bộ Thành Ngữ Tiếng Anh Về Lời Hứa
  • Cách Viết Về Quê Hương Bằng Tiếng Nhật
  • Nghị Luận Xã Hội Về Đức Tính Chăm Chỉ
  • Khơi Gợi Cảm Hứng Học Nói Tiếng Hàn
  • 3H Em Còn Chưa Ngủ
  • Chill Là Gì? Chill Phết Là Gì? Trong Tiếng Anh Có Nghĩa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Dude Là Gì? Ý Nghĩa Từ Dude Trong Tiếng Anh
  • Ý Nghĩa Thật Sự Của Từ Ost Là Gì Trong Từ Điển Tiếng Anh
  • Du Học Đức Bằng Tiếng Anh 2022: Điều Kiện, Chi Phí Cần Thiết
  • Du Học Nhật Bản Bằng Tiếng Anh
  • 5 Lợi Ích Khi Du Học Hàn Quốc Bằng Tiếng Anh Với Top 5 Trường Đại Học Tốt Nhất
  • Buzzsumo là gì?

    Theo một số giải thích mà Ad được biết, thì Chill là một danh từ thể hiện sự thờ ơ, lạnh nhạt, vô cảm với một sự việc hay hiện tượng nào đó. Chill hiểu một cách đơn giản thì giống như là mặc kệ, “bơ đi mà sống”, dạng như vậy

    Chill out là gì ?

    Chill out là 1 từ lóng tiếng anh, nó là sự thể hiện sự yêu cầu giảm tính nóng nảy. hoặc yêu cầu bạn hãy giải trí, xả hơi vì bạn trông có vẻ mệt mỏi, stress rồi. Nói chung là từ bảo người khác hãy bình tĩnh, đừng nóng giận

    Chill phết trong bài hát của Đen Vâu trên Facebook hiện nay

    Gần đây anh Đen có ra bài mới, tên nghe cực mộc mạc: “Bài Này Chill Phết”. Mới được mấy hôm thôi nhưng hơn đã đạt vài triệu view rồi, từ Chill trong bài viết này có thể nói là lời kêu gọi nhân vật nữ hãy xả hơi, xả stress sau những chuỗi dài công việc vất vả, mệt mỏi!

    Giải thích Netflix and Chill là gì?

    Thông thường, chill có thể dùng như một danh từ, tính từ hoặc động từ với nghĩa lạnh nhạt, ớn lạnh, lạnh lẽo. Tuy nhiên, trong những cuộc trò chuyện trên mạng xã hội, chill thường được dùng với nghĩa lóng: “very relaxed or easygoing”, nghĩa là rất thư giãn, dễ chịu hoặc dễ tính. Nghĩa này có thể hợp với chill trong “Bài này chill phết” của Đen Vâu, sau khi hỏi han về những áp lực, bí bách mà cô gái trong bài hát đang gặp phải, Đen muốn có thể giúp cô ấy thư giãn một chút bằng cách nghe những giai điệu anh đang hát này. Chill phết chính là thư giãn phết, dễ chịu phết.

    Ruby on rails là gì?

    Chill trong tiếng anh có nghĩa là gì?

    1. Chill out = Calm down

    Chill out là một từ lóng trong tiếng Anh, nghĩa tương tự như calm down (hãy bình tĩnh, không nên kích động). Từ này thường được các game thủ sử dụng rất nhiều để khích lệ đồng đội trong khi đang chiến đấu, truyền cảm hứng để mọi người cảm thấy vui vẻ, thoải mái khi đang ở thế yếu hơn địch.

    Ví dụ: Hey, chill out! Everything’s going to be fine. Nghĩa là: Bình tĩnh nào! Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.

    2. Let’s chill! = Let’s hang out.

    Ngày xưa, để rủ ai đó ra ngoài đi chơi thì giới trẻ thường nói là Let’s hang out!, bây giờ các bạn thường nói Guys! Let’s chill! (Đi xả stress đi, đi quẩy đi).

    3. I’m chillin’ = I’m relaxing

    Bạn cũng có thể dùng Chill khi nói về trạng thái đang thư giãn, giải trí của mình, bằng cách dùng câu “I’m just chillin”.

    4. He is chill = He is cool

    Cuối cùng bạn cũng có thể dùng Chill để diễn tả phong cách của một ai đó.

    Ví dụ: He is chill!

    5. chill = ok, no worries

    Từ chill đôi khi được dùng để thể hiện một sự thoải mái trong suy nghĩ, không có gì phải làm nhặng xị lên, không có gì phải làm quá, làm lố lên, cứ thoải mái mà sống.

    Ví dụ: “Oh, I’m really sorry!” – “It’s chill.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạo Từ Trong Tiếng Anh: Mạo Từ Là Gì Và Các Mạo Từ “a”,”an”,”the” Trong Tiếng Anh
  • Tiếng Anh Giao Tiếp Chủ Đề Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu
  • “tiến Sĩ” Trong Tiếng Anh: Định Nghĩa, Ví Dụ
  • N/a Là Gì? Từ N/a Xuất Hiện Trong Excel Có Nghĩa Là Gì?
  • Bài Luận Mẫu Tiếng Anh Về Trường Học Hay
  • Định Nghĩa – Cáp Quang Fiber Optic Có Nghĩa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Kết Quả Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Khoa Học Quản Lý Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Học Sinh Nam Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nam Sinh Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Dùng Thử Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Cáp quang (fiber optic cable) là gì ?

    Một sợi cáp quang (fiber optic cable) là một loại cáp có một số sợi quang đi kèm với nhau, thường được bao phủ trong vỏ nhựa bảo vệ cá nhân của chúng. Cáp quang được sử dụng để chuyển tín hiệu dữ liệu kỹ thuật số dưới dạng ánh sáng lên đến khoảng cách hàng trăm dặm với tốc độ thông lượng cao hơn so với có thể đạt được thông qua dây cáp thông tin liên lạc.

    Tất cả các sợi quang học đều sử dụng lõi silicon trong suốt giống như tóc được phủ một lớp phủ ít khúc xạ để tránh rò rỉ ánh sáng vào môi trường xung quanh. Do độ nhạy cực cao của sợi quang, nó thường được phủ bằng vật liệu bảo vệ nhẹ, có độ bền cao như Kevlar.

    Sản phẩm tiêu biểu:

    Cáp quang được sử dụng rộng rãi trong truyền thông cáp quang.

    Giải thích cáp quang

    Được triển khai thương mại lần đầu tiên vào năm 1977, cáp quang là nguồn chính của truyền thông đường dài, băng thông cao giữa các công ty điện thoại, tổ chức nhiều trang web và các ứng dụng truyền thông tầm xa khác. Các thành phần của cáp quang bắt đầu với áo khoác ngoài, được làm bằng một vật liệu mạnh mẽ và thường linh hoạt.

    Tiếp theo là vỏ nhựa được sử dụng để bó cáp quang cá nhân. Một sợi quang thường bao gồm một lõi trong suốt được bao quanh bởi một vật liệu ốp trong suốt với chỉ số khúc xạ thấp hơn. Ánh sáng được giữ trong lõi bằng sự phản xạ toàn bộ bên trong. Ánh sáng bước sóng đơn hoặc nhiều bước sóng được truyền qua lõi và tiếp tục di chuyển bên trong lõi do chỉ số khúc xạ thấp hơn bao quanh nó, làm cho ánh sáng trở lại khi nó cố gắng trốn thoát.

    Thế giới viễn thông đang nhanh chóng chuyển từ các mạng dây đồng sang quang học sợi quang. Sợi quang là một sợi thủy tinh tinh khiết rất mỏng, hoạt động như một ống dẫn sóng cho ánh sáng trên một khoảng cách dài. Nó sử dụng một nguyên tắc gọi là tổng phản xạ nội bộ. Cáp quang thực sự bao gồm hai lớp kính: lõi, mang tín hiệu ánh sáng thực tế, và lớp ốp, là một lớp kính bao quanh lõi.

    Lớp phủ có chỉ số khúc xạ thấp hơn lõi. Điều này gây ra Total Internal Reflection trong lõi. Hầu hết các sợi hoạt động trong các cặp song công: một sợi được sử dụng để truyền và một sợi được sử dụng để nhận. Nhưng có thể gửi cả hai tín hiệu trên một sợi đơn.

    Có hai loại cáp quang chính: Cáp quang Single Mode Fiber (SMF)cáp quang Multi-Mode Fiber (MMF).

    Sự khác biệt về cơ bản là kích thước của lõi. MMF có lõi rộng hơn nhiều, cho phép nhiều chế độ (hoặc “tia”) của ánh sáng phát tán. SMF có một lõi rất hẹp cho phép chỉ có một chế độ ánh sáng duy nhất để truyền đi. Mỗi loại chất xơ có đặc tính khác nhau với những ưu điểm và nhược điểm riêng.

    Tại sao sử dụng cáp quang?

    • Cáp quang có thông tin thực tế không giới hạn
    • Cáp quang có khả năng mang cao (băng thông rộng, THz hoặc Tbits / s)
    • Cáp quang có tổn thất truyền dẫn rất thấp (<0,2dB / km, cf1dB / km vi sóng, cặp đồng xoắn 10db / km)
    • Cáp quang không tiêu tan nhiệt
    • Cáp quang miễn nhiễm với nhiễu chéo và nhiễu điện từ sợi cáp quang

    Cáp quang có nhiều công dụng trong nhiều tình huống khác nhau trong các ngành công nghiệp và ứng dụng. Hãy xem một số cách sử dụng sau:

    Y khoa

    Sợi quang thích hợp cho việc sử dụng y tế. Chúng có thể được làm bằng các sợi mềm, cực kỳ mỏng để chèn vào phổi, mạch máu và nhiều phần rỗng của cơ thể. Những sợi quang này được sử dụng trong một số dụng cụ cho phép các bác sĩ quan sát các bộ phận cơ thể bên trong mà không thực hiện bất kỳ phẫu thuật nào.

    Viễn thông

    Sợi quang được cài đặt và sử dụng cho mục đích nhận và truyền. Truyền tải điện thoại sử dụng cáp quang. Những sợi này truyền năng lượng dưới dạng xung ánh sáng. Công nghệ của nó tương đương với công nghệ của cáp đồng trục, ngoài việc các sợi quang có thể xử lý hàng nghìn cuộc hội thoại đồng thời.

    Mạng

    Sợi quang được sử dụng để kết nối các máy chủ và người dùng trong một loạt các cài đặt mạng và cũng giúp tăng độ chính xác và tốc độ truyền dữ liệu.

    Công nghiệp / Thương mại

    Các sợi được sử dụng để chụp ảnh trong các khu vực tiếp cận, chẳng hạn như các thiết bị cảm ứng để tạo ra nhiệt độ, như là dây điện nơi EMI là một vấn đề, áp lực, như hệ thống dây điện trong các thiết lập công nghiệp và ô tô. Các công ty truyền hình cáp / CATV sử dụng cáp sợi quang để kết nối HDTV, CATV, video theo yêu cầu, internet và nhiều ứng dụng khác.

    Quốc phòng / Chính phủ

    Chúng được sử dụng làm hydro cho SONAR và sử dụng địa chấn, chẳng hạn như hệ thống dây điện trong tàu ngầm, máy bay và các loại xe khác.

    Lưu trữ dữ liệu

    Cáp quang được sử dụng để lưu trữ dữ liệu cũng như truyền dẫn.

    Cáp quang cũng được sử dụng để chụp ảnh và chiếu sáng và làm cảm biến để theo dõi và đo lường một loạt các biến. Hơn nữa, cáp quang được sử dụng trong phát triển, nghiên cứu và thử nghiệm trên tất cả các ứng dụng nói trên.

    Cáp quang: điều gì khiến chúng nhanh?

    Theo truyền thống, Internet được phân phối qua cáp đồng trục (cáp Internet) hoặc đường dây điện thoại (DSL). Fiber Internet sử dụng cáp sợi quang siêu mỏng và thực sự được làm bằng thủy tinh. Các cáp quang này truyền các xung ánh sáng, và thực sự có thể truyền tải dữ liệu nhanh hơn, và cung cấp gấp 10 lần khả năng của hầu hết các kết nối Internet ngày nay trong các ngôi nhà và các doanh nghiệp nhỏ.

    Bởi vì cáp sợi chỉ truyền các xung ánh sáng, chúng thực sự làm cho cáp quang kém nhạy cảm với nhiễu và nhiễu.

    Cáp quang nghe khá tuyệt. Có bất kỳ hạn chế nào không?

    Câu hỏi tuyệt vời. Công nghệ sợi quang khá tuyệt vời, nhưng nó có một giới hạn nghiêm trọng: tính khả dụng. Mạng cáp quang không khả dụng ở mọi nơi. Trong thực tế, chúng được nhắm mục tiêu đến các thành phố lớn (vì có nhiều người nhất có thể hưởng lợi từ nó).

    4.5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cung Cấp Măng Xông Quang Chất Lượng Tốt
  • Sợi Quang Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Môn Sinh Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Từ Vựng Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Từ Mới Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Lực Là Gì, Lực Tiếng Anh Nghĩa?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Duy Tuyến Tính Là Gì? Hỗ Trợ Học Ielts Tốt Hơn
  • Chú Trọng Phát Triển Năng Lực Giao Tiếp Tiếng Anh Của Học Sinh
  • Giới Thiệu Về Bảng Chữ Cái Tiếng Trung
  • Các Hợp Chất Thiên Nhiên Có Hoạt Tính Sinh Học
  • Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Đánh Giá Hoạt Tính Sinh Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên
  • :9-1,2 trường hợp trọng lượng của vật ko đổi, định luật này hàm ý rằng gia tốc của vật tỷ lệ thuận sở hữu tổng lực tác dụng lên nó, cũng như theo hướng của tổng lực, và tỷ lệ nghịch mang kích thước của vật. Biểu diễn bằng công thức:

    displaystyle vec F=mvec a

    với mũi tên ám chỉ đây là đại lượng vectơ mang độ to và hướng.

    những khái niệm tương tác tới lực gồm: phản lực, làm tăng vận tốc của vật; lực cản khiến cho giảm véc tơ vận tốc tức thời của vật; và mô men lực tạo ra sự đổi thay trong véc tơ vận tốc tức thời quay của vật. Giả dụ không coi vật là chất điể,, mỗi phần của vật sẽ tác dụng các lực lên những phần ngoài nó; sự sắp xếp các lực này trong vật thể được gọi là ứng suất cơ học.

    Sự hình thành định nghĩa Lực:

    những nhà triết học thời truyền thống đã sử dụng khái niệm lực trong nghiên cứu những vật vận động và đứng yên cũng như những máy đơn giản, Dù vậy những triết nhân như Aristotle và Archimedes đã mắc phải các sai sót cơ bản lúc nghiên cứu về lực. Một phần là do sự hiểu biết không tất cả về dấu hiệu lực của ma sát, dẫn tới cách nhìn ko thỏa đáng về bản chất của di chuyển trong khi không. Đầu thế kỷ XX, Albert Einstein sáng tạo ra thuyết hơi cho phép tiên đoán đúng đắn tác dụng của lực lên các vật với di chuyển xấp xỉ tốc độ ánh sáng, cũng như đem lại hiểu biết mới về tính chất của lực quyến rũ và quán tính.

    Cơ học Newton

    Bài chi tiết: những định luật chuyển động của Newton

    Isaac Newton miêu tả vận động của tất cả vật bằng tận dụng khái niệm quán tính và lực, và ông cũng nhận biết rằng chúng tuân theo 1 số định luật bảo toàn. Năm 1687, Newton công khai cuốn sách Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica chứa nội dung về các nghiên cứu của ông. Trong cuốn sách này, Newton dẫn ra ba định luật di chuyển mà cho đến bây giờ là phương pháp mà lực được miêu tả trong vật lý học. Định luật này mở rộng quan niệm của Galileo về vận tốc ko đổi luôn kết hợp sở hữu sự thiếu đi lực tác dụng (xem miêu tả chi tiết bên dưới). Newton yêu cầu rằng mỗi vật mang kích thước sẽ có quán tính tự thân như là hàm của “trạng thái tự nhiên” đồng bộ cơ bản trong sáng kiến của Aristote về “trạng thái nghỉ tự nhiên”. Bởi thế, định luật đầu tiên mâu thuẫn với niềm tin trực giác của Aristote rằng hợp lực là cần thiết nhằm duy trì 1 vật đi lại sở hữu véc tơ vận tốc tức thời ko đổi. Bằng phương án đặt trạng thái nghỉ chẳng thể phân biệt về mặt vật lý sở hữu trạng thái của vật sở hữu véc tơ vận tốc tức thời ko đổi khác 0, định luật đầu tiên của Newton trung tâm thương mại trực tiếp quán tính có khái niệm véc tơ vận tốc tức thời hơi của Galileo. Đặc trưng, trong hệ mà những vật đang chuyển động sở hữu ưa thích véc tơ vận tốc tức thời khác nhau, sẽ không thể xác định được vật nào là “đang chuyển động” và vật nào là “đang đứng yên”. Kể bí quyết khác, các định luật vật lý là như nhau trong mỗi hệ quy chiếu quán tính, nghĩa là những hệ tuân theo phép chuyển đổi Galileo.

    ví dụ, khi ngồi trong 1 cái xe đi lại với véc tơ vận tốc tức thời đều, những định luật vật lý xảy ra trong loại xe sẽ không khác gì khi nó đứng yên khá. Một người ngồi trong xe ném lên một quả bóng sẽ bắt lại được lúc nó rơi xuống mà không bị tương tác bởi hướng và véc tơ vận tốc tức thời của chiếc xe. Điều này còn đúng ngay cả lúc sở hữu 1 người đứng ở mặt đất quan sát thấy xe chạy qua và quả bóng ném trong xe đi theo quỹ đạo parabol theo hướng của loại xe. Quán tính của quả bóng hòa đồng với vận tốc ko đổi của nó theo hướng của cái xe vận động đảm bảo rằng quả bóng tiếp đến vận động theo hướng đó ngay cả khi nó bị ném lên và rơi xuống. Từ quan sát của người ngồi trong xe, chiếc xe và đa số vật dụng khác bên trong nó ở trong trạng thái nghỉ: trong khi toàn cầu bên xung quanh đang đi lại có véc tơ vận tốc tức thời không đổi theo hướng ngược lại với chiều vận động của cái xe. Do ko với 1 thí nghiệm nào mang thể phân loại được loại xe đang đứng im hay toàn cầu bên ko nhắc đang đứng im, hai cảnh huống này được coi là không thể phân biệt được về mặt vật lý. Bởi thế quán tính áp dụng 1 giải pháp bằng nhau cho hệ đi lại với vận tốc đều hay khi nó đứng im.

    có thể tổng quát định nghĩa quán tính 1 bí quyết sâu hơn nhằm giảng giải cho khuynh hướng của các vật tiếp tới trong ưa chuộng dạng khác nhau của chuyển động đều, ngay cả ngẫu nhiên dừng trong vận động đều. Quán tinh quay của trái đất toát lên ở sự không thay đổi độ dài của ngày và của năm (khi ko đề cập tới các ảnh hưởng khác). Albert Einstein đã mở mang nguyên lý quán tính khi ông áp dụng cho các hệ chuyển động có gia tốc không đổi, như hệ quy chiếu lắp sở hữu những vật rơi tự do trong trường quyến rũ địa cầu sẽ đồng nhất vật lý với hệ quy chiếu quán tính. Điều này giảng giải tại sao, ví dụ, những nhà du hành vũ trụ với đón nhận không khối lượng khi ở trên quỹ đạo rơi tự do nói quanh nói quẩn địa cầu, và vì sao các định luật vận động của Newton có thể dễ dàng kiểm chứng trong môi trường ko trọng lực (hoặc vi trọng lực). Giả dụ nhà du hành đặt 1 vật kích thước trong tàu vũ trụ, nó sẽ giữ trạng thái đứng im so sở hữu con tàu do quán tính. Điều này xảy ra hệt khi nhà du hành và con tàu vũ trụ ở trong khoảng không liên thiên hà lúc không mang lực tác dụng của lực hấp dẫn tác dụng lên hệ quy chiếu trong con tàu. Đây chính là nguyên lý đồng đều và nó là 1 trong các cơ sở của thuyết tương đối tổng quát.

    displaystyle vec F=frac mathrm d vec pmathrm d t,

    có displaystyle scriptstyle vec pdisplaystyle scriptstyle vec Fmang thể sở hữu thông thoáng lực tác dụng (cân bằng nhau) vào hệ. Ngược lại, định luật vật dụng hai đề cập rằng lúc lực không giao hòa tác dụng lên vật sẽ khiến cho động lượng của vật chuyển đổi theo thời gian.:9-1,9-2

    Định luật hai chỉ áp dụng cho hệ có kích thước không đổi,:12-1 mặc dù nó đúng về bản chất toán học. Thịnh hành nhà vật lý, triết học và toán học nức tiếng đi mua 1 bí quyết khái niệm hiển cho khái niệm lực bao gồm Ernst Mach, hay Walter Noll.

    Định luật hai cũng được áp dụng để đo độ lớn của lực. Tỉ dụ, lúc biết khối lượng của hành tinh cùng với gia tốc của nó trên quỹ đạo cho phép tính ra được lực quyến rũ ảnh hưởng lên hành tinh đó.

    Định luật đồ vật ba

    Bài chi tiết: Định luật trang bị ba của Newton

    Định luật đồ vật ba của Newton là kết quả của áp dụng tính đối xứng cho giả dụ khi lực với ảnh hưởng đáng kể lên những vật khác nhau. Định luật thiết bị ba có tức thị toàn bộ lực là sự tác động giữa những vật mang nhau, và do vậy ko sở hữu vật dụng như lực vô hướng hay lực tác dụng chỉ lên 1 vật. Bất cứ lúc nào vật tiên phong tác dụng lực F lên vật thứ hai, vật thứ hai sẽ tác dụng lực −F lên vật đầu tiên. F và −F mang độ to bằng nhau nhưng ngược hướng. Định luật này thỉnh thoảng còn gọi là định luật tác dụng-phản tác dụng, với F gọi là “tác dụng” và −F là “phản tác dụng”. Tác dụng và phản tác dụng là đồng thời:

    displaystyle vec F_1,2=-vec F_2,1.

    trường hợp vật 1 và vật 2 được coi trong cùng 1 hệ, khi đấy hợp lực tác dụng lên hệ do sự tương tác giữa vật 1 và 2 là bằng 0 do

    displaystyle vec F_1,2+vec F_mathrm 2,1 =0

    displaystyle sum vec F=0.

    tích hợp định luật hai và ba của Newton, mang thể toát lên được rằng động lượng của 1 hệ là bảo toàn. Tận dụng

    displaystyle vec F_1,2=frac mathrm d vec p_1,2mathrm d t=-vec F_2,1=-frac mathrm d vec p_2,1mathrm d t

    và tích phân theo thời kì, thu được phương trình:

    displaystyle Delta vec p_1,2=-Delta vec p_2,1

    Đối với hệ bao gồm vật một và 2,

    displaystyle sum Delta vec p=Delta vec p_1,2+Delta vec p_2,1=0

    Theo thuyết tương đối hẹp

    Trong thuyết khá hẹp, trọng lượng và năng lượng là tương đương sở hữu nhau qua công thức E = mc 2 (như lúc tính toán công cần thiết để gia tốc 1 vật). Lúc vận tốc của vật tăng lên, thì năng lượng của nó cũng nâng cao và do vậy kích thước cũng nâng cao đồng điệu (quán tính). Do đó cần rộng rãi lực hơn để gia tốc nó so có lúc vật với véc tơ vận tốc tức thời nhỏ. Định luật hai của Newton viết dưới dạng

    displaystyle vec F=mathrm d vec p/mathrm d t

    vẫn còn đúng theo khái niệm toán học.

    Trong công đoạn đầu của thuyết tương đối đặc biệt, biểu thức displaystyle gamma ^3mdisplaystyle gamma mhơi tính ko tạo ra gia tốc đều, mà gia tốc của vật giảm khi vận tốc của nó tiệm cận tới tốc độ ánh sáng. Xem trọng rằng displaystyle gamma ko xác định đối mang vật mang kích thước nghỉ khác 0 tại vận tốc ánh sáng, và lý thuyết tương đối ko cho một tiên đoán nào về vật tại vận tốc này.

    có thể viết lại khái niệm lực theo thuyết khá như sau

    displaystyle F^mu =mA^mu ,

    bằng cách giải quyết sử dụng vectơ-4. Biểu thức này đúng trong thuyết khá khi displaystyle F^mu displaystyle m là khối lượng bất biến, và displaystyle A^mu Như những định nghĩa vật lý khác (ví dụ nhiệt độ), cách hiểu trực giác về lực được lượng hóa nhờ sử dụng khái niệm khắc họa chuẩn xác (operational definition) mà nó tương tự trực diện có kết quả nhìn thấy và phạm vi đo tiêu chuẩn. Thông qua thể nghiệm, các nhà vật lý xác định được rằng lực đo trong phòng thí nghiệm là hoàn toàn đồng nhất sở hữu lực định nghĩa trong cơ học Newton.

    Lực tác dụng theo 1 hướng cụ thể sở hữu độ to phụ thuộc vào sự kéo hay đẩy đi mạnh bao nhiêu. Bởi các tính chất này, lực được phân chiếc thành đại lượng “vectơ”. Điều này sở hữu nghĩa rằng lực tuân theo một bộ những quy định toán học khác có những đại lượng vật lý ko sở hữu hướng (đại lượng vô hướng). Tỉ dụ, lúc xác định kết quả của hai lực tác dụng lên cộng 1 vật, nên buộc phải biết rõ độ to và hướng của từng lực nhằm tính toán ra hiệp lực. Chỉ nên thiếu 1 trong hai thông báo này ở mỗi lực thì cảnh huống sẽ trở lên lập lờ. Như nếu bạn biết hai người đang kéo cùng một sợi dây mà đã biết độ lớn lực kéo nhưng bạn lại ko biết mỗi người kéo theo hướng nào, thì bạn sẽ không thể xác định được gia tốc của sợi dây là bao nhiêu. Hai người với thể kéo theo hai hướng ngược nhau như trong trò kéo co hoặc hai người cộng kéo về 1 hướng. Trong ví dụ 1 chiều đơn giản này, nếu ko biết hướng của lực thì sẽ chẳng thể biết được tổng hiệp lực là kết quả của việc cùng hay trừ độ lớn của hai lực. Lực lắp sở hữu định nghĩa vectơ cho phép tránh được các cạnh tranh này.

    Về mặt lịch sử, những nhà khoa học nghiên cứu lực trong điều kiện hòa đồng tĩnh thứ nhất khi đấy một đôi lực với thể triệt tiêu lẫn nhau. Những thí nghiệm này minh hóa tính chất nhu yếu của lực ấy là đại lượng vectơ cộng được: chúng với độ lớn và hướng.

    hòa đồng

    hài hòa cơ học xuất hiện khi hợp lực tác dụng lên 1 điểm bằng 0 (hay tổng những vectơ lực bằng 0). Khi mở rộng sang cho vật thực, phải thêm 1 điều kiện nữa là tổng mô men lực cũng buộc phải bằng 0.

    có hai mẫu hài hòa là giao hòa tĩnh và hòa hợp động.

    Trạng thái đồng bộ

    các nhà công nghệ hiểu khá rẻ về trạng thái hài hòa tĩnh trước lúc cơ học cổ điển có mặt trên thị trường. Những vật đứng im sẽ có tổng hiệp lực tác dụng lên nó bằng 0.

    nếu đẩy hay kéo 1 vật mang tính đến ma sát bề mặt khiến vật không vận động được bởi vì lực tác dụng vào bị chống lại bởi ma sát tĩnh (hay ma sát nghỉ), tạo ra giữa vật và bề mặt nó nằm lên. Lúc vật ko đi lại, lực ma sát tĩnh hòa hợp chính xác sở hữu lực tác dụng và hiệp lực bằng 0. Ma sát tĩnh tăng hoặc giảm nhằm đáp ứng lại lực tác dụng vào cho tới một giới hạn trên xác định bởi bản chất của bề mặt tiếp xúc và vật thể ấy.

    Hơn nữa bất kỳ vật nào chuyển động có vận tốc đều thì hợp lực tác dụng vào nó buộc phải bằng 0. Đây chính là khái niệm của hài hòa động: lúc đa phần lực tác dụng lên 1 vật sẽ cân bằng sao cho vật đấy vẫn vận động mang vận tốc ko đổi.

    1 ví như giản dị của hòa đồng động ấy là vật chuyển động đều trên bề mặt có ma sát động. Trong nếu này, lực tác dụng theo hướng di chuyển trong khi lực ma sát động tác dụng theo hướng ngược lại. Kết quả là tổng hợp lực bằng 0, nhưng do từ đầu vật đi lại mang véc tơ vận tốc tức thời ko đổi, bởi vậy vật tiếp tục di chuyển sở hữu véc tơ vận tốc tức thời đều đó. Aristotle đã hiểu sai về chuyển động đều thiên nhiên nhận ra được sự sở hữu mặt của ma sát động giữa những bề mặt.

    Biểu đồ Feynman

    Bài chi tiết: Biểu đồ Feynman

    Tính hữu dụng của biểu đồ Feynman ở chỗ những hiện tượng vật lý khác trong bức tranh chung của tương tác cơ bản nhưng về mặt khái niệm khác hẳn với khái niệm lực vẫn được diễn tả trong cộng những quy tắc của biểu đồ. Thí dụ, biểu đồ Feynman sở hữu thể diễn tả hàm súc 1 cách yếu tố tiến trình 1 hạt neutron phân rã thành một electron, proton, và phản neutrino electron, thúc đẩy được truyền bởi cộng boson gauge của thúc đẩy yếu. rắc rối những nguyên tử đi xuyên qua nhau. Nhất quán, lực đàn hồi từ những lò xo, như mô hình hóa bởi định luật Hooke, là kết quả của lực điện từ và nguyên lý cái trừ phối hợp với nhau tác dụng vào vật làm cho nó trở về vị trí hòa hợp. Lực ly tâm là lực gia tốc có mặt từ sự gia tốc của 1 hệ quy chiếu quay.:359

    Lực hấp dẫn

    có độ lớn khoảng 9,81 mét trên giây bình phương (giá trị này đo tại mức nước biển và mang thể cập nhật phụ thuộc vào vị trí), và vectơ này hướng về tâm địa cầu.

    displaystyle vec g=-frac Gm_oplus R_oplus ^2hat r

    sở hữu hướng của vectơ theo hướng của vectơ doanh nghiệp displaystyle scriptstyle hat rko kể. dù rằng thời Newton người ta chưa xác định được nó. Cho đến tận năm 1798 Henry Cavendish mới lần thứ nhất sở hữu thể xác định được giá trị của displaystyle G bằng thể nghiệm cân xoắn thăng bằng; thử nghiệm này chóng vánh trở lên nổi tiếng lúc việc xác định được giá trị của displaystyle G cũng đồng nghĩa sở hữu việc xác định được kích thước của địa cầu. Đi xa hơn, Newton còn hưởng thụ do hầu hết thiên thể tuân theo cùng những định luật của Kepler, vì thế định luật quyến rũ của ông đề nghị mang tính phổ biến. Định luật vạn vật quyến rũ của Newton phát biểu rằng lực tác dụng lên một khối cầu kích thước displaystyle m_1displaystyle m_2

    displaystyle vec F=-frac Gm_1m_2r^2hat r

    có displaystyle r là khoảng cách giữa tâm hai khối cầu và displaystyle scriptstyle hat rđầu tiên tới tâm của vật thể đồ vật hai. đã được sáng kiến nhằm tính toán những sai lệch trong quỹ đạo của thiên thể trong bài toán thoáng đãng vật như hệ hành tinh, vệ tinh ngẫu nhiên, sao chổi, hay tiểu hành tinh. Phương án này đủ xác thực để giúp các nhà thiên văn học tiên đoán sự tồn tại của Sao Hải Vương trước khi họ quan sát thấy nó.

    nói từ ấy, thuyết tương đối rộng được công nhận là lý thuyết thấp nhất miêu tả được lực quyến rũ. Trong thuyết hơi rộng, lực quyến rũ ko được nhìn như là 1 lực, bởi chuyển động rơi tự do của vật trong trường hấp dẫn đi theo đường trắc địa trong không thời kì cong – hay là đường ngắn nhất giữa hai sự kiện trong không thời kì. Từ vật rơi tự do, toàn bộ di chuyển xảy ra chừng như chẳng hề do lực quyến rũ bên xung quanh ảnh hưởng hay không còn lực hấp dẫn. Chỉ lúc nhận xét trên tổng quan cả hệ, độ cong của ko thời gian mới mang thể nhận biết và lực xuất hiện như là 1 phương pháp giảng giải cho vật đi theo những quỹ đạo cong. Bởi thế, đường thẳng trong không thời kì tương ứng mang đường cong trong khu vực, hay quỹ đạo đường đạn của vật. Tỉ dụ, một quả bóng rổ ném lên từ mặt đất sẽ đi lại theo quỹ đạo hình parabol trong trường hấp dẫn đều. Quỹ đạo trong không thời gian của nó (khi tính tới chiều thời gian ct) sẽ là 1 đường sắp thẳng, tương đối cong (với bán kính cong mang độ to tới vài năm ánh sáng). Kết quả của đạo hàm thời kì của động lượng của vật được đồng nhất có “lực hấp dẫn”.:4-6 lớn 4-8 vì thế điện trường trong thể tích được định nghĩa như là

    displaystyle vec E=vec F over q

    với displaystyle qto của điện tích thử.

    Trong lúc ấy, người ta cũng thể hiện ra lực Lorentz của 1 nam châm tồn tại giữa hai dây dẫn với dòng điện. Nó mang cộng một tính chất toán học như định luật Coulomb lúc mà những dây điện mang thể hút hoặc đẩy lẫn nhau tùy thuộc vào chiều của cái điện chạy trong mỗi sợi dây. Tương đương như điện trường, từ trường được dùng để xác định lực từ tác dụng lên 1 dây dẫn điện tại 1 điểm bất kỳ trong khu vực. Nhất quán rong nếu này, độ to của từ trường sẽ được xác định là

    displaystyle B=F over Iell

    với displaystyle I là độ lớn của mẫu điện chạy qua dây dẫn và displaystyle scriptstyle ell chiếc điện thí điểm chạy qua. Từ trường tác dụng một lực lên tất cả nam châm như từ trường địa cầu tác dụng lên kim la bàn và được những showroom hải, hoa sử dụng để định vị phương hướng.

    duyệt y phối hợp định nghĩa của cái điện bằng sự làm mới theo thời gian của các hạt điện tích chạy trong dây dẫn, Lorentz nêu ra nguyên tắc tích vectơ xác định lực Lorentz diễn tả lực tác dụng lên một điện tích di chuyển trong từ trường. “Phương trình Maxwell” diễn tả gần như căn nguyên của trường điện từ đứng im hay đi lại, cũng như tác động giữa chúng. Điều này dẫn Maxwell đến tìm tòi ra rằng từ trường và điện trường với thể tự duy trì lẫn nhau trong dung tích dưới dạng sóng lan truyền với tốc độ mà ông tính ra được bằng tốc độ ánh sáng. Ý nghĩa này đem đến sự đồng điệu của ngành điện từ học non trẻ với ngành quang học cũng như dẫn trực diện tới sự diễn tả đầy đủ hơn về phổ điện từ.

    có 1 sự hiểu nhầm rộng rãi khi cho rằng độ cứng và rắn của chất rắn là do lực đẩy điện từ giữa các điện tích cùng dấu. Ngoài ra, tính cứng và rắn của vật chất là hệ quả từ nguyên lý dòng trừ Pauli. Do electron là những fermion, chúng ko thể ở cộng một trạng thái lượng tử. Khi những electron trong nguyên tử bị nén chặt lại, sẽ ko có đủ trạng thái cơ lượng tử sức khỏe rẻ cho gần như electron (và là 1 trong những hệ quả của nguyên lý bất định), vì vậy 1 số electron nên ở trạng thái năng lượng cao hơn. Điều này có tức là nên với rộng rãi sức khỏe hơn để nén chúng lại. Trong khi đó, đối với từng nguyên tử thì chỉ mang một số hữu hạn số trạng thái mà những electron có thể chiếm giữ trên obitan nguyên tử.

    Lực hạt nhân

    Bài chi tiết: Lực hạt nhân nhìn thêm: tác động mạnh và thúc đẩy yếu

    với hai loại “lực hạt nhân” mà bây giờ được coi là các tác động khắc họa bởi các lý thuyết trường lượng tử trong vật lý hạt. Lực hạt nhân mạnh:951 gây ra sự phân rã của một số nucleon và hạt nhân thành những lepton và các hạt hadron khác.

    Lực hạt nhân mạnh là tương tác giữa các quark và gluon cũng như liên kết các proton và neutron sở hữu nhau, như được khắc họa trong thuyết sắc động lực học lượng tử (QCD).:93 tỉ dụ, lực pháp tuyến cản trở ko cho dòng bàn bị thụt xuống sàn nhà. Không tính ra lực pháp tuyến xuất hiện lúc có 1 lực tương tác va vào 1 bề mặt ko vận động được.

    Ma sát

    Ma sát là lực bề mặt chống lại phong trào vận động tương đối giữa hai vị trí bề mặt. Lực ma sát tỷ lệ trực tiếp mang lực pháp tuyến giữ cho hai vật rắn tách rời nhau ở các điểm chịu tác động. Lực ma sát được phân loại thành hai dòng lực: ma sát tĩnh và ma sát động.

    Lực ma sát tĩnh (displaystyle F_mathrm sf mang lực tác dụng song song sở hữu bề mặt chịu tác động cho đến một ngừng xác định bởi hệ số ma sát tĩnh (displaystyle mu _mathrm sf sở hữu lực pháp tuyến (displaystyle F_Nđề cập cách khác độ lớn của ma sát tĩnh thỏa mái bất đẳng thức:

    displaystyle 0leq F_mathrm sf leq mu _mathrm sf F_mathrm N

    Ma sát động (displaystyle F_mathrm kf có cả lực tác dụng và sự di chuyển của vật. Bởi vậy độ lớn của lực ma sát động bằng:

    displaystyle F_mathrm kf =mu _mathrm kf F_mathrm N

    có displaystyle mu _mathrm kf mang toàn bộ những bề mặt chịu tác động, hệ số ma sát động nhỏ hơn hệ số ma sát tĩnh.

    Sức căng

    Lực căng được mô hình hóa bằng những dây lý tưởng ko mang khối lượng, không gây ma sát, ko thể phá vỡ vạc được và không bị kéo giãn. Chúng có thể hòa hợp có những ròng rã rọc tuyệt vời cho phép những dây tuyệt vời đổi thay hướng lực tác dụng. Những dây tuyệt vời truyền lực căng 1 cách ngay tức khắc trong cặp tác dụng-phản tác dụng sao cho nếu hai vật nối có nhau bởi 1 dây hoàn hảo, bất kỳ lực nào hướng dọc theo dây gây phải bởi vật trước tiên được hòa đồng với 1 lực hướng dọc theo dây theo hướng ngược lại gây bởi vật trang bị hai.

    Lực đàn hồi

    Bài chi tiết: Lực đàn hồi và Định luật Hooke

    Lực đàn hồi tác dụng lên lò xo khiến cho nó khôi phục lại trạng thái ban đầu. Một lò xo hợp lý được coi là không mang kích thước, ko có ma sát, không bị đứt gãy, và có thể dãn vô hạn. Các lò xo này tác dụng lực đẩy khi chúng bị nén ngắn lại, hoặc lực kéo lúc bị kéo dài, lực này tỉ lệ có độ dịch chuyển của lò xo từ vị trí hài hòa của nó.:133-134

    fake lực (lực ảo)

    Trong thuyết khá rộng, lực hấp dẫn tăng cường thành nhái lực khi nó có mặt trong các tình huống tình cờ thời gian được coi là thể tích cong hơn là thể tích phẳng.

    Quay và xoắn

    Lực đi kèm với mômen lực làm quay vật. Về mặt toán học mô men lực của một lực displaystyle scriptstyle vec Fvới một điểm bất kỳ duyệt y tích mang hướng:

    displaystyle vec tau =vec rtimes vec F

    với

    displaystyle scriptstyle vec rsở hữu điểm quy chiếu.

    Ngẫu lực là sự quay đồng nhất của lực theo cùng cách giải quyết mà vec tơ vị trí quay 1 góc đồng đều, hoặc vec tơ vận tốc góc cho vận tốc và mô men động lượng cho động lượng. Theo hệ quả của Định luật đầu tiên Newton, tồn tại quán tính quay để bảo đảm toàn bộ vật sẽ vẫn duy trì mô men động lượng của nó trừ lúc có ngẫu lực ko hài hòa tương tác lên. Tương tự, Định luật vật dụng hai Newton được tận dụng để suy ra phương trình cho gia tốc góc ngay thức thì của vật rắn:

    displaystyle vec tau =Ivec alpha

    sở hữu

    displaystyle I là mô men quán tính của vật

    displaystyle scriptstyle vec alpha

    Công thức này cũng sử dụng để định nghĩa cho khái niệm mô men quán tính. Trong cơ học cao cấp, nơi diễn tả sự quay theo khoảng thời kì, mô men quán tính được thay bằng định nghĩa tổng quát hơn là tensơ mô men quán tính, cho phéo lúc phân tích toàn bộ và yếu tố tính chất của vật quay bao gồm tiến động và chương động.

    1 cách nhất quán, dạng vi phân của Định luật vật dụng hai Newton đưa ra khái niệm khác về mô men lực:

    displaystyle vec tau =frac mathrm d vec Lmathrm dt , và bởi thế hàm ý trực diện định luật bảo toàn mô men động lượng cho hệ kín chịu sự quay duyệt y tác dụng của nội mô men xoắn.

    Lực hướng tâm

    Bài chi tiết: Lực hướng tâm

    1 vật chuyển động gia tốc trên quỹ đạo tròn, nó chịu 1 lực sở hữu độ lớn bằng:

    displaystyle vec I=int _t_1^t_2vec Fmathrm d t

    mà theo định luật hai của Newton nó buộc phải thống nhất với sự chuyển đổi của động lượng (định lý xung lượng- động lượng).

    đồng điệu, tích phân lực theo vị trí cho định nghĩa của công cơ học tác dụng bởi lực::13-3

    Công suất P là tỷ lệ cập nhật d W/d t của W theo thời kì, khi quỹ đạo được mở mang bởi sự biến đổi vị trí displaystyle scriptstyle dvec xt: Xét tỉ dụ dưới:

    Đối với lực hấp dẫn:

    displaystyle vec F=-frac Gm_1m_2vec rr^3

    với displaystyle G là hằng số hấp dẫn, và displaystyle m_nn.

    Đối với lực tĩnh điện:

    displaystyle vec F=frac q_1q_2vec r4pi epsilon _0r^3

    mang displaystyle epsilon _0displaystyle q_nn.

    Đối với lực lò xo:

    displaystyle vec F=-kvec r

    với displaystyle k là hằng số đàn hồi của lò xo.

    Lực ko bảo toàn

    Trong một số mô hình vật lý nhất mực, khó có thể định nghĩa lực dựa trên định nghĩa gradien của thế năng. Điều này thường do các nhái sử vĩ mô cho phép thu được lực từ mức độ trung bình thống kê vĩ mô của những hệ với trạng thái vi mô. Thí dụ, ma sát mang tác nhân từ gradien của toàn bộ thế năng tĩnh điện giữa các nguyên tử, nhưng nó lại toát lên ra như 1 lực độc lập có bất kỳ vectơ vị trí vĩ mô nào. Lực ko bảo toàn ngoại trừ lực ma sát ra bao gồm lực tiếp xúc, sức căng bề mặt, sự nén và kéo. Ngoại giả, cho các tình huống khắc họa thích hợp, toàn bộ các lực trên là kết quả của lực bảo toàn do mỗi lực vĩ mô này là tổng hợp của những gradien thế năng vi mô.

    Mối shop giữa lực ko bảo toàn vĩ mô mang lực bảo toàn vi mô được khắc họa yếu tố trong cơ học thống kê. Trong hệ kín vĩ mô, lực không bảo toàn tương tác đến sự thay thế nội năng của hệ và thường đi kèm có hiệu ứng truyền nhiệt. Theo định luật trang bị hai của nhiệt động lực học, lực ko bảo toàn là kết quả cần phải có của quá trình thay đổi sức khỏe trong hệ kín từ trạng thái trật tự chuyển sang trạng thái thiên nhiên khi entropy của hệ tăng lên.

    công ty đo của lực

    1 đơn vị khác của lực theo hệ FPS tuyệt đối là poundal, được khái niệm là lực thiết yếu để gia tốc cho khối lượng 1 pound đạt một foot trên giây bình phương. Những đơn vị slug và poundal được đưa ra nhằm hạn chế hằng số tỷ lệ trong định luật 2 Newton.

    Pound-lực cũng sở hữu 1 công ty tương ứng trong hệ đo lường mét nhưng ít được dùng hơn newton: đó là kilogram-lực (kgf) (đôi khi gọi là kilopond), là lực tương tác lên 1 trọng lượng một kilogram gây ra bởi 1 trọng trường tiêu chuẩn. Kilogram-lực dẫn đến 1 công ty đo khối lượng khác, nhưng ít lúc dùng đó là:metric slug (đôi lúc gọi là mug hay hyl) là kích thước mà thu được 1 gia tốc một m·s −2 khi bị tác dụng 1 lực một kgf. Kilogram-lực không thuộc hệ đo lường quốc tế hiện đại, và thường bị phản đối; bên cạnh đó nó vẫn còn được phục vụ 1 vài trường hợp chẳng hạn như biểu diễn phản lực, lực kéo của nan hoa xe đạp, mô men xoắn của bộ chìa vặn đai ốc và mô men xoắn công suất động cơ. Các công ty của lực ít được sử dụng đến như sthène tương tự có 1000 N và kip thống nhất có 1000 lbf. (nguồn Wikipedia)

    Danh sách các mẫu lực cơ bản

    Giải đáp bạn lực tiếng Anh nghĩa là gì?

    Lực là một tác động nào đó từ một vật này lên vật kia. Lực có thể dùng trong nỗ lực, đắc lực, hiệu lực, quyền lực, năng lực, tốc lực, cật lực, quyền lực,… Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà người ta sẽ tiến hành sử dụng từ ghép sao cho phù hợp.

    Lực trong tiếng anh được biết đến với danh từ là từ force. Bên cạnh đó, lực còn được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác như quyền lực, lực lượng, bạo lực,…Để biết được chính xác lực trong những nghĩa này, chúng ta cần phải đặt vào từng trường hợp cần thiết và tiến hành tìm hiểu xem như thế nào.

    Bên cạnh đó, lực còn được dùng trong kính cường lực, một loại kính được sử dụng nhiều trong cuộc sống hiện nay. Kính cường lực với chất liệu cứng, chắc, độ bền bỉ cao, có độ an toàn cho người sử dụng,… khi kết hợp với các vật liệu khác như nhôm sẽ tạo nên những sản phẩm trang trí nội thất rất sáng tạo và thu hút.

    Hiểu được về lực cũng như các ưu điểm về lực do đó Thành Long là nơi cũng như Địa chỉ quen thuộc cắt kính cường lực hiện nay tại tphcm với giá rẻ uy tín

    Nhu cầu của con người ngày càng cao, kéo theo đó là sự phát triển của rất nhiều đơn vị chuyên cung cấp kính cường lực. Một trong những đơn vị bạn có thể tìm đến hiện nay khi có ý định cắt kính cường lực hoặc các sản phẩm kính cường lực hiện nay đó chính là nội thất nhôm kính đẹp Thành Long.

    Với nhiều năm kinh nghiệm làm việc của mình, đã từng thực hiện nhiều dự án cắt kính các loại, chúng tôi sẽ tự tin giúp bạn có được sản phẩm phù hợp. Hơn ai hết, nội thất nhôm kính Thành Long hiểu được bạn đang mong muốn gì về một sản phẩm chất lượng với giá thành phải chăng.

    Cơ sở nhôm kiếng Thành Long

    Địa chỉ : 320, Độc Lập, P. Tân Quý, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh

    Tel: 0909 541 228(Mr Long)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Nền Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Chiêm Tinh Học Nội Môn
  • Nghiệp Là Gì? Nghiệp Quả Từ Góc Nhìn Chiêm Tinh Học
  • 9 Quyển Sách Chiêm Tinh Học Hay Dễ Ứng Dụng Vào Cuộc Sống
  • N/a Là Gì? Từ N/a Xuất Hiện Trong Excel Có Nghĩa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • “tiến Sĩ” Trong Tiếng Anh: Định Nghĩa, Ví Dụ
  • Tiếng Anh Giao Tiếp Chủ Đề Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu
  • Mạo Từ Trong Tiếng Anh: Mạo Từ Là Gì Và Các Mạo Từ “a”,”an”,”the” Trong Tiếng Anh
  • Chill Là Gì? Chill Phết Là Gì? Trong Tiếng Anh Có Nghĩa Là Gì?
  • Dude Là Gì? Ý Nghĩa Từ Dude Trong Tiếng Anh
  • N/A là từ viết tắt của nhiều cụm từ khác nhau trong tiếng Anh, chủ yếu trong tin học, đặc biệt là Excel. Tìm hiểu chi tiết các nội dung, các từ viết tắt của N/A sẽ mang lại cho bạn nhiều điều thú vị.

    1. N/A là gì? Cách dùng từ N/A của người dùng

    N/A là từ viết tắt của một số từ tiếng Anh có thấy ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng thường được dùng nhiều nhất trong lĩnh vực tin học, công nghệ thông tin. Tùy vào từng trường hợp, kí hiệu N/A lại có ý nghĩa riêng, phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực mà nó được đề cập tới.

    2. N/A là từ viết tắt của những từ nào trong tin học

    Trong tin học, từ N/A là viết tắt của cụm từ No Available – Không kích hoạt hay Active – Kích hoạt, linh hoạt. Từ này trong tin học có nghĩa là không kích hoạt được chương trình, ứng dụng nào đó hoặc không kích hoạt được tài khoản.

    No Available được dùng trong tin học để biểu thị khi người dùng sử dụng các phép tính toán mà không thể tính ra được kết quả trong bảng nên hiển thị là N/A. Điều này có nghĩa là không tính được vì máy tính không hiểu được phép tính mà người dùng đưa ra. Ví dụ như bạn thực hiện một phép chia cho số 0 sẽ cho kết quả là N/A vì đó là một phép tính sai nên máy báo và không thể thực hiện được.

    Viết tắt của N/A còn là từ No Account thể hiện là máy tính, ứng dụng hay phần mềm đó đang trong trạng thái không có tài khoản. Do đó, bạn có thể tạo một tài khoản mới nếu muốn để sử dụng. Ví dụ như bạn tạo tài khoản trong một ứng dụng, phần mềm hay trò chơi nào đó bằng tài khoản cá nhân của bản thân.

    Từ N/A còn được viết tắt của từ Not Authorized. Từ này thể hiện nghĩa không có quyền chứng thực cho phép bạn truy cập vào hay bạn đang bị giới hạn quyền truy cập từ ứng dụng hay máy tính, trò chơi nào đó.

    Nói chung, từ N/A được viết tắt với một số từ trong tiếng Anh với những trường hợp cụ thể như trên. Trong đó, phần mềm Excel được sử dụng khá phổ biến trong tính toán dữ liệu.

    3. Từ viết tắt N/A dùng như thế nào trong Microsoft Excel

    Có thể nói, từ viết tắt N/A được dùng nhiều nhất trong ứng dụng Excel tính toán các dữ liệu, con số, nhiều hơn so với các lĩnh vực khác. Trong Excel, N/A thể hiện giá trị lỗi khi thực hiện tính toán. Chúng ta cùng tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này qua các mục nhỏ hơn.

    3.1. N/A là từ viết tắt dùng để báo lỗi tính toán trong Excel

    Từ viết tắt N/A sẽ xuất hiện khi bạn sử dụng ứng dụng tính toán Micrsoft Excel. Nhập sai một dữ liệu nào đó khiến hệ thống không thể đưa ra kết quả cho bạn sẽ hiển thị là chữ N/A để báo. Khi thấy từ này xuất hiện có nghĩa là bạn đã bị lỗi hay sai chỗ nào đó cần phải sửa lại để máy tính có thể đưa ra kết quả. Đây là lỗi thường bắt gặp khi bạn sử dụng Excel trong tính toán các con số, dữ liệu.

    Báo lỗi N/A trong Excel là viết tắt của từ Not Available dịch ra có nghĩa là Không có sẵn, không tồn tại. Điều này thể hiện bạn đã sử dụng yếu tố nào đó trong công thức không có sẵn, không có giá trị cho nên máy tính không thể tính toán được, không thể cho ra kết quả theo công thức như thông thường. Nguyên nhân thường xảy ra khi sử dụng các hàm tham chiếu, hàm dò tìm. Như vậy, hệ thống báo lõi #N/A là do không tìm thấy trong vùng tra cứu đối tượng tham chiếu, dò tìm. Thông báo lỗi này không phải là lỗi sai công thức, sai hàm mà là lỗi không tìm thấy đối tượng cần tìm. Vì vậy, bạn khắc phục bằng cách dùng biện luận về trường hợp không tìm thấy đối tượng. Hệ thống sẽ trả về rỗng nếu không tìm thấy đối tượng.

    Bên cạnh lỗi do không tìm thấy đối tượng, lỗi #N/A còn thể hiện dữ liệu cần tìm khác nhau nhưng bạn không phát hiện ra bằng mắt thường thấy chúng giống nhau. Do đó, để tránh lỗi trong trường hợp các dữ liệu na ná giống nhau, bạn cần kiểm tra lại loại dữ liệu xem có cùng loại không, chứ không thể nhìn bằng mắt. Lỗi #N/A trong trường hợp này sẽ xuất hiện nếu Giá trị tìm kiếm – Lookup_value có dạng Text mà dữ liệu tra cứu có dạng Date. Hay kiểm tra xem có thừa kí tự sẽ dẫn tới không đồng nhất vì có thể xuất hiện lỗi này.

    Cách giúp bạn khắc phục lỗi #N/A trong sử dụng Excel là:

    + Định dạng dữ liệu trong bảng và giá trị tìm kiếm phải đồng nhất cùng loại

    + Thực hiện kiểm tra sự tồn tại của giá trị tìm kiếm trong vùng qua hàm Countif

    + Xem xét có thừa kí tự nào trong vùng giá trị tìm kiếm hay không.

    a. Ví dụ minh họa

    * Cho ví dụ như hình với ô F2 và F3 dùng công thức Vlookup

    Kết quả hiện ra là lỗi #N/A, cụ thể:

    + Tại ô F2 sử dụng hàm Vlookup có giá trị lookup_value trong ô E2 nhưng lại không tồn tại trong vùng B2:B15.

    + Tại ô F3 sử dụng hàm Vlookup có giá trị lookup_value nhưng kết quả vẫn sai vì trong ô có tới 2 lỗi là #RÈ và #N/A và trả về #N/A là kết quả có được.

    Để tìm ra nguyên nhân, kiểm tra lại, bạn xem ô E2 có nằm trong vùng B2:B15 không qua hàm COUNTIF tại ô F4 cho ra kết quả = 0. Như vậy, ô E2 có nội dung không tồn tại trong danh sách muốn tìm. Có kết quả trên mà máy tính đưa ra là do phát hiện ra lỗi nào trước, máy sẽ báo lỗi đó theo thứ tự từ trái sang. Vì vậy, sử dụng các hàm tham chiếu, dò tìm như Vlookup, Lookup, Hlookup, Match có chứa Giá trị tìm kiếm – Lookup_value,

    * Cách khắc phục lỗi 3N/A như sau:

    + Nếu sử dụng hàm Lookup_value là 1 ô trống không tồn tại thì không cần công thức mà trả về rỗng ngay do đó, sẽ tránh được việc thực hiện tính và nhận kết quả lỗi ở ô F8.

    + Kiểm tra lại hàm Lookup_value có tồn tại không. Nếu không sẽ thông báo ngay Giá trị cần tìm không tồn tại mà bạn không phải sử dụng công thức mất thêm thời gian. Như vậy, kết quả #N/A được hiển thị bằng Không tồn tại ở ô F9.

    b. Cách ẩn lỗi #N/A trong Excel bằng tính năng Conditional Formatting

    Lỗi #N/A trong Excel là lỗi thông thường, không nghiêm trọng mà trong một số trường hợp cần sử dụng dữ liệu đó nên phải giữ lại. Khi không muốn nhìn thấy lỗi này trong bảng dữ liệu, bạn có thể ẩn đi trong Excel khá đơn giản bằng Conditional Formatting. Cho ví dụ như hình:

    Trong Excel, công cụ Conditional Formatting viết tắt là chữ CF cho phép người dùng định dạng dữ liệu theo điều kiện. Trong ví dụ trên, để phát hiện ra các ô bị lỗi và muốn ẩn đi, chúng ta dùng công cụ Conditional Formatting. Ta thực hiện như sau:

    + Chọn bảng dữ liệu muốn áp dụng công cụ CF

    + Chọn định dạng cho ô chứa lỗi hiển thị là font chữ giống với nền trong ô sẽ giúp bạn không thấy nội dung trong ô lỗi giống như nhìn thấy ô trống vậy nhưng thật ra trong ô vẫn có lỗi dung cụ thể.

    Như vậy với cách này, bạn hoàn toàn có thể để dữ liệu lỗi #N/A trong bảng Excel mà không hề nhìn thấy. Tính năng này được áp dụng nhiều trong lập báo cáo vẽ biểu đồ trong Excel. Vì các kết quả bằng không hoặc rỗng dễ khiến dữ liệu biểu đồ bị sai.

    c. Tránh lỗi #N/A bằng hàm IFNA trong Excel

    Hàm IFNA có thể giúp bạn tránh lỗi #N/A trong khi sử dụng Excel để tính toán dữ liệu. Hàm IFNA được rút gọn của sự kết hợp giữa hàm IF và hàm ISNA. Lưu ý, hàm này chỉ có từ phiên bản Excel 2013 trở lên. Như vậy, =IFNA(value, value_if_na) là cấu trúc của hàm IFNA

    Trong đó:

    + Kết quả của công thức nào đó và giá trị bị lỗi #N/A chính là Value

    + Value_if_na là giá trị dùng thay cho lỗi #N/A nếu có.

    + Hàm IFNA chỉ dùng để phát hiện và thay thế lỗi #N/A hay bẫy lỗi #N/A nên sử dụng rất cụ thể, rõ ràng.

    Trong Excel, bạn có thể tính toán dữ liệu, con số thích hợp với hàm IFNA thay cho cách dùng kết hợp hàm ISNA và hàm IF. Thông thường, người ta sẽ kết hợp hàm IF và hàm ISNA để thay thế lỗi #N/A có thể xảy ra khi áp dụng hàm Vlookup. Cho ví dụ như hình dưới:

    Xem thông tin trong hình, câu lệnh trên mang ý nghĩa như sau:

    + Dùng câu lệnh ISNA(VLOOKUP(B2,$G$3:$H$5,2,0)) để xem xét lỗi #N/A của hàm Vlookup

    + Nếu dữ liệu không có lỗi gì, giá trị trả về của hàm Vlookup tương ứng.

    + Nếu dữ liệu có lỗi, giá trị trả về sẽ là dạng text “Không có mã hàng”

    Trong khi đó, ta thấy hàm Vlookup được lặp lại 2 lần liền trong câu lệnh:

    + Xuất hiện trong mệnh đề kiểm tra lỗi #N/A với hàm ISNA

    + Xuất hiện trong mệnh đề value_if_false có nghĩa là không có lỗi #N/A

    Do đó, câu lệnh ở trên có thể viết rút gọn lại như sau:

    Với công thức rút gọn này, bạn vẫn cho ra kết quả cần tìm chính xác, thuận tiện sử dụng.

    3.2. Tìm hiểu về hàm NA báo lỗi trong Excel

    Trong Excel, kí hiệu NA còn mang nghĩa là một hàm dùng để tính toán. Lúc này, NA là một tính năng và được hiển thị qua hàm NA. Hàm này có tính năng trả về giá trị lỗi, biểu hiện là #N/A. Đó là từ viết tắt của Not applicable, not value available, not available. Những từ tiếng Anh này dịch ra có nghĩa là “không có giá trị nào”. Như vậy, hàm NA là hàm dùng để biểu thị thông báo khi không có kết quả ở trong ô của Excel.

    Công thức của hàm NA là =NA(). Đối với hàm NA trong Excel, người ta có thể dùng lồng vào hàm khác như hàm IF hay dùng đơn lẻ đều được. Kết hợp với hàm IF, hàm NA cho ô không có số lượng và giá trị #N/A.

    Công thức của hàm NA khi kết hợp với hàm IF, ta cần trả về giá trị #N/A và ô không có số lượng. Theo ví dụ ở hình trên khi hàm NA kết hợp với hàm IF, để ra kết quả thì tại ô C2 chèn hàm NA vào trong hàm IF như sau: = IF(A2=””,NA(),A2*B2). Cuối cùng, bạn dùng tính năng AutoFill để cho ra kết quả của những ô còn lại.

    Khi sử dụng hàm NA, bạn cần lưu ý:

    + Hàm NA không cần đối số. Khi viết hàm NA, bạn cần nhớ điền cặp ngoặc đơn.

    + Có thể gõ #N/A vào ô trong excel.

    4. Những từ viết tắt khác của N/A có thể bạn chưa biết

    Ngoài ra, trong tiếng anh, từ viết tắt N/A còn thể hiện nhiều từ khác nhau khác nữa như:

    * Not Applicable/Available dịch ra là Không áp dụng được.

    * No Answer dịch ra là Không có câu trả lời.

    * Next Assembly dịch ra nghĩa là Hội tiếp theo

    * New Account dịch ra nghĩa là Tạo tài khoản mới

    * No Active dịch ra nghĩa là Không hoạt động

    * Not Acceptable dịch ra nghĩa là Không thể nào chấp nhận được.

    * Naturally Aspirated (non-turbocharged/non-supercharged engine)

    * Never Again dịch ra nghĩa là Không bao giờ gặp lại

    * Non Alcoholic dịch ra nghĩa là Không có cồn

    * Non Action dịch ra nghĩa là không hoạt động

    * Non – Aspirated (engine) dịch ra nghĩa là Không hút khí (động cơ)

    * North America dịch ra nghĩa là Bắc Mỹ

    * Not Applicable dịch ra nghĩa là Không tương thích

    * Not Assigned dịch ra nghĩa là Chưa định nghĩa

    Mong rằng những nội dung được chia sẻ ở trên đã giúp bạn có khái niệm đầy đủ N/A là gì một cách toàn diện nhất, mang tới cho bạn những kiến thức thú vị và bổ ích cho bản thân.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Luận Mẫu Tiếng Anh Về Trường Học Hay
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bài Tìm Từ Đồng Nghĩa
  • Công Văn Tiếng Anh Là Gì
  • Từ Đồng Nghĩa Trong Tiếng Anh Và Tài Liệu Học Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Giờ Trong Tiếng Anh Cho Người Mới Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100