Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyện Về Người Cán Bộ Tâm Huyết Truyền Dạy Ngôn Ngữ Và Chữ Viết Tiếng Thái
  • Chuyên Đề Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc
  • Để Ngôn Ngữ Mường Không “rơi Rụng”
  • Khẩn Trương Đưa Đề Án “dạy Và Học Tiếng Nói, Chữ Viết Dân Tộc Mường” Đi Vào Cuộc Sống
  • Dạy Và Học Tiếng Nói, Chữ Viết Dân Tộc Mường Góp Phần Bảo Tồn Và Phát Huy Bản Sắc Văn Hóa Của Dân Tộc
  • Trung tâm bồi dượng thường xuyên Huyện Con Cuông

    Bài dạy tiếng thái

    Giáo Viên: Vi Thị Huệ

    Tháng 6 Năm 2014

    Bài mở đầu:

    Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của việc học nói tiếng dân tộc Thái

    I . Mục đích

    – Học để hiểu và nói được một số từ cơ bản, một số câu cần thiết về tiếng dân tộc Thái, để hạn chế bớt sự bất đồng về ngôn ngữ, khi trực tiếp công tác tại các huyện miền núi Nghệ An.

    – Tạo thuận lợi trong việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội đối với cán bộ miền xuôi công tác ở các vùng dân tộc thiểu số

    II . ý nghĩa và sự cần thiết

    Biết nói tiếng dân tộc Thái sẽ giải quyết được một số khó khăn ( đặc biệt là sự bất đồng về tiếng nói). Khi tiếp xúc với các dân tộc ít người ta có thể dùng tiếng Thái để giao tiếp với họ. Vì tất cả các dân tộc ít người ở trên địa bàn miền núi Nghệ An ( trừ dân tộc Thổ), đều biết nói tiếng Thái. Do đó biết nói tiếng dân tộc Thái có ý nghĩa thiết thực đối với cán bộ miền xuôi trực tiếp công tác ở địa bàn miền núi.

    III . Vài nét khái lược về dân tộc Thái ở tỉnh Nghệ An

    1/ Về nguồn gốc

    Theo các cụ già trăm tuổi trước đây kể lại, dân tộc Thái Nghệ An có nguồn gốc thuộc các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Qua quá trình phát triển của lịch sử, một bộ phận đã di cư sang các tỉnh Bắc Lào, rồi từ Lào họ xuôi theo các dòng sông di cư sang Nghệ An . Tuyến đường 7, theo sông Nậm Mộ, Nậm Nơn, sông Lam họ cư trú rải rác dọc sông và tập trung đông nhất là vùng Mường Quạ ( nay là Môn Sơn, huyện Con Cuông).

    Tuyến đường 48, họ di cư dọc theo sông Hiếu và định cư tập trung đông nhất là vùng Mường Nọc Quế Phong và Khủn Tinh Quỳ Hợp.

    2/ Về thành phần

    Dân tộc Thái ở Nghệ An có ba nhóm người: Nhóm Mán Thanh, nhóm Hàng Tổng và nhóm Tày Mười. Phần lớn họ sống ở sáu huyện miền núi, phần ít hơn sống ở các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn và Quỳnh Lưu.

    3/ Về tiếng nói

    – Tiếng Thái cũng giống như tiếng Phổ thông, từng nhóm người, từng vùng âm lượng nói nặng nhẹ có khác nhau nhưng không ảnh hưởng đến việc giao tiếp với nhau.

    Thí dụ: Thái đường 48 có đôi chỗ nói khác Thái đường 7: Pay ( đi)

    +Thái 48: Po hoặc pa

    +Thái 7 : Pay hoặc pà

    Hiện nay, tiếng Thái có rất nhiều từ vay mượn tiếng Việt, đặc biệt là số từ thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế hoặc các từ nói về các phương tiện hiện đại…

    – Tiếng Thái cũng có bộ chữ riêng dùng để ghi. Phần này, biên soạn để dạy nói theo lối phiên âm – hội thoại

    Bài 1

    Cách gọi tên và quan hệ gia đình

    I . Vài nét cơ bản trong quan hệ gia đình người thái.

    Hiện nay ở miền núi vùng cao, dântộc Thái nói riêng và các dân tộc thiểu số khác nói chung đang giữ được nhiều nét sinh hoạt mang tính chất truyền thống. đến với họ chúng ta không thể tránh khỏi sự ngỡ ngàng buổi ban đầu. Sinh hoạt dễ thấy nhất là bữa cơm hàng ngày của gia đình họ. Một gia đình chỉ có bốn đến năm người mà họ cũng dọn thành hai mâm.

    Thường là đàn ông ngồi mâm đặt gian ngoài còn đàn bà, con gái ngồi mâm đặt gian trong. Vì sao vậy? Để cắt nghĩa vấn đề này, chúng tôi giới thiệu vắn tắt một số mối quan hệ mang tính chất huyết thống trong gia đình người thái như sau.

    1/ Quan hệ giữa cô dâu với những người trong gia đình.

    a/ Cô dâu với những người nam giới bậc trên chồng.

    ở trong nhà, trong nội tộc, họ kính nể nhau. Trong sinh hoạt hàng ngày, họ rất có ý thức để tránh sự va chạm lẫn nhau. Vì thế, trong những bữa cơm hàng ngày, cô dâu không ngồi ăn cùng mâm với bố chồng, anh chồng hoặc chú bác trong nhà, trong nội tộc.

    Nếu uống rượu cần thì cô dâu cũng không được cầm cần uống cùng một loạt với bố chồng hoặc anh chồng.

    Phòng ở của cô dâu, bố chồng hoặc anh chồng tuyệt đối không được đặt chân vào ( mặc dù có đông người) và ngược lại cô dâu cũng vậy.

    b/ chàng rể đối với nữ giới bậc trên vợ trong nhà.

    Cũng tương tự như cô dâu đối với bố chồng, anh chồng. Bữa cơm chàng rể cũng không được phép ngồi ăn chung mâm vối mẹ và chị của vợ.

    Những mối quan hệ trên như những quy định nghiêm ngặt thậm chí trở thành vấn đề kiêng kị trong sinh hoạt gia đình.

    Vì thế, trong gia đình người Thái, khi có dâu, có rể trong nhà, mặc dù ít người, khi ăn cơm, họ vẫn phải dọn ăn thành hai mâm. Gian ngoài dành cho mâm đàn ông còn gian nhà trong dành cho mâm phụ nữ. gia đình nào sinh hoạt tuỳ tiện sẽ bị bà con, xóm giềng lên án ngay.

    Một số phong tục trong cưới hỏi:

    Từ xưa đến nay người Thái đón dâu về lúc 1 giờ sáng. Khi đưa dâu lên cầu thang Bố mẹ chồng làm lễ rửa chân cho cô dâu và chú rể mới được bước chân lên cầu thang.

    Khi gả con gái về nhà chồng chú rể có món quà tặng mẹ vợ là một vòng tay. Chiếc vòng tay này mang ý nghĩa là vòng sữa mẹ.

    Bài đọc:

    Lan nọi tên họng ê Khang, cha pay học ma, lan tham mệ:

    Ủi ơi ( Mệ ơi) ài chông pay ê tủa, cờ lơ?

    Cháu nhỏ tên là Khang, mới đi học về, cháu hỏi mẹ:

    – Mự ngoa : Hôm qua

    – Mự nị : Hôm nay

    – Mự nớ : Ngày mai

    – Mự hừ : Ngày mốt

    – Bươn cón : Tháng trước

    – Bươn nị : Tháng này

    – Bươn lăng : Tháng sau

    – Pi cai : Năm qua

    – Pi nị : Năm nay

    – Pi ná : Năm sau

    Đọc và thuộc các từ ngữ sau

    – Hâng mự : Lâu ngày

    – Nhàm chậu : Buổi sáng

    – Nhàm xai( nghền) : Buổi trưa

    – Nhàm cải : Buổi chiều

    – Nhàm khắm : Buổi tối

    – Nhàm khừn : Ban đêm

    BÀI 4

    MỘT SỐ TỪ NGỮ VÀ CÂU DÙNG ĐỂ HỎI

    Cung cấp và tập cho học viên nói đúng các từ ngữ và câu dùng để hỏi. Qua đó hướng dẫn học viên sử dụng phù hợp với nội dung, ngữ cách mình muốn hỏi.

    I. TỪ NGỮ VÀ CÂU MẪU

    1/ Từ ngữ

    – Phơ?( pửa?) : Ai?

    – ăn lơ ( ăn tủa?) : Cái gì?

    – Ệt ăn lơ? ( ề ăn tủa?) : Làm cái gì?

    – Chơ lơ? : Khi nào, lúc nào, bao giờ?

    – Pay (po, pa, pơ) : Đi

    – Pay cơ lơ? : Đi đâu?

    – Pay cơ lơ ma? : Đi đâu về?

    – Kín ( ki) : Ăn

    – Kín ăn lơ lẹ? : Ăn cái gì thế?

    – Kín khầu páy? : Ăn cơm chưa?

    – Kín khầu chậu páy?: Ăn cơm sáng chưa?

    – Kín ngai páy? : Ăn trưa chưa?

    – Kín lanh páy? : Ăn tối chưa?

    2/ Mẫu câu

    a/ Noọng:- Ái páy cơ lơ ma ?

    Ái : – Ái páy ệt việc ma.

    b/ Noọng:- Ái ệt việc du cơ quan lơ ?

    Ái : – Ái ệt việc du Huyện ủy Anh Sơn.

    c/ Noọng: – Hườn ái mi kì côn?

    Ái : – Hườn ái mi xí côn.

    d/ Ái : – Noọng kin khầu páy?

    Noọng: – Noọng kin khầu lẹo ( Noọng páy kin).

    II. LUYỆN TẬP THỰC HÀNH.

    1/ Dùng từ ngữ trong bài và từ ngữ đã học thay vào câu mẫu, tập nói theo nhóm.

    2/ Hội thoại theo đoạn văn.

    a/ Đoạn 1.

    – Lan : Nhằng khoe bỏ lung?

    – Lung: Nhằng khoe, lan khoe bỏ?

    – Lan : Chả ơn lung, lan nhằng khoe.

    – Lung: Lan du cơ lơ ma?

    – Lan : Lan du huyện ma.

    Lung: Mà mi việc lơ bỏ?

    – Lan : Khọi! Lan mà ệt việc năm chầu bàn.

    b/ Đoạn 2.

    – Noọng: ời sinh đầy kì lan lẹo?

    – ới : Chả ơn noọng tham khào,ời sinh đầy xoong lan. Lản nhinh nựng,

    chài nựng.

    – Noọng: Lan cốc đầy kí pỉ?

    – ới : Lan cốc đầy xíp xoong pỉ.

    – Noọng: Lan hiền kềnh bỏ ời?

    – Ới : Ợ, cờ nhằng mi bun, pi lơ cà đày hườn trường nhọng

    3/ Dịch đoạn văn.

    a/ Đoạn 1.

    – Cháu: Có khỏe không bác?

    – Bác : Khỏe, cháu khỏe không?

    – Cháu: Cảm ơn bác, cháu cũng khỏe.

    – Bác : Cháu từ đâu đến?

    – Cháu: Cháu ở huyện đến.

    – Bác : Đến có việc gì không?

    – Cháu: Dạ! Cháu đến làm việc với trưởng bản.

    b/ Đoạn văn 2.

    – Em : Chị sinh được mấy cháu rồi?

    Chị : Cảm ơn em hỏi thăm, chị sinh được hai cháu, một gái, một trai.

    Em : Cháu đầu được mấy tuổi?

    – Chị : Cháu đầu được mười hai tuổi.

    – Em : Cháu học giỏi không chị?

    – Chị : Vâng cũng đang có phúc, năm nào cũng được nhà trường phát giấy khen.

    IV. HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ

    1/ Học thuộc từ ngữ trong bài.

    2/ Tự đặt 10 câu hỏi và tự trả lời đúng nội dung các câu hỏi đó bằng tiếng Thái.

    3/ Tập đọc các số từ 41 đến 50.

    BÀI 5

    MỘT SỐ TỪ NGỮ VỀ ĂN UỐNG, SINH HOẠT

    I. VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ NẾP SỐNG VÀ ĂN UỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI

    1/ Thói quen truyền thống.

    Săn bắt thú rừng là một trong những cách kiếm sống của đồng bào các dân tộc ở miền núi. Hiện nay, cách kiếm sống cổ truyền vẫn tồn tại ở một số ít gia đình thuộc vùng sâu của các huyện, xã vùng cao. Mỗi khi săn bắt được thú rừng to, họ thường tổ chức liên hoan khao làng. Trong bữa liên hoan đó, gia đình thợ săn thường chỉ nấu thức ăn và chuẩn bị đồ uống rượu.

    2/ Việc ăn uống thường ngày.

    Bữa cơm thường ngày của người dân rẻo cao thường rất đơn giản. Họ dùng xôi nếp chấm với chẻo. Chẻo có thể dùng tôm, cua, cá, thịt nướng đâm nhỏ trộn với gừng, sả hoặc các gia vị khác. Trong mâm, họ thường đặt một bát chẻo để cả mâm dùng chung. Khi dùng xôi chấm, họ thường dùng tay vắt. Mỗi lần chấm xuống bát chẻo, họ thường bẻ từ vắt xôi to ra từng miếng nhỏ để chấm.

    Chấm miếng nào dùng luôn miếng đó. Họ rất kiêng dùng vắt xôi to chấm xuống bát chẻo. Vì mỗi lần như vậy chỉ dùng được một miếng, sau đó lại chấm xuống bát chẻo dùng chung sẽ không giữ được vệ sinh. Đến với miền núi nói chung, với dân tộc Thái nói riêng ta cần biết cách sinh hoạt này để nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống người dân rẻo cao.

    II. TỪ NGỮ VÀ CÂU MẪU

    1/ Từ ngữ

    – Kín : Ăn, uống

    – Kín khầu : Ăn cơm

    – Kín nặm : Uống nước

    – Kín lầu : Uống rượu

    – Kín đoong : Ăn cưới

    – Kín pự(hạt) : Ăn tràu

    -Kín da( đụp da) :Hút thuốc

    Muốn: Vui.

    Mau làu: Say rựou

    Chẹp : Ngon

    Chẹp tẹ:ngon thật

    Ím : no

    – Ím lẹo :no rồi

    – Xẹp toọng: đói bụng

    – Dạc kín :Muốn ăn

    – Bỏ kín : Không ăn

    – Hờ : cho

    – Bỏ hờ : Không cho

    2/ Câu mẫu

    – Mời ởi kín khầu năm noọng.

    – Noọng ơi hờ ởi kín khầu năm.

    – Lung ơi hờ lan xo tố hườn năm.

    Lan xo phép pay non.

    Pà ơi ! Lan xẹp toọng hờ lan xo kín khầu năm.

    Lan xo lội, lan bỏ kín đày lầu.

    Lan mơi lung kín năm lan chèn lầu nị

    III. LUYỆN TẬP

    1/ Tập nói theo câu mẫu

    Học viên dùng từ trong bài hoặc vốn từ đó thay vào câu mẫu để tập nói cả nhóm.

    2/ Tập nói và dịch các câu sau:

    – Noọng mời Ởi kín khầu.

    – Lan mời pỏ, lung kín nặm.

    – Ài, ời hờ noọng kín khầu năm.

    – Pỏ ệt ngài páy?

    – Pỏ ệt ngài lẹo

    – Pỏ nhằng páy ệt

    Pỏ kín khầu páy?

    – Pỏ kín khầu lẹo

    – Pỏ nhằng páy kín

    IV. HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ

    1/ Tập nói và thuộc từ, câu trong bài

    2/ Tập đếm các số từ 51 đến 60

    BÀI 6

    MỘT SỐ ĐỒ DÙNG VÀ DỤNG CỤ GIA ĐÌNH

    I/ GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ DỤNG CỤ TRONG GIA ĐÌNH

    Dân tộc Thái nói riêng và một số dân tộc ít người nói chung thường sinh hoạt trong ngôi nhà sàn. Ngôi nhà ấy ít nhất cũng có ba gian. Gian bắc cầu thang chính gọi là gian ngoài, phía đặt bàn thờ gọi là phía trên. Cách sắp xếp nơi ở và đồ dùng trong nhà như sau:

    – Đối với các đồ dùng sinh hoạt: Họ thường để gian trong cùng. Gian ngoài thường chỉ đặt bàn ghế, ấm chén để tiếp khách. Mọi người trong nhà ít phơi đồ ở gian ngoài đặc biệt là đồ phụ nữ.

    – Đối với đồ dụng cụ lao động họ thường tập trung một góc dưới sàn nhà như cày, cuốc, cối giã gạo, riêng dao, liềm, hái họ thường để trên nhà nhưng chỉ để ở gian trong bên trong ( phía dưới) . Tuyệt đối họ không dắt dao lên phên vách ở gian ngoài và phía trên của gian ngoài ( gian thờ).

    II. TỪ NGỮ VÀ CÂU MẪU

    1/ Từ ngữ

    a/ Một số đồ dùng trong gia đình:

    – Pàn : Mâm

    – Thụ : đũa

    – Thuối : bát

    – Le : đĩa

    Mó : nồi

    Chong ( Buồng) : Môi

    Pạ : dao

    Xốc : Xẻng

    Xiêm : Xuổng

    – Biếng:Niếng hông xôi

    – Phà : chăn

    – phục : chiếu

    – Pời : màn

    – Mon : gối

    – Xứa : đệm

    – Xồng xừa: quần áo

    – Bua chộc : cối

    – Xạc : chày

    b/ Một số dụng cụ lao động

    – Pạ : dao

    – Mịt lem : dao nhọn

    – Mịt bang : dao thái mỏng

    – Kiều : liềm

    – Pạ bạch : dao phát

    – Thay : cày

    2/ Câu mẫu

    – Pỏ ơi hớ lục dưm( mạn) mó tồm khầu năm.

    – Pỏ ơi hớ lục xo cưa năm.

    Lung pay cơ lơ ma.

    Lung pay ê na ma.

    Lung ê ăn tủa?

    Lung ê xuôn phắc

    Nọong mi ề xồng xừa đi tẹ nọ

    III. LUYỆN TẬP

    1/ Tập nói theo câu mẫu.

    2/ Tập nói theo đoạn văn:

    – Tiếng Thái

    Khòi pay dam lăng hườn côn Thái nựng. Lăng hươn hạn xam hòong du hua bàn. Cuông lăng hươn mốt mảy. Coong lua( phừn) xớ cuốc, thay bảy piềng căn đi ta. Dáng khứn đay, khòi hên xam hoòng hườn mốt mày tẹ. Choong, phục, phà pởi phắp piềng căn. Pà tình nặm, khoan( van), pạ pọm bảy (cứ) miếng âu ngại.

    – Tiếng Việt.

    Tôi đến thăm một ngôi nhà người Thái. Ngôi nhà sàn ba gian ở đầu bản. Dưới sàn nhà sạch sẽ ngăn nắp. Đống củi và cuốc, cày được sắp xếp đẹp mắt. Bước lên cầu thang, tôi thấy ba gian nhà rất sạch sẽ. Giường, chiếu, chăn đều gọn và sạch. Những ống đựng nước, cái rừu, cái dao đều để nơi thuận tiện.

    IV. HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ

    1/ Học thuộc các từ trong bài.

    2/ Tập nói theo câu mẫu.

    3/ Tập đếm các số từ 61 đến 70.

    BÀI 7

    HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI

    I. VÀI NÉT VỀ CHĂN NUÔI Ở MIỀN NÚI

    Đặc điểm miền núi là đất rộng người thưa, rất thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi. Nguồn thức ăn chủ yếu cho gia súc là các loại cây cỏ, rau lá rừng. Từ trước tới nay, đồng bào Thái cũng như các dân tộc ít người khác đã biết phát huy thế mạnh ấy của rừng. Cách chăn nuôi truyền thống là thả rông. Ngày trâu bò vào rừng ăn, đêm tự về dưới sàn nhà hoặc các bờ bụi xung quanh làng bản. Hiện nay, phần lớn họ chăn nuôi đã có chuồng trại trong vườn.

    Ngoài trâu bò, họ còn nuôi nhiều lợn, gà. Lợn họ cũng nuôi theo cách thả rông. Họ cho lợn ăn mỗi ngày hai lần chủ yếu là húp cám húp nước. ăn xong, lợn vào rừng kiếm ăn thêm các loại rau, lá rừng.

    Do cách chăn nuôi như vậy nên họ ít chú ý đến việc phát triển kinh tế vườn. Trước đây ở vùng cao, các loại cây ăn quả và hoa màu rất ít.

    II. TỪ NGỮ VÀ CÂU MẪU

    1/ Từ ngữ

    – tô ( mẻ) : con

    Tô má : con chó

    – Tô cay : con gà

    – Tô pết : con vịt

    – Tô Quai ( Khoai):Con trâu

    Tô Ngua: Con bò

    Tô meo: Con Mèo

    Tô mú: Con Lợn

    Tô bè: Con dê

    – Tô pa : con cá

    – Tô cùng : con tôm

    – Tô pu : con cua

    – Tô chạng : con voi

    – Tô mạ : con ngựa

    – Tô nộc : con chim

    Các con: ngan, ngỗng, thỏ dùng tiếng phổ thông

    III. LUYỆN TẬP

    2/ Tập nói theo đoạn văn

    – Tiếng Thái

    Ngua, khoai khoong côn Thái tưng pưng cuông pá nặp bỏ mết. Càu xíp mự chàu hươn chặng khầu pá diềm dam bạt nựng. Xáng hươn mu, cay tưng pưng. Côn H Mông chằng nhằng liệng mạ. Lạ hươn mi xam, xí tô. Mạ mẹn tô xắt liệng bảy chở khầu, chở khướng khoong cồn dụ pu xung.

    TIẾNG VIỆT

    Trâu bò của người Thái từng đàn trong rừng đếm không xuệ. Chín mười ngày chủ nhà mới vào rừng thăm nom một lần. Quanh nhà, lợn, gà từng đàn. Người HMông lại còn nuôi ngựa. Mỗi nhà có ba, bốn con. Ngựa là vật nuôi để vận chuyển lúa gạo, đồ đạc của người ở núi cao.

    IV. HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ

    1/ Học thuộc từ ngữ trong bài và tập nói theo mẫu câu.

    2/ Tập đếm các số từ 61 đến 70

    3/ Đọc thuộc các từ ngữ sau:

    – Liệng ngua:Chăn bò

    – Cưa mu :Cho lợn ăn

    – Tô xưa :Con hổ

    – Tô linh :Con khỉ

    – Tô ngu :Con rắn

    – Tô quang :Con hươu

    – Tô táu : Con rùa

    – Tô mươi: Con gấu

    – Tô pu :Con cua

    – Tô cùng:Con tôm

    – Tô nhung: Con muỗi

    – Tô nu: Con chuột

    – Xự chịn :Mua thịt

    – Chịn tốm: Thịt luộc

    – Chịn pính: thịt nướng

    BÀI 8

    HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT

    I. VÀI NÉT VỀ CÁCH LÀM ĂN TRƯỚC ĐÂY CỦA NGƯỜI THÁI

    Trước đây, dân tộc Thái ở vùng sâu sống theo lối tự cung, tự cấp là chủ yếu. Họ sống bằng nghề phát rẫy làm nương để trồng lúa, ngô và sắn. Một năm chỉ có một mùa lúa rẫy, trịa vào tháng 4, tháng 5 âm lịch và thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 âm lịch. Do rẫy có độ dốc không giữ được màu nên họ dùng trịa lúa có một lần

    Vụ lúa sang năm lại phát vạt rừng mới để trịa lúa. Chính vì thế rẫy lúa của họ ngày càng xa làng bản. Có những nơi tính từ bản đến rẫy phải đi ròng rã cả ngày. Cách làm ăn này ít nhiều ảnh hưởng đến việc học hành của con cháu. Mùa rẫy đến, thường con cháu phải nghỉ học để coi nhà, giữ em cho bố mẹ đi làm, thậm chí họ ở lại trong rẫy cả tháng mới về.

    Mùa thu hoạch, họ thường làm kho lúa tại rẫy. Thu hoạch xong, người về bản nghỉ cả, kho lúa không ai canh giữ. Số lúa đó, họ vận chuyển về ăn dần trong năm

    II. TỪ NGỮ VÀ CÂU MẪU

    1/ Từ ngữ.

    a/ Một số từ ngữ nói về cây lương thực

    – Co khầu: cây lúa

    – Huồng khầu : bông lúa

    – Khầu cà :lúa mạ

    – Khầu nuồi: thóc

    Khầu xan: gạo

    Khầu chào : Cơm

    Khầu nừng: Xôi

    2/ B – C – Ch

    Bun – Mi bun : Phúc – Có phúc

    Bánh nị ( Kháo nị) : Dạo này

    Bàn – Bàn hau: Làng bản – Làng ta

    Bịp : Bóp

    Bơ mạy : Lá cây

    Buông : Thìa

    Biếng : Niếng hông xôi

    Bua chộc : Cối

    Cu (Căn) : Tôi

    Cưa : Muối

    Cúng – Tô cúng : Tôm – Con tôm

    Cáng : Vơi

    Co – Co mạy : Cây – Cây gỗ

    Cọt : Ôm

    Cọt xao : Ôm gái

    Cọt báo : Ôm trai

    Chiện ( Chồn) : Kể

    Chụp – Chụp kèm : Hôn – Hôn má

    Chuồn – Chuồn pay : Rủ – Rủ đi

    Chẹp : ngon

    Chọp : Vừa

    Chừm : Bẩn

    3/ D – Đ – H

    Dạc : Muốn ( Khát)

    Dam : Thăm

    Dưm : Mượn

    Dên : Nguội

    Dăm : Dấu ( Dấu kín trong lòng)

    Dưn : Đứng

    Đày : Được

    Đăm : Đen

    Đanh : Đỏ

    Đôm : Ngửi

    Hên : Thấy

    D – Đ – H

    Hom : Thơm

    Hụ : Biết

    Hặc : Yêu

    Hờ : Cho

    Ha – Ma ha: Nhờ – Đến nhờ

    Hằm : Cám

    4/ KH – K – L

    Kham – Kham kín: Tham – Tham ăn.

    Khêm : Kim

    Khòi : Tôi

    Khọi : dạ

    Khanh : Cứng

    Khành căn : Thi nhau

    Khoàm vậu : lời nói

    Khong: Ồn ào

    Khoong : Của cải

    Khương : Rương

    Khướng : Sung sướng

    Khoằn : Khói

    Kin : Ăn, uống

    Kèm : Má

    Kềm : Mặn

    Lục – Lục non : Dạy Ngủ dậy

    Lực : con

    Lực xao : Con gái

    Lực Chai : Con Trai

    5/ N – M – Ng

    -Nọoc : Ngoài

    – Nọong : Em

    – Nặm : Nước

    – Mạc : Quả

    – Mạc mạy: Các loại quả

    Mo hạc mạy : Thầy thuốc

    Mên : Hôi , thối

    Mon : Gối

    Má – Tô Má: Chó – Con chó

    Mu – Tô mú : Lợn – Con lợn

    M- Ng

    Moi : Xem

    Mừa : về

    Mì : có

    Mẹn- Bọ mẹn : Đúng – Không đúng

    Ma- ma nì : Lại – lại đây

    Ma – Pay cơ lơ ma : Về – Đi đâu về

    Mạn : Mượn

    Ngam : Đẹp

    -Ngoạ: Dại, Dốt

    Ngặm : Nghĩ, Suy nghĩ

    Nghên: Ban ngày, Buổi trưa

    6/ NH – O – P

    Nhạo : Dài

    Nhăng : Còn

    Nhà, Nhà pay : Đừng, đừng đi

    Nhàm : Chỉ thời gian

    NHàm chậu: Buổi sáng

    Nhàm xai : Buổi trưa

    Nhàm Khằm : Buổi tối

    Nhàm khừn : Buổi đêm

    Ỏn, phắc ỏn : Non, rau non

    ọc, ọc nọoc : Ra, ra ngoài

    Pay, pay ín: đi, đi chơi

    Pay ạp : đi tắm

    Pay non: đi ngủ

    Pay ệt việc : đi làm việc

    Pay mưa hươn: Đi về nhà

    Pay kín làu: Đi uống rượu

    Pay kin khàu chậu : Đi ăn sáng

    Pay kin đoong: Đi ăn cưới

    Panh : sửa

    Păn : Chia

    Pa, tô pá : cá, con cá

    Pắt : Bắt

    Pu, tô pu : Cua, con cua

    8/ PH – T – TH

    Phơ ( Pửa) : ai

    Phợ ( xền) Giật thột

    Phạo : vội

    Phọn : múa,nhảy múa

    Phăn, non phăn: Mơ, Nằm mơ

    Phằn, phằn lua : Chặt, chặt củi

    Phằng : nghe

    Phăng : Chôn

    Phày ( Phi ) : Lửa

    Tợp, ( ỔM): To

    Tốm, tốm chỉn: Nấu , Luộc thịt

    Têm: Đầy

    Tăm, tăm xe: Đâm, đâm xe

    Tắm : đá

    Tằm : Thấp

    Tứn, nặm tứn : cạn, nước cạn

    Ta : mắt

    Tá: Bến

    Tặp, xe tặp :Đằn, xe đằn

    Ty, Tành căn : Đánh, đánh nhau

    Tộp : tát

    Từm : thêm

    Thấu nộm: Giá rồi

    Tham, Tham tàng : Hỏi, hỏi đường

    Thằn, pay thằn: Kịp, đi kịp

    Tít căn : dính nhâu

    U – V – X

    Úm, úm lan : Bồng, bồng cháu

    Ùn, nặm ùn : Ấm, nước ấm

    Ui ( mệ ) : Mẹ

    Vạu ( Vá) : Nói

    Xo, xo phày : xin, xin lửa

    Xa lồm: Nói chuyện

    HỎI – ĐÁP

    Aì( ời) mẹn tên tụa?

    Khòi mẹ tên….

    Pỉ nị ài tỏ lơ tuổi?

    Pỉ nị khòi ……tuổi

    Ài ê việc dú cơ quan lơ?

    Khòi ê việc dú cơ quan….

    Ài mi mia pảy?

    Khòi mi mia lẻo

    Mia ngai họng ê tên tủa?

    Mia khòi họng ê tên ….

    Tay hươn ngai mi kì côn ?

    Tay hươn khòi mi …..côn

    Phua mia ngai mi kì côn lực?

    Phua mia khòi mi …. Côn lực

    Lực ngai mi nhinh, mi chai pảy?

    Chá ơn ngai, phua mia khoi mi lực nhinh nựng tằng lực chai nựng(….)

    Cuông mời chồng mạc mạy ngai mặc mắc lơ ?

    Cuông mời chồng mạc mạy khòi mặc mác pục, mác cuồi…

    Kết thúc khoá học

    Xin kính chào và hẹn gặp lại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái
  • Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi
  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Tài Liệu Dân Tộc Dao (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Dấu Hiệu Lừa Tiền Của Các Trung Tâm Tiếng Anh Tồi
  • Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất
  • 110 Tục Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.
  • Chuyện Học Tiếng Anh – Phần 1: Tôi Đã Học Tiếng Anh Như Thế Nào
  • I- NGUỒN GỐC

    Theo kết quả nghiên cứu của Đề án “Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao” do Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm. Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình vượt biển, vượt núi, vượt sông muôn phần gian khổ.

    Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lể của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ.

    Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt, bắt đầu từ đảo Hải Nam họ qua Phòng Thành rồi tới Bắc Giang. Từ đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau:

    – Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao áo dài.

    – Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển.

    – Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quần chẹt ngày nay.

    Dân tộc Dao còn có các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu .v.v…

    Dân tộc Dao là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người, đến năm 2009 là 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 Tỉnh, Thành phố. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người), Thái Nguyên (25.360 người) …

    Người Dao cũng là 1 trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (tiếng Hán là Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000 người.

    Dân tộc này cũng là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, Thái Lan.

    III- DÂN TỘC DAO ĐỎ Ở VIỆT NAM

    Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông, cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh Trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Các bản làng của họ trải rộng khắp các miền rừng núi phía Bắc: Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang … đến một số Tỉnh Trung du như: Bắc Kạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).

    Mặc dù, họ có “nhiều nhóm người khác nhau” như vậy, nhưng “ngôn ngữ của họ là thống nhất” để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục-tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng …

    Người Dao Đỏ có dân số đứng thứ hai sau người H’Mông ở Sa Pa, cũng có nguồn gốc từ Vân Nam – Trung Quốc, người Dao Đỏ là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 40 của thế kỷ trước.

    Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải. Nếu người H’Mông thường chọn những nơi núi cao để sống thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi để trỉa ngô, trồng lúa và thảo quả. Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ được nâng cao. Nhiều nhà có những tiện nghi và phương tiện tốt như xe máy, tivi, thậm chí là cả ô tô, máy kéo dùng trong nông nghiệp.

    Tộc người Dao có nhiều nhóm nhưng sinh sống ở Sa Pa chủ yếu là người Dao Đỏ bởi phụ nữ thường quấn khăn hay đội mũ đỏ, áo xanh đen có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, vạt và tà áo. Trong trang phục truyền thống, người Dao nam mặc quần và áo đơn giản, còn người Dao nữ trang phục phong phú hơn với những trang trí hoa văn truyền thống, đầu đội khăn. Nên trang phục của họ được xem là đẹp nhất ở mỗi phiên chợ Sa Pa.

    Họ cũng có chữ viết riêng dựa theo chữ cổ của Hán ngữ gọi là chữ Nôm – Dao (kiểu chữ dùng mẫu tự Trung Quốc để ghi tiếng Dao), nhưng loại chữ này nay chỉ người cao tuổi mới đọc hiểu và viết được.

    Sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68% là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng. Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: “Hàn Bằng”, “Đàm Thanh”, “Bát Nương”, “Lâu Cảnh”, “Trạng Nghèo”, “Đô Nương truyện”, “Đặng Nguyên Huyện truyện”, “Bá Giai truyện”, “Thần sắt ca”… Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%).

    IV- NHÀ CỬA CŨA NGƯỜI DAO

    Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào Tây Nguyên … Tuy nhiên, dù cư trú phân tán và có nhiều nhóm Dao khác nhau như Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao quần trắng …

    Chúng ta vẫn có thể nhận ra nét đặc trưng về nhà ở của tộc người này.

    Về cơ bản, người Dao có ba loại hình nhà ở chính: nhà đất, nhà sàn (người Dao quần trắng ở Yên Bái – Nhà sàn là kiểu đặc trưng vùng rừng núi để chống thú dữ, rắn rết. Mát về mùa hè và ấm về mùa đông) và nhà nửa sàn nửa đất (người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa – Lào Cai).

    Song, cùng với sự phát triển chung của xã hội, những nét đặc trưng này đang phai nhạt dần, nhất là từ sau năm 1945 và đặc biệt là những năm gần đây.

    Để tìm hiểu quá trình phát triển nhà ở của dân tộc Dao cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người ta đặc biệt quan tâm đến kết cấu của bộ khung nhà mà đơn vị kết cấu của bộ khung nhà là các kiểu vì (vì cột, vì trung gian giữa vì kèo – vì cột và vì kèo). Nhà ở của người Dao là các kiểu vì kèo và một yếu tố khác vô cùng quan trọng là tổ chức mặt bằng sinh hoạt. Bởi vì sự khác biệt giữa nhà ở của dân tộc nước ta chủ yếu ở hai yếu tố đó, còn yếu tố khác chỉ là thứ yếu.

    V- TÍN NGƯỠNG CŨA NGƯỜI DAO

    Người Dao thờ tổ tiên là BÀN HỒ, vì họ có tín ngưỡng rằng loài chó là Tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng.

    Bàn Hồ là nhân vật huyền thoại, Thủy tổ của dân tộc Dao, đã được nhắc tới trong truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ, trong đó đặc biệt phải kể tới sách “Quá Sơn bảng văn, Bàn Hồ (truyện thơ) và Đặng hành và Bàn Đại Hộ (truyện thơ). Các tác phẩm nêu trên vừa được truyền miệng trong dân gian, vừa được các trí thức người Dao ghi chép thành sách bằng “chữ Nôm Dao”.

    “Quá Sơn bảng văn” hay “Bảng Văn, Bình Hoàng khoán điệp”, được viết trên tấm vải dài, rìa được đệm vải cho cứng chắc. Toàn bộ tài liệu này được ghi bằng chữ Nôm Dao, hai đầu có vẽ cảnh Triều Đình, Vua ngồi trên ngai vàng, dưới chân là con chó Bàn Hồ, nội dung của Quá Sơn bảng văn có thể tóm tắt lại như sau:

    “Bàn Hồ là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen vằn vàng, mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần, được Bình Vương yêu quý, nuôi trong cung vua. Một hôm Bình vương nhận được chiến thư của Cao Vương liền hội triều đình lại để bàn cách đánh lại Cao Vương. Trong khi mọi người còn đang yên lặng vì chưa tìm ra được kế gì, thì con long Khuyển Bàn Hồ nhảy ra phủ phục trước nhà vua xin đi giết Cao Vương. Trước khi Bàn Hồ đi, vua hứa nếu Bàn Hồ giết được Cao Vương thì sẽ gả công chúa cho. Bàn Hồ phải mất 7 ngày 7 đêm mới tới được chỗ Cao Vương. Cao vương thấy con chó Bàn Hồ từ chỗ Bình Vương tới thì cho đó là điềm may, liền mang Bàn Hồ về cung cấm nuôi. Một hôm nhân lúc Cao Vương uống rượu say Bàn Hồ cắn chết Cao Vương, ngoạm đầu mang về báo công với Bình Vương. Giữ lời hứa, Bình Vương gả con gái cho Bàn Hồ. Sau lể cưới, Bàn Hồ mang vợ về núi Cối Kê (Chiết Giang), sau đó vợ chồng Bàn Hồ sinh được 6 con trai và 6 người con gái. 12 người con của Bàn Hồ đều được Bình Vương ban sắc thành 12 họ. Riêng con cả lấy họ cha là họ Bàn, còn các con khác lấy tên họ sau: Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Lý, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu.

    Con cháu Bàn vương sinh sôi ra ngày một nhiều. Tới thời Hồng Vũ (1368-1398), bị hạn ba năm liền không có gì ăn, nhà Vua cung cấp cho mỗi người một cái búa, một con dao để đốn rừng làm rẫy. Con cháu Bàn Hồ phát hết rừng núi của Bình Vương, khiến cho nhà Vua phải cấp cho ‘Quá Sơn bảng văn’ để phân tán đi các nơi tìm đất sinh sống”. Ngày nay, người ta có thể xác định dòng họ và thứ bậc của người Dao qua tên đệm.

    VI- PHONG TỤC & LỄ HỘI NGƯỜI DAO

    Tục “ở rể” cũa người Dao có 2 cấp độ: có thời hạn và vĩnh viễn.

    Ma chay của người Dao được làm theo tục lệ xa xưa (vài vùng còn có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên).

    Gia đình nào đang nấu rượu thì phải cắm lá trước cửa nhà, không cho người lạ vào vì họ quan niệm rằng người lạ vào nhà rượu sẽ bị chua và khê, nên khi thấy có dấu hiệu cắm lá kiêng bạn không nên bước vào nhà.

    Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng có dấu hiệu kiêng cắm lá trước cửa nhà, để không cho người lạ vào nhà, sợ đứa trẻ mới sinh khóc nhiều.

    Người phụ nữ còn có tục cạo chân mày và một phần tóc phía trên trán cho đẹp.

    Họ cũng có tục cử (kiêng) sờ đầu trẻ em, khi cắt tóc, cạo đầu họ vẫn để chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho đó là nơi trú ngụ các hồn vía con người (quan niệm để chỏm tóc như vậy trẻ em sẽ không hay ốm đau).

    Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp ảnh cùng nhau vì như vậy là không tốt, có thể nói đó là một điều cấm kỵ đối với phụ nữ Dao. Người cầm máy ảnh nếu muốn chụp tốt nhất là nên xin phép họ trước.

    Trong năm người Dao cũng có những lễ hội đặc sắc như là:

    – Người đàn ông chỉ được coi là trưởng thành khi đã chịu “Lễ Cấp Sắc”.

    – “Tết Nhảy” được tổ chức vào ngày mồng một và mồng hai tháng giêng.

    – “Hội Hát Giao Duyên” vào ngày mồng mười tháng giêng ở bản Tả Phìn, một bản nhỏ của người Dao và người H’Mông cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 Km (bản này nổi tiếng với các loại thổ cẩm đủ kiểu dáng và sắc màu do bàn tay khéo léo tài hoa của người phụ nữ H’Mông, Dao tạo nên).

    – Và đặc biệt là Bài Thuốc “Tắm Lá Cây Rừng” của tổ tiên người Dao Đỏ còn truyền lại cho đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.

    VII- LỂ TỤC “KÉO VỢ” CỦA NGƯỜI DAO

    1- TRUYỀN THUYẾT

    Nếu như ở những đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở vùng Tây Bắc có tục “ngủ thăm”, “chọc sàn”, “bắt vợ” để chàng trai có thể lấy được người con gái mà mình yêu về làm vợ thì ở dân tộc Dao đỏ lại có tục “kéo vợ” …

    “Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai nhà nghèo nhưng trót đem lòng si mê một cô gái xinh đẹp nhà giàu. Không đủ bạc trắng, không có trâu, dê để cưới hỏi cô, nên anh chỉ biết thương thầm trộm nhớ.

    Trong khi đó cô gái thì hoàn toàn không đoái hoài gì tới chàng.

    Thế rồi một ngày kia, tấm chân tình của chàng đã thấu tận Thần Phật và Đấng linh thiêng. Thần đã báo mộng cho chàng rằng hãy làm sao bắt cóc được cô gái về rồi nhân duyên sẽ thành. Chàng làm theo và đã bắt được người mình yêu về giữ trong nhà mình. Tính tình ương ngạnh của cô gái đã được tình cảm chân thành của chàng trai cảm hóa, họ yêu nhau, sống với nhau, sinh con đẻ cái và sống đến trọn đời”.

    Chuyện xưa thể hiện ước muốn của những người nghèo không có khả năng trả nổi tiền cheo, tiền thách mà lấy được người mình mơ ước. Tính nhân văn của câu chuyện đã kéo dài và được thể hiện đầy đủ trong cuộc sống hôn nhân của thanh niên dân tộc Dao đỏ cho đến tận bây giờ …

    Đó là truyền thuyết, còn chuyện ngày xưa khi còn chế độ quan Lang ở xứ này, các quan lang tạo ra luật để ngăn cản những đôi trai gái nên vợ, nên chồng, chàng trai muốn đến xin cưới người mình yêu để làm vợ phải nộp cho nhà gái và dân bản 70 đồng bạc trắng, 70 vò rượu và 2 con lợn. Nếu không có bạc trắng để cưới vợ mà về ở với nhau rồi sinh con đẻ cái thì bị quan Lang bắt vạ, suối đời phải làm nô lệ, phục dịch cho nhà quan Lang. Số lễ vật này tương đương với một gia tài lớn mà một đời người làm lụng vất vả cũng không thể làm ra. Chính hủ tục đã cản trở bao đôi trai gái đến với nhau và tạo nên nhiều cuộc tình oan trái do quá nghèo. Người Dao ở Vàng Ma Chải mới nghĩ ra cách kéo vợ để tìm hạnh phúc và đối phó với luật của quan Lang. Kéo vợ là một hình thức lách luật để những chàng trai, cô gái nghèo có thể tìm hạnh phúc và nên vợ, nên chồng (tạo luật để … lách luật).

    Người Dao đỏ chỉ kéo vợ vào mùa xuân. Những đám kéo rầm rộ nhất là bắt đầu từ ngày mùng 1 Tết âm lịch đến hết rằm tháng Giêng (kéo vợ ngày Tết thì không bị bắt vạ). Thủ tục kéo vợ cũng rất đơn giản: Những đôi trai gái phải lòng nhau rồi, chỉ việc hẹn hò ở trên rừng rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Theo phong tục, khi chàng trai kéo thì cô gái phải chống đối, càng chống đối thì gia đình sau này có nhiều con cái và hạnh phúc. Khi chàng trai kéo vợ chỉ cần một người trong bản nhìn thấy rồi loan tin cho cả bản biết thì trong quan niệm của người Dao đỏ, đôi trai gái đó đã nên vợ nên chồng.

    Từ đó, những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa mới thì cũng là lúc nam thanh, nữ tú đến tuổi trưởng thành lại hướng theo tiếng gọi tình yêu đôi lứa, lo chuyện xây dựng mái ấm gia đình. Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, nẩy lộc cũng là lúc những chàng trai người Dao đỏ hòa vào điệp khúc xuân, điệp khúc tình yêu đang ngập tràn trên khắp núi đồi bằng một tục lệ riêng của mình. Giữa lưng chừng những vách đá còn phủ mờ sương sớm, các chàng trai, cô gái người Dao đỏ dường như đã hẹn từ trước, họ ngồi bên nhau, nhìn nhau, trao nhau những lời nói yêu thương, hứa hẹn, tình tứ. Thế rồi, trời ngả bóng về chiều, dường như đã hiểu nhau hơn, chàng trai cùng với bè bạn của mình bắt đầu: “kéo” người mình yêu về … làm vợ.

    Theo cái lý của người Dao, không phải kéo vợ là cứ thấy cô nào xinh xắn, giỏi giang, muốn lấy làm vợ thì kéo về nhà mình. Vì trước khi diễn ra “lễ kéo vợ”, đôi nam nữ đã có thời gian tìm hiểu nhau rất cặn kẽ, rồi ưng nhau. Kéo vợ chỉ là cái tục “buộc phải có” để người con gái chính thức bước chân về nhà chồng.

    Sau khi “được” kéo về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở lại trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà. Hết thời hạn 3 ngày, chàng trai hỏi xem cô gái có đồng ý làm vợ mình không? Nếu cô gái đồng ý thì chỉ việc mang con gà, chai rượu sang nhà bố mẹ vợ báo cáo rồi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Còn nếu ba ngày sau cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cô gái về rồi đợi mùa xuân sau đi kéo tiếp.

    Chính vì thế, tục kéo vợ với tính nhân văn, đậm tình người đã thực sự đi vào trong tâm thức và sinh hoạt của người Dao đỏ nơi miền cao Tây Bắc.

    Tục lệ của người Dao đỏ ở Vàng Ma Chải quy định rằng: “Sau khi kéo cô gái về nhà thì nghiễm nhiên đôi trai gái đó đã nên vợ, thành chồng. Họ có thể sống với nhau, sinh con đẻ cái làm ăn đến khi của cải dư thừa rồi mới tổ chức đám cưới”.

    2- CÂU CHUYỆN KÉO VỢ Ở XẢ VÀNG MA CHẢY – LAI CHÂU

    Từ Dào San, con đường quanh co, uốn lượn như dải lụa vắt qua những dãy núi trùng điệp đưa chúng tôi lên xã Vàng Ma Chải, huyện Phong Thổ, Lai Châu.

    Tới nơi cũng vừa lúc trời tối, từng tốp thanh niên đang trò chuyện rôm rả. Ghé vào ngôi nhà phía đầu bản Sì Choang, sau khi nghe giới thiệu, anh chủ nhà năm nay ngoài 45 tuổi, tên Lý Phủ Vảng nhiệt tình mời tôi ở lại. Bên bếp lửa bập bùng, sau vài chén trà ấm, tôi mở lời hỏi về tập tục kéo vợ của đồng bào nơi đây.

    Vừa nhâm nhi chén trà xanh, anh Vảng cho biết:

    – Tục kéo vợ của người Dao đỏ có từ rất lâu đời rồi, thủ tục cũng đơn giản thôi: những đôi trai gái đến tuổi cập kê phải lòng nhau, hẹn hò ở trên rừng, trên đường, hay phiên chợ rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Tuy nhiên, vẫn còn một số đám kéo vợ đôi trai gái chưa có sự tìm hiểu trước hay sự đồng ý của cô gái mà các chàng trai gặp là “bắt về” nhà. Và tục lệ kéo vợ có tự khi nào chẳng ai biết, chỉ biết phong tục này do người đời trước truyền cho người đời sau. Và hầu hết các chàng trai người Dao ở Vàng Ma Chải đều kéo vợ khi muốn lập gia đình. Thời đại ngày nay, việc kéo vợ của người Dao đã có nhiều đổi mới, phù hợp với điều kiện cuộc sống, xã hội.

    Để giúp tôi tận mắt chứng kiến phong tục độc đáo này, anh Vảng bảo cậu con trai năm nay 18 tuổi tên Siểu, dẫn tôi đi xem kéo vợ. Siểu phấn khởi nói:

    Như đã hẹn, từ sáng sớm, Siểu đã diện bộ trang phục dân tộc truyền thống cùng vài người bạn đợi tôi ngoài cửa. Siểu nói:

    – Hôm nay, em rủ anh và bạn đi kéo giúp người yêu em ở xã Mồ Sì San về. Em đã thông báo với bố mẹ rồi, hôm nay sẽ kéo con dâu về nhà.

    Qua vài người bạn của Siểu, tôi được biết: Lý Y Siểu sinh ra và lớn lên ở mảnh đất bản Sì Choang, còn Lý San Mẩy (người yêu Siểu) lại lớn lên từ bản Xéo Hồ Thầu, xã Mồ Sì San. Hai người đều là dân tộc Dao và cũng đến tuổi cập kê. Họ quen nhau trong một lần tình cờ chàng trai đi thăm họ hàng bên xã cô gái. Chỉ mới lần đầu gặp nhau là con mắt đã ưng, cái lòng đã thuận và tình yêu đã nảy nở giữa hai người. Ngày tháng trôi qua, tình cảm của đôi trai gái ngày càng thắm đượm, họ đã thề nguyền cùng chung sống bên nhau suốt đời và hẹn ngày đến “kéo về”.

    Sau nửa tiếng đi xe máy, tại địa điểm cũ hai người thường hẹn nhau, Siểu dặn chúng tôi phải núp đi và khi có tín hiệu thì chạy đến giúp.

    Như đúng kế hoạch đang lúc tâm sự thì chúng tôi nhận được lệnh đến giúp Siểu kéo cô Mẩy về nhà trai. Sự giằng co quyết liệt giữa 2 bên, cô gái cố vùng vẫy, các chàng trai dồn hết sức kéo cô gái về. Siểu và các bạn đã thành công khi đưa được Mẩy về nhà Siểu. Lúc này mẹ Siểu đã đứng đợi sẵn ở ngoài cửa để đón cô gái.

    Ngày hôm đó nhà trai mổ gà thiết đãi con dâu, cô gái phụ giúp mẹ nấu cơm cho gia đình. Theo “cái lý” của người Dao thì chàng trai luôn phải ở bên cạnh cô gái canh không cho cô gái trốn về nhà và ngày hôm sau gia đình chàng trai phải đến thông báo cho nhà gái biết con gái họ đang ở nhà mình.

    Để chuẩn bị cho ngày kéo vợ, gia đình chàng trai chuẩn bị cho con trai và con dâu quần áo, vòng bạc, dây cúc bạc để khi con dâu mới về biết được rằng cô cũng được bố mẹ chồng quan tâm, yêu thương như con đẻ.

    Ba ngày sau, nếu cô gái đồng ý làm vợ mình thì chàng trai mang một con gà, chai rượu ngon sang nhà bố mẹ vợ thông báo và xin phép đưa gia đình nhà mình sang bàn chuyện kết hôn. Còn ngược lại, nếu cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cho cô gái về rồi đợi đến mùa xuân năm sau đi kéo tiếp.

    Ông Lý Phủ Hành – Chủ tịch UBND xã Vàng Ma Chải, cho biết:

    – Xã có tổng số 541 hộ với 3.184 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Dao và Hà Nhì sống đoàn kết, trong đó dân tộc Dao chiếm trên 90%. Trước đây, các chàng trai thấy cô gái mình thích ở đâu thì kéo bằng được cho dù cô gái không đồng ý. Hiện nay, đôi trai gái được tự do tìm hiểu và tự quyết định hôn nhân của mình. Khi đôi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, ưng thuận họ sẽ về báo cáo với bố mẹ, dòng họ biết việc sẽ lấy cô gái đó làm vợ. Trong thực tế kể cả bố mẹ nhà trai hay nhà gái không đồng ý cuộc hôn nhân thì đám cưới vẫn được diễn ra và phải chấp nhận đôi vợ chồng này.

    Hôn nhân chính là kết quả của tình yêu tự nguyện đến với nhau, cũng có những cuộc kéo vợ đã không thành khi có sự ép buộc của bên phía chàng trai đối với cô gái. Song nhìn về phía tích cực, các cuộc “kéo vợ” đều chứa đựng những yếu tố nhân văn khẳng định thêm cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình hạnh phúc.Tục kéo vợ nơi vùng cao này được ví như “ông tơ, bà nguyệt” se duyên cho hạnh phúc lứa đôi. Và mùa xuân, mùa của những đôi trai thanh, gái sắc người Dao tìm đến với nhau, yêu nhau, rồi thành vợ thành chồng trên “Chiếc cầu se duyên” của tục kéo vợ.

     

    VIII- LỂ RỬA MẶT CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    Lể Rửa Mặt là lể diễn ra để xử phạt những người mắc lỗi, sống không đúng mực trong quan hệ vợ chồng, anh em, dòng họ, làng bản.

    Lể diễn ra trong 1 ngày tại nhà Trưởng Họ, những người trong gia đình, dòng họ chỉ dự chứ không được trực tiếp tham gia mà phải nhờ một số người có uy tín của dòng họ khác (cùng làng) đứng ra làm Lể thì mới khách quan.

    Việc nhờ ai thực hiện nghi lể phải có sự bàn bạc, thống nhất 3 bên: Gia đình, dòng họ của người mắc lỗi và người uy tín của dòng họ khác được mời đến.

    Trước hôm diễn ra nghi lễ, Trưởng Dòng Họ mời khoảng 30 người (ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác trong dòng họ) để thống nhất xử phạt, có thể xử phạt bằng hiện vật như: Lợn, gà, gạo, rượu hoặc tiền, bạc trắng …

    Gia đình người có tội phải chuẩn bị 1 chiếc khay trong đó đựng hai chén rượu, 2 hào bạc trắng và một chiếc khăn mặt mới. 2 – 3 người có uy tín của dòng họ khác (được ấn định từ trước) yêu cầu người có tội bưng chiếc khay đến trước mặt các thành viên trong dòng họ và tất cả những người (ngoài dòng họ) được mời đến … vái mỗi người một cái, miệng xin được tha lỗi và hứa từ nay trở đi không gây ra tội lỗi nữa. Khi vái đến ai, người đó đều dặn dò, khuyên nhủ người có tội phải thay đổi hành vi, sống có nghĩa, có tình với họ hàng, làng bản, không được gây xích mích, thù oán nhau, chịu khó lao động phát triển kinh tế gia đình …

    Kết thúc nghi lể, gia đình người có tội phải làm bữa cơm thịnh soạn mời tất cả mọi người có mặt tại buổi lể. Người có tội mang rượu đến cụng chén các vị cao niên trong và ngoài dòng họ để cảm ơn và hứa sẽ không tái phạm.

    (Còn tiếp – Sưu tầm & biên tập lại từ nhiều nguồn _ nguyenvo)

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Phục Của Phụ Nữ Dao Thanh Phán
  • Nguồn Gốc Và Quá Trình Tộc Người
  • Học Tiếng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Để Gần Dân, Hiểu Dân Hơn
  • Các Dân Tộc Tỉnh Kon Tum
  • Tình Hình Sử Dụng Tiếng Mẹ Đẻ Của Người Mông Ở Hà Giang
  • Tài Liệu Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Du Hoc Trung Quốc: Đại Học Dân Tộc Quảng Tây ” Amec
  • Trường Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • 10. Phần 9: Tình Duyên
  • TẬP HUẤN

    TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT

    CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ

    SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẮKLẮK

    Buôn Ma Thuột, ngày 21 tháng 10 năm 2013

    CHÀO MỪNG

    QUÝ THẦY CÔ GIÁO

    VỀ THAM DỰ LỚP TẬP HUẤN

    Buôn Ma Thuột,ngày 21 tháng 10 năm 2013

    NỘI DUNG TẬP HUẤN

    Modul 1. Nguyên tắc dạy tiếng việt cho học sinh DTTS

    Modul 2. Xây dựng môi trường giàu chữ viết và thư viện

    thân thiện; các loại tài liệu cần hỗ trợ HSDT.

    Modul 3. Phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học

    sinh dân tộc thiểu số.

    Modul 4. Một số phương pháp dạy từ, mở rộng vốn từ

    Tiếng Việt cho học sinh DTTS.

    Modul 5. Nguyên tắc dạy toán cho học sinh DTTS

    một số lưu ý khi dạy toán cho học sinh DTTS.

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT

    CHO HỌC SINH

    DÂN TỘC THIỂU SỐ

    MODUL 1

    Người trình bày: Th.S Trịnh Đức Long

    Trưởng khoa Xã hội Nhân văn – Trường CĐSP ĐắkLắk

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 1: hiểu chính xác nghĩa từ vừng, cấu trúc cú pháp

    HS cần hiểu nghĩa từ vựng, cấu trúc câu và nội dung câu, sử dụng đúng mẫu câu tiếng Việt.

    Hướng HS tập trung đến nghĩa của từ, nội dung kiến thức chứ không phải là hình thức, bắt chước một cách máy móc.

    Tiến trình dạy chậm, hiệu quả, kĩ càng, nên sử dụng những ngôn từ đơn giản, thông thường,

    Sử dụng những câu đơn ngắn và nhắc lại, nhấn mạnh những từ

    trọng tâm

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 2: Phát triển kỹ năng tư duy theo cấp độ nhận thức

    Phát triển kỹ năng tư duy, sử dụng ngôn ngữ thiết kế các câu hỏi

    theo cấp độ tư duy.

    HS cần có sự hỗ trợ một cách hệ thống nhằm phát triển năng lực

    học tập của HS, giúp HS tiếp tục theo học các mức độ tiếp theo.

    Đơn giản các bài tập, hoạt động, giảm thiểu mức độ khó và xác

    định rõ yêu cầu cần đạt được của các họat động.

    Cung cấp khối lượng từ vựng nhất định, và sử dụng từ vựng theo

    mẫu câu đơn giản dễ hiểu.

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 3: Rèn luyện kỹ năng nghe nói, đọc, viết

    Hoạt động nghe, nói, đọc và viết tập trung vào cả hiểu nghĩa

    và tính chính xác, HS cần hiểu nghĩa của từ trước khi học âm

    vần trong từ.

    Học sinh cần hiểu Nghĩa các từ trong bài học, những từ khó

    là trạng từ, tính từ, danh từ trìu tượng

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 4: Tăng cường hoạt động học tập tương tác

    Thông qua tương tác với các bạn học, cùng nhau học hỏi,

    khám phá và giải quyết vấn đềviệc học sẽ hiệu quả hơn.

    Giao tiếp/ trao đổi giúp HS phát triển tư duy, ngôn ngữ,

    lắng nghe người khác để tự phát triển

    Hoạt động phải thể hiện rõ yêu cầu giao tiếp, mục đích

    phát triển ngôn ngữ, trải nghiệm, chia sẻ hoạt động nhóm

    xây dựng bài học, trang trí lớp… nâng cao sản phẩm của mình

    HS hứng thú, ham học hỏi, yêu trường lớp.

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 5: sử dụng phương pháp đa dạng

    HSDT những năm đầu đến trường cần có sự tự tin trong

    việc học ngôn ngữ mới, nên GV cần sử dụng đa dạng nhiều

    phương pháp khác nhau

    NGHE

    QUAN SÁT

    LÀM THEO

    NGUYÊN TẮC DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DTTS

    NGUYÊN TẮC 6: xây dựng môi trường học tập thân thiện

    HS học hiệu quả nếu được học trong môi trường học tập

    an toàn, thân thiện, được hỗ trợ và được tôn trọng

    Cần giúp HS tự tin học Tiếng Việt, nếu các em chưa sẵn sàng

    Tạo cho các em có nhiều cơ hôi để học tập giáo tiếp tiêng Việt.

    Coi trọng ngôn ngữ cũng như văn hóa của HS

    GV nên khơi gợi và phát triển vốn kiến thức đã có

    để hình thành vốn kiến thức mới cho trẻ

    Phương pháp kiểm tra nên kết hợp nhiều dạng bài nhằm

    mang lại kết quả đánh giá toàn diện

    GV khen ngợi HS có tác động tình cảm tới HS.

    Lời nhận xét của GV mang tính nhân văn sẽ tạo nên

    sự tự tin và hứng thú học tập của HS.

    CHÚC QUÝ THẦY CÔ

    THÀNH CÔNG

    TRONG DẠY HỌC!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc: Thách Thức Lớn
  • Phương Pháp Mới Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Các Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dtts
  • Bảo Tàng Dân Tộc Học Ưu Đãi Hè
  • Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Chuyện Về Người Cán Bộ Tâm Huyết Truyền Dạy Ngôn Ngữ Và Chữ Viết Tiếng Thái
  • Chuyên Đề Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc
  • Để Ngôn Ngữ Mường Không “rơi Rụng”
  • Khẩn Trương Đưa Đề Án “dạy Và Học Tiếng Nói, Chữ Viết Dân Tộc Mường” Đi Vào Cuộc Sống
  • Theo ban giám hiệu nhà trường thì phần lớn số học sinh của nhà trường là người dân tộc Thái, nhưng nhiều em hiện nay không nói và hiểu được tiếng dân tộc mình. Nguyên nhân là từ khi các em còn nhỏ, bố mẹ không dạy tiếng Thái cho con, mà chỉ nói tiếng phổ thông (tiếng Kinh).

    Đến khi đi học ở trường tiểu học lại thường xuyên nói tiếng phổ thông, nên tiếng dân tộc Thái của các em bị mai một, quên dần. Đặc biệt, toàn bộ các em học sinh của trường đều không viết được chữ Thái, vì từ trước đến nay chưa được học.

    Cô giáo Cầm Thị Hoàn – hiệu trưởng Trường THCS Dân tộc nội trú huyện Thường Xuân tâm sự: “Xuất phát từ yêu cầu của nhà trường là muốn giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc Thái cho các em học sinh của trường, nên ban giám hiệu quyết định mở lớp dạy tiếng và chữ viết dân tộc Thái vào chiều thứ 5, thứ 7 hàng tuần.

    Lớp học thử nghiệm này hiện nay có 40 em học sinh khối lớp 8 theo học. Bên cạnh việc học tiếng, chữ viết, các em tham gia lớp học còn được sinh hoạt nhiều buổi ngoại khóa tìm hiểu về những nét đặc trưng trong sinh hoạt, văn hóa cộng đồng dân tộc Thái bản địa xứ Thanh. Kết thúc năm học, nhà trường sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm để tiếp tục mở lớp dạy tiếng và chữ viết dân tộc Thái cho các em học sinh khóa sau”.

    Được biết, lớp dạy tiếng và chữ viết Thái của Trường THCS Dân tộc nội trú huyện Thường Xuân hiện nay do cô giáo Ngân Thị Tiên (giáo viên có chứng chỉ dạy tiếng và chữ viết dân tộc Thái cấp tỉnh) phụ trách. Đây là trường đầu tiên trong 13 trường THCS, THPT Dân tộc nội trú ở Thanh Hóa mở được lớp dạy tiếng và chữ viết dân tộc Thái cho các em học sinh, nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

    Hoàng Lam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi
  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Giáo Trình Học Tiếng Thái, Giáo Trình Học Tiếng Thái Lan, Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái, Giáo Trình Xử Lý Nước Thải, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí Và Xử Lý Khí Thải, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 9, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 3 Mới, Giáo Trình Tiếng Anh 8, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6 Ppt, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6 Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh 7, Giáo Trình Dạy Tiếng ê Đê, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 4, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 7, Giáo Trình Tiếng Anh 9, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình Tiếng Anh 6, Giáo Trình Học Tiếng Đức, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Học Tiếng Đức Cơ Bản, Giáo Trình Học Tiếng Đức Căn Bản, Giáo Trình Học Tiếng Đức A2, Giáo Trình Tiếng Anh 5, Giáo Trình Học Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Tiếng Anh Ket, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Bậc Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 2, Giáo Trình Ngữ âm Tiếng Anh, Giáo Trình Ngữ âm Học Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Là Gì, Giáo Trình Tiếng Anh Know How, Giáo Trình Tiếng Anh 2 Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Kid’s Box, Giáo Trình Môn Tiếng Anh 9, Giáo Trình Tiếng Anh Vus, Giáo Trình Tiếng Anh B, Giáo Trình Tiếng Anh Abc, Giáo Trình Tiếng Anh A2, Giáo Trình Tiếng Anh Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh A1, Giáo Trình B Tiếng Anh, Giáo Trình Tự Học Tiếng Anh ở Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh A, Giáo Trình ôn Thi Đại Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình ôn Thi Cao Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh B1, Giáo Trình Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh We Can!, Giáo Trình Tiếng Anh Tự Học, Mua Giáo Trình Tiếng Anh, Giao Trinh Tieng Anh Lop 8, Giáo Trình Tiếng Anh Cấp 3, Mua Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em Hay, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Tiếng Anh B2, Giáo Trình Tiếng ê Đê, Giáo Trình Tiếng Anh Pet, Giáo Trình Tiếng Anh Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh ôn Thi Đại Học, Giáo Trình 50 Bài Tiếng Hàn, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Lớp 6, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 4, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Lớp 7, Giáo Trình Tiếng Anh Mỹ, Học Tiếng Hoa Giáo Trình 301, Giáo Trình Tiếng Anh More, Giáo Trình Tiếng Anh 3 Đại Học, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Lớp 8, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Lớp 4,

    Giáo Trình Học Tiếng Thái, Giáo Trình Học Tiếng Thái Lan, Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái, Giáo Trình Xử Lý Nước Thải, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí Và Xử Lý Khí Thải, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 9, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 3 Mới, Giáo Trình Tiếng Anh 8, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6 Ppt, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6 Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 6, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh 7, Giáo Trình Dạy Tiếng ê Đê, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 4, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 7, Giáo Trình Tiếng Anh 9, Giáo Trình Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình Tiếng Anh 6, Giáo Trình Học Tiếng Đức, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Học Tiếng Đức Cơ Bản, Giáo Trình Học Tiếng Đức Căn Bản, Giáo Trình Học Tiếng Đức A2, Giáo Trình Tiếng Anh 5, Giáo Trình Học Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Tiếng Anh Ket,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái
  • Một Số Cách Dạy Tiếng Anh Trẻ Em Mà Phụ Huynh Nên Áp Dụng Tại Nhà
  • 7 Gợi Ý Dạy Con Tiếng Anh Ở Nhà
  • 4 Cách Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ 3 Tuổi Tại Nhà Các Bậc Phụ Huynh Cần Biết
  • Ứng Dụng Học Chữ Thái Của Chàng Trai Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Việc Học Tiếng Thái
  • Gdth Tổ Chức Dạy Học Thực Nghiệm Tiếng Dân Tộc Thái Lớp 1 Tại Trường Th&thcs Xã Sam Mứn
  • Cách Học Tiếng Thái Hiệu Quả Và Nhanh Chóng
  • Người Lưu Giữ Chữ Thái Bằng Công Nghệ Thông Tin
  • Đôi Chân Diệu Kỳ Của Cô Học Trò Người Dân Tộc Sán Dìu
  • Nỗi băn khoăn đó đã trở thành động lực để Tuyên bắt tay vào việc lập ra Website có tên miền chúng tôi với mục đích đăng tải những bài viết về lịch sử, văn hóa, xã hội, ca dao tục ngữ từ nhiều sách của các tác giả uy tín.

    “Phần lớn nguồn thông tin được trích ra là từ các cuốn sách cũ, hiếm. Rất ít người tiếp cận được. Còn sách mới của các tác giả là chuyên gia về dân tộc học hay nghệ nhân thì rất ít. Mà nếu có thì chỉ xuất bản trong nội bộ, không bán ra bên ngoài nên những tư liệu đó không đến được với cộng đồng. Vì thế, qua trang Web, mọi người sẽ dễ dàng tiếp cận được với nguồn tư liệu về văn hóa Thái”, Tuyên chia sẻ.

    Hiện nay, trang Web của Tuyên có hàng nghìn lượt truy cập mỗi ngày. Không chỉ giúp cộng đồng dân tộc Thái của mình có kênh thông tin hữu ích, Lò Văn Tuyên còn lập ra ứng dụng bàn phím chữ Thái để mọi người dùng có thể gõ trực tiếp chữ Thái trên điện thoại và máy tính. Theo Tuyên, trước đây, cũng đã có bàn phím chữ Thái, nhưng chỉ là gõ chữ Việt ra chữ Thái. Còn với ứng dụng của Tuyên là gõ trực tiếp ra chữ Thái.

    Từng theo học chuyên ngành Công nghệ thông tin ở Trường Cao đẳng nghề Quân khu 2, nên Lò Văn Tuyên rất nhạy bén và sáng tạo để ứng dụng công nghệ thông tin vào việc học chữ Thái. Cùng với bàn phím chữ Thái, Tuyên còn lập ra một ứng dụng học chữ dân tộc Thái trên điện thoại cho người mới bắt đầu học.

    Ứng dụng có tên là Tailingo, được nhiều người đánh giá là dễ hiểu, dễ học. Nhiều giáo viên dạy chữ Thái đã giới thiệu cho học viên cài đặt ứng dụng để có thể tự học ở nhà. Với Tuyên, tâm huyết làm ra những ứng dụng hữu ích đó là giúp mọi người học chữ Thái, viết chữ Thái dễ dàng hơn.

    Lò Văn Tuyên mang trong mình một tham vọng có thể phổ cập được chữ Thái tới tất cả người dân tộc Thái. Tuyên kể, có những người bạn của mình rất giỏi tiếng Anh, có nhiều cơ hội được đi đây đi đó. Nhưng lại không biết tiếng dân tộc Thái, nên khi gặp người dân tộc mình ở nước ngoài họ đã cảm thấy rất tiếc nuối khi đã đánh mất đi cơ hội nói tiếng dân tộc mình tại xứ người. Hay có người dù đã nhiều tuổi mà vẫn thấy buồn và hổ thẹn khi không biết được chữ nào của cha ông mình.

    Ngoài ra, Lò Văn Tuyên còn lập ra một bảng chữ Thái treo tường. Bảng chữ cái có đầy đủ các ký tự chữ Thái (chữ Thái Việt Nam); các từ ngữ (có phiên âm) và hình ảnh mô tả trực quan, sinh động giúp người học nhớ lâu hơn, thích hợp với nhiều đối tượng (kể cả trẻ em).

    Lò Văn Tuyên cho hay, tất cả những gì đã làm được là để hiện thực hóa tham vọng lớn của mình. Trong thời gian tới, Tuyên dự định sẽ cùng một số người đồng hành soạn từ điển tiếng Thái (Thái Tây Bắc) bao gồm, cả sách và từ điển Online; biên soạn sách tự học chữ Thái. “Học chữ Thái không cần đầu tư quá nhiều chất xám. Nếu là người Thái thì việc học rất đơn giản. Quan trọng là họ có yêu tiếng dân tộc mình hay không mà thôi”, Lò Văn Tuyên chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Học Tiếng Thái Nhanh Nhất
  • Đến Điện Biên Khám Phá Bản Sắc Văn Hóa Độc Đáo Của Người Thái
  • Điện Biên: Ghi Nhận Về Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Tiếng Thái, Mông
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Thái Trắng (Tày Khao) Và Thái Đen (Tày Đăm)
  • ‘cha Đẻ’ Của Những Công Trình Nghiên Cứu Văn Hóa Dân Tộc Thái Đen
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Thái Trắng (Tày Khao) Và Thái Đen (Tày Đăm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Điện Biên: Ghi Nhận Về Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Tiếng Thái, Mông
  • Đến Điện Biên Khám Phá Bản Sắc Văn Hóa Độc Đáo Của Người Thái
  • Cách Học Tiếng Thái Nhanh Nhất
  • Ứng Dụng Học Chữ Thái Của Chàng Trai Dân Tộc Thái
  • Bàn Về Việc Học Tiếng Thái
  • Tên gọi khácTày, Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (Thái Đen), Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc

    Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm… Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.

    Người Thái có tục ở rể, vài năm sau, khi đôi vợ chồng đã có con mới về ở bên nhà chồng.

    Đồng bào quan niệm, chết là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia. Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về “mường trời”.

    Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao… là những vốn quý báu của văn học cổ truyền người Thái. Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của đồng bào Thái là: “Xống chụ xon xao”, “Khun Lú, Nàng Ưửa”. Người Thái sớm có chữ viết nên nhiều vốn cổ (văn học, luật lệ, dân ca) được ghi chép lại trên giấy bản và lá cây. Đồng bào rất thích ca hát, đặc biệt là khắp. Khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả. Hạn khuống, ném còn là hai đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái.

    Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá độc đáo: các gian đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần : một phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và còn là nơi để tiếp khách nam.

    Có nhiều nhóm địa phương với những phong cách trang phục khác nhau.

    Mấy chục năm gần đây, nam giới người Thái mặc âu phục khá phổ biến.

    Trang phục nữ Thái chia làm 2 loại phân biệt khá rõ theo hai ngành Thái Tây Bắc là Thái trắng (Táy khao) và Thái đen (Táy đăm):

    + Thái trắng:Thường nhật, phụ nữ Thái trắng mặc áo cánh ngắn (xửa cóm), váy màu đen không trang trí hoa văn. Aáo thường là màu sáng, trắng, cài cúc bạc tạo hình bướm, ve, ong… Cái khác xửa cóm Thái đen là cổ áo hình chữ V. Thân áo ngắn hơn áo cánh người Kinh, tạo dáng ôm chặt lấy thân, khi mặc cho vào trong cạp váy. Váy là loại váy kín (ống), màu đen, phía trong gấu đáp vải đỏ. Khi mặc xửa cóm và váy chị em còn tấm choàng ra ngoài được trang trí nhiều màu. Khăn đội đầu không có hoa văn mà chỉ là băng vải chàm dài trên dưới 2 mét… Trong các dịp lễ tết họ mặc áo dài màu đen. Đây là loại áo dàu thụng thân thẳng, không lượn nách, được trang trí bằng vải ‘khít’ ở giữa thân có tua vải phủ từ vai xuống ngực, nách áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn trong bố cục hình tam giác. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu. Họ có loại nón rộng vành.

    + Thái đen: Thường nhật phụ nữ Thái đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối (chàm hoặc đen), cổ áo khác Thái trắng là loại cổ tròn, đứng. Đầu đội khăn ‘piêu’ thêu hoa văn nhiều mô-típ trang tri mang phong cách từng mường. Váy là loại giống phụ nữ Thái trắng đã nói ở trên. Lối để tóc có chồng và chưa chồng cũng giống ngành Thái trắng. Trong lễ, tết áo dài Thái đen đa dạng với các loại xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái trắng.

    Share : Dân tộc Thái trắng (Tày khao) và Thái đen (Tày đăm)

    Dân tộc Thái trắng (Tày khao) và Thái đen (Tày đăm)

    Oleh quang pham

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘cha Đẻ’ Của Những Công Trình Nghiên Cứu Văn Hóa Dân Tộc Thái Đen
  • Tổng Hợp Từ Vựng Tiếng Anh Về Con Người
  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Trọn Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Về Bộ Phận Cơ Thể Người Đầy Đủ Nhất
  • Cùng Con Vừa Chơi Vừa Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • NGÔN NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG TIẾNG THÁI

    A-MỤC TIÊU

    1 – Mục tiêu chung

    Trang bị kiến thức ngôn ngữ đại cương về tiếng Thái cho giáo viên dạy

    tiếng Thái cán bộ, công chức.

    2- Mục tiêu cụ thể

    Giúp cho giáo viên nắm được kiến thức ngôn ngữ tiếng Thái về các phương diện:

    -Ngữ âm, chữ viết

    -Từ vựng, ngữ nghĩa

    -Ngữ pháp.

    B- ĐỐI TƯỢNG

    Giáo viên dạy tiếng Thái cho cán bộ, công chức tại các tỉnh : Điện Biên,

    Hòa Bình,Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Yên Bái.

    C- THỜI GIAN : 02 ngày

    D- NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

    PHẦN THỨ NHẤT: NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TIẾNG THÁI.

    A-LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TIẾNG NÓI CHỮ VIẾT CỦA DÂN TỘC THÁI

    Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết từ

    lâu đời. Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện của chữ Thái, nhưng

    hàng ngàn năm nay, các nhóm Thái ở nước ta đã sử dụng con chữ riêng của mình cho

    đến ngày nay. Người Thái ở Việt Nam, cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước

    ngoài, đã và đang sử dụng, giữ gìn và bảo tồn nó. Bộ chữ Thái là một công cụ để ghi

    nhận và giao tiếp trong cộng đồng người Thái. Nó ghi nhận và phản ánh đầy đủ,

    phong phú và tế nhị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sáng lành mạnh của dân tộc

    Thái, các hoạt động của con người như lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên

    nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sinh hoạt của con người trong xã hội, mặt

    khác nó còn phản ánh văn hoá nghệ thuật (Thơ, ca, tục ngữ, truyện, các phong tục tập

    quán…) những di sản đó đều được bộ chữ Thái ghi chép và truyền đạt lại từ thế hệ

    này sang thê hệ khác.

    Cùng với các tộc người khác, người Thái còn có nền văn hoá phong phú đa dạng,

    các tác phẩm văn học dân gian đã được ghi chép lại bằng chữ Thái Cổ. Hiện nay có

    khoảng 3000 tác phẩm, còn chưa kể các tác phẩm đang được truyền miệng rải rác ở

    nhiều nhóm Thái khác nhau. Các tác phẩm văn học Thái đã và đang được khôi phục

    như: Tác phẩm Xống chụ xon xao, Khun Lù Nàng Ủa,Ý Đón, Ý Đăm, Ý nọi Nang

    1

    Xưa, Nang Ý tú, Nàng Phôm Hom, Tạo Nang Hôm Nang Hai, Hiến Hom, Tong Đón

    AmCa, Xông ca Xi Cáy, Khun tính, Út Ỏ, Pha mệt, Pha cáng, Chương Han, tay Pú

    Xấc, Trang Nguyên, Trang Tư…

    Chữ Thái được nhân dân các vùng người Thái cư trú truyền dạy học cho con cháu

    theo con đường cha truyền con nối đến tận bây giờ, không có trường, lớp học, không

    có sách giảng dạy, không có tài liệu hướng dẫn.

    Tây Bắc được giải phóng, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, sau này đổi tên là

    khu tự trị Tây Bắc, tháng 11/1954, sở Giáo dục khu đã tập hợp các tri thức người Thái

    toàn khu về họp bàn về sử dụng chữ Thái và thông nhất xây dựng bộ chữ Thái thống

    nhất nhân dân còn sử dụng đến ngày nay. Đó là bộ chữ để dùng cho công tác xoá nạn

    mù chữ, phương tiện báo cáo cấp xã, bản, được sử dụng trong văn bản nhà nước như

    giấy kết hôn, khai sinh, dùng trong phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách

    báo, ấn phẩm văn học, tuyên truyền cổ động.

    Sau đó Hệ chữ Thái cải tiến được thông qua năm 1963 tại Sở giáo dục Khu Tự

    trị Tây Bắc do nhóm nghiên cứu chữ Thái và tiếng Thái của khu Tây Bắc soạn thảo,

    và được phép sử dụng dạy cho các em học sinh ở cấp 1, vùng dân tộc Thái thuộc khu

    Tây Bắc, chủ yếu là ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu.

    Chữ Thái thống nhất và chữ Thái Cải tiến đã được soạn thảo thành sách, được

    đưa vào dạy trong các lớp bổ túc văn hoá và cấp 1 phổ thông ở một số tỉnh, từ năm

    học 1954-1955. Nhưng phong trào học và dùng chữ Thái cải tiến vấp nhiều khó khăn,

    trước hết là do bản thân chữ Thái cải tiến có những điểm chưa hợp lý; chưa hợp lòng

    dân, do vậy đến năm 1969 thì tạm dừng để nghiên cứu lại … (theo quyết định số 153

    ngày 20/8/1969 của Phủ thủ tướng ) về việc xây dựng cải tiến và sử dụng chữ viết các

    dân tộc thiểu số.

    Khi Quyết định số 53 Ngày 22/02/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ

    tướng Chính phủ) về ”chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số”, được ban

    hành, nhiều người muốn La tinh hoá chữ Thái. Năm 1981, phương án chữ Thái La

    tinh được phê chuẩn ở tỉnh Lai Châu. Bộ chữ này được sử dụng để làm từ điển TháiViệt, in các trang văn nghệ dân tộc trong các sách báo địa phương. Ở Sơn La và các

    tỉnh khác một số trí thức người Thái dùng chữ quốc ngữ phiên âm để in những tác

    phẩm văn học dân gian Thái. Nhưng chữ Thái la tinh đã không thể hiện đúng một số

    âm của tiếng Thái.

    Để giữ gìn, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ chữ viết trong thời kỳ hội nhập, Đảng,

    Chính phủ và các bộ ngành trung ương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc truyền

    dạy và bảo tồn phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, cụ thể như:

    2

    Trong luật phổ cập giáo dục tiểu học được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1991,

    tại Điều 4 có ghi: “Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt. Các dân tộc

    thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để

    thực hiện giáo dục tiểu học”.

    Thông tư số 01 ngày 3/2/1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã Hướng dẫn việc

    dạy học tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số.

    Luật giáo dục (Luật số 11/1998/QH10) được Quốc hội thông qua ngày

    02/12/1998, tại Điều 5, tiết 2 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc

    thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Việc dạy và học tiếng nói, chữ

    viết của dân tộc thiểu số được quy định theo quy định của Chính phủ”.

    Nghị định số 72 ngày 06/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp

    lệnh Thư viện, Điều 14, mục 6 có ghi rõ như sau: “Nhà nước có chính sách đầu tư

    cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng DTTS,

    tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng này”.

    Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị của số 38 ngày 09/11/2004 về

    việc đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ công chức công tác ở

    vùng dân tộc miền núi chỉ rõ “Yêu cầu của công tác quản lý và phát triển kinh tế xã

    hội, an ninh, quốc phóng đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức công tác ở các vùng có

    đồng bào dân tộc thiểu số phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong công

    tác…đào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS cho cán bộ, công chức, đặc biệt là đối với cán

    bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, xã, công chức nhà nước, sĩ quan, chiến sĩ trong lực

    lượng công an, quân đội công tác ở các vùng dân tộc, miền núi. Đây là một trong

    những nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc”.

    Tại Điều 7 tiết 2 của Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 ghi

    rõ: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết

    của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học

    sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường

    và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được

    thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

    Thực hiện Chỉ thị số 38 ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ngày

    24/01/2006, Bộ Giáo dục đã ban hành Quyết định số 03 về việc Ban hành Chương

    trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở

    vùng dân tộc thiểu số. Ngày 15/7/2010 Chính phủ đã ban hanh Nghị định số 82 quy

    định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục

    phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư liên tịch số 50, ngày

    3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Cách Dạy Tiếng Anh Trẻ Em Mà Phụ Huynh Nên Áp Dụng Tại Nhà
  • 7 Gợi Ý Dạy Con Tiếng Anh Ở Nhà
  • 4 Cách Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ 3 Tuổi Tại Nhà Các Bậc Phụ Huynh Cần Biết
  • Học Tiếng Anh Qua Tên Các Loại Động Vật Có Phiên Âm
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Các Con Vật Khi Còn Nhỏ
  • Tài Liệu Dạy Học Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Hmông Tt

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Nhật Với Flashcard Hiệu Quả
  • Kinh Nghiệm Học Tiếng Nhật Luyện Thi Jlpt
  • Bài 9: Cách 4 Của Danh Từ
  • ​học Tiếng Nga Giao Tiếp Thành Công Với Những Bước Sau
  • Cách Nhớ これら 調べる 事故 Korera Shiraberu Jiko
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ NGUYỄN THU PHƯƠNG DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG Chuyên ngành: Mã số: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn văn và tiếng Việt 9140111 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC Hà Nội – 2022 CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI AM Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Nguyễn Quang Ninh Phản biện 1: chúng tôi Đỗ Việt Hùng Phản biện 2: chúng tôi Lê Thị Phượng Phản biện 3: chúng tôi Nguyễn Thị Hồng Vân Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án, họp tại: ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… Vào hồi …… giờ, ngày ….tháng …… năm 2022 Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, giáo dục là lĩnh vực hoạt động có hiệu quả nhất trong việc rút ngắn khoảng cách văn hoá, kinh tế giữa các vùng miền và dân tộc. Trong đó, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh (HS) dân tộc thiểu số (DTTS) cấp tiểu học là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng DTTS. 1.2. Trong văn hoá giao tiếp tiếng Việt, việc sử dụng từ xưng hô góp phần quan trọng quyết định thành công của cuộc giao tiếp. Từ xưng hô tiếng Việt là lớp từ khúc xạ đặc điểm văn hoá giao tiếp của người Việt một cách tinh tế, truyền tải tình cảm, thái độ, mức độ khinh – trọng, thân – sơ, quan hệ vai và thứ bậc giữa các nhân vật tham gia giao tiếp. Với HS tiểu học người DTTS học tiếng Việt như ngôn ngữ 2 (NN2), từ xưng hô có thể coi là một trong những thách thức, rào cản trong trong việc sử dụng ngôn ngữ. 1.3. Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành cũng như chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGD&ĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), nội dung dạy học của cả hai chương trình đều rất quan tâm đến việc dạy từ xưng hô, cách xưng hô để phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, năng lực giao tiếp cho HS tiểu học. 1.4. Thực trạng tổ chức dạy học tiếng Việt nói chung và từ xưng hô tiếng Việt nói riêng cho HS tiểu học dân tộc Hmông còn hạn chế. Thực tế cho thấy HS tiểu học dân tộc Hmông sử dụng tiếng Việt, đặc biệt là từ xưng hô tiếng Việt còn mắc nhiều lỗi. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông”. 2 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông. 2.2. Phạm vi nghiên cứu: Trong luận án này, chúng tôi chỉ khảo sát HS dân tộc Hmông ở một số trường phổ thông dân tộc bán trú tại tỉnh Điện Biên. Chúng tôi nghiên cứu trường hợp để khảo sát sâu và thực nghiệm (TN) dạy học ở ba trường tiểu học dân tộc bán trú ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên: trường tiểu học Trần Văn Thọ, Nậm Pố và Nậm Kè số 2. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận án được thực hiện với mục đích đề xuất và vận dụng các biện pháp dạy học nhằm nâng cao khả năng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt trong giao tiếp cho HS tiểu học dân tộc Hmông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học với tư cách là NN2. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (1) Hệ thống hóa lí luận về dạy học NN2 và thụ đắc NN2, từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông; (2) Khảo sát thực trạng dạy học từ xưng hô (3) Đề xuất một số yêu cầu trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt; sử dụng một số phương pháp (PP) dạy học phù hợp với đối tượng HS và nội dung dạy học; xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập (BT) nhằm nâng cao việc việc dùng từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông; (4) Tiến hành thực nghiệm sư phạm. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các PP nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong quá trình triển khai luận án là: PP điều tra, khảo sát thực tiễn; PP phỏng vấn sâu; PP phân tích, tổng hợp tài liệu; PP thực nghiệm sư phạm; PP thống kê, xử lí số liệu. 3 5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Hiện nay, HS tiểu học dân tộc Hmông sử dụng từ xưng hô tiếng Việt còn nhiều bất cập do sự chuyển di tiêu cực (giao thoa ngôn ngữ) từ tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, nếu GV sử dụng những PP dạy học tích cực, có được một hệ thống BT rèn luyện khoa học thì HS tiểu học dân tộc Hmông học tiếng Việt sẽ sử dụng từ xưng hô tiếng Việt trong giao tiếp hiệu quả hơn; từ đó nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Việt, giúp các em tham gia trong các hoạt động xã hội tự tin, thuận lợi hơn. 6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 6.1. Về mặt lý luận: Luận án tổng hợp, phân tích những nghiên cứu về dạy học tiếng Việt dựa trên lí thuyết thụ đắc NN2, lí thuyết phân tích lỗi; đặc điểm từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hmông. 6.2. Về mặt thực tiễn: Luận án đã đề xuất những PP dạy học phù hợp với đối tượng HS tiểu học dân tộc Hmông, xây dựng và sử dụng hệ thống BT dạy học từ xưng hô, cách xưng hô tiếng Việt để nâng cao năng lực giao tiếp cho HS tiểu học Hmông. Các biện pháp này có thể là những gợi ý giúp GV vùng DTTS tham khảo trong dạy học tiếng Việt với tư cách NN2 . 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận án gồm bốn chương. CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. NGHIÊN CỨU VỀ TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT Từ xưng hô là một phân lớp quan trọng trong mỗi ngôn ngữ, lớp từ này đã thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học. Từ xưng hô tiếng Việt cũng được một số nhà nghiên cứu nước 4 ngoài khá quan tâm. Ở Việt Nam, có thể nói, lịch sử nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt đã trải qua hơn 350 năm kể từ những trang viết của Alexandre de Rhodes. Việc nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt có thể được chia thành hai giai đoạn gắn với các giai đoạn của lí thuyết ngôn ngữ: từ chủ nghĩa cấu trúc đến lí thuyết giao tiếp. Giai đoạn đầu tiên, các nhà Việt ngữ học như Trần Trọng Kim, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Chiến, Lê Biên…gọi các từ dùng để xưng hô là “đại từ nhân xưng”. Giai đoạn nghiên cứu thứ hai gắn liền với thuật ngữ “từ xưng hô”. Khái niệm từ xưng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng, được nghiên cứu từ lí thuyết giao tiếp, từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội… Trong hướng nghiên cứu này phải kể các tác giả: Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Văn Khang, Trương Thị Diễm… 1.2. NGHIÊN CỨU VỀ PP DẠY HỌC NGÔN NGỮ THỨ HAI PP dạy học ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của lí thuyết ngôn ngữ và lí thuyết học tập. Hai lí thuyết này có thể độc lập hoặc kết hợp với nhau để cho ra đời những PP dạy học khác nhau. Trên thế giới, bàn về PP dạy học ngôn ngữ, đã có nhiều cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu sâu. Có thể kể đến các cuốn sách: “Approaches and Methods in Language Teaching” của Jack C. Richards, Theodore S. Rodgers, “Fundamental Concepts of Language teaching” của H. H. Stern, “Teaching Language in Context” của Alice Omaggio Hadley. Các tài liệu nghiên cứu đã tổng kết các mô hình dạy học NN2 từ nhiều lí thuyết, phân tích bối cảnh xã hội và vai trò của các thành tố trong việc dạt học NN2. Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các bài bài báo viết về dạy học NN2 của các tác giả: Jill Kerper Mora, Francis Mangubhai, James J. Asher… 1.3. NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT NHƯ NGÔN NGỮ THỨ HAI Trong nghiên cứu về dạy học tiếng Việt như NN2, trước hết phải kể đến Nguyễn Thiện Giáp với cuốn “Những lĩnh vực ứng dụng của 5 Việt ngữ học”, Nguyễn Thị Phương Thảo với “Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội). Hai cuốn sách đã đưa ra quan niệm về tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ quốc gia, NN2, ngoại ngữ; sự khác biệt giữa học ngôn ngữ thứ nhất và NN2. 1.4. NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Về PP dạy học tiếng Việt cho HS người DTTS, các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá ít ỏi. Có thể kể đến bài báo của các tác giả Nguyễn Hữu Hoành, Ngô Thị Thanh Quý, Nguyễn Thị Thu Thủy… Về dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc Hmông, đã có một số bài nghiên cứu của Nguyễn Diệu Thương và Phạm Hùng Linh; Nguyễn Kiến Thọ, Đào Thiện Xuân …Ngoài ra, phải kể đến một vài chương trình, dự án nghiên cứu và thí điểm triển khai dạy học tiếng Việt như một NN2 trong môi trường song ngữ, đa ngữ của các vùng DTTS. CHƯƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG 2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG 2.1.1. Tiếng Việt với học sinh tiểu học dân tộc Hmông 2.1.1.1. Vai trò của tiếng Việt với học sinh tiểu học dân tộc Hmông Trong hiến pháp, tiếng Việt được quy định là ngôn ngữ quốc gia. Giáo dục tiếng Việt và giáo dục bằng tiếng Việt được đặc biệt quan tâm, trong đó có giáo dục tiếng Việt cho HS người DTTS. Sử dụng tiếng Việt thành thạo có thể coi là một chìa khoá quan trọng giúp HS người DTTS tiến gần hơn với những cơ hội phát triển cuộc sống một cách bền vững. 6 2.1.1.2. Tiếng Việt – ngôn ngữ thứ hai của học sinh tiểu học dân tộc Hmông Từ những quan niệm của các chuyên gia dạy học ngôn ngữ, có thể thấy, với HS tiểu học dân tộc Hmông, tiếng Việt có thể là tiếng mẹ đẻ nếu các em có người thân (bố hoặc mẹ) là người Kinh. Tiếng Việt cũng có thể là ngôn ngữ bản địa nếu HS người Hmông được sinh ra trong cộng đồng nói tiếng Việt. Tiếng Việt cũng có thể là NN2 với HS tiểu học Hmông (thuần Hmông) sinh sống trong môi trường nói tiếng Hmông. HS tiểu học Hmông tại những điểm trường chúng tôi khảo sát đa số là HS thuần Hmông, sống trong môi trường ít có điều kiện giao tiếp bằng tiếp Việt. Vì thế, tiếng Việt với các em là NN2. 2.1.2. Dạy học từ xưng hô tiếng Việt dựa trên lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 2.1.2.1. Quan niệm về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Một số nhà nghiên cứu cho rằng cần phân biệt thụ đắc tự nhiên (naturalistic acquisition) và thụ đắc qua chỉ dẫn (instructed acquisition). Trong luận án này, chúng tôi quan niệm thụ đắc NN2 để chỉ quá trình học tập, tiếp thu tiếng Việt của HS tiểu học dân tộc Hmông cả ở trong và ngoài nhà trường, một cách vô thức hay có ý thức. 2.1.2.2. Các giai đoạn thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Mỗi giai đoạn phát triển của con người gắn liền với những đặc trưng nổi bật về cả mặt thể chất và tâm lí, ý thức. Từng giai đoạn khi được tận dụng hợp lí vào những mục đích cụ thể, ví dụ như trong việc phát triển khả năng thụ đắc NN2, sẽ đem lại những hiệu quả vượt bậc. Lenneberg (1967) cho rằng trẻ em chỉ có thể thụ đắc ngôn ngữ tốt nhất trước tuổi dạy thì. Krashen (1981) đưa ra năm giai đoạn chính trong 7 quá trình thụ đắc NN2. Do đó, GV cần tận dụng thời kì vàng trong lứa tuổi tiểu học để nâng cao khả năng thụ đắc ngôn ngữ cho HS. 2.1.2.3. Một số yếu tố tác động đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Thụ đắc ngôn ngữ nói chung và thụ đắc NN2 nói riêng là quá trình bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường thụ đắc tự nhiên, động cơ, thái độ học tập của HS… Những yếu tố này cần được GV quan tâm trong việc tổ chức dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông. 2.1.2.4. Vai trò của phân tích lỗi đối với việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt Các nhà nghiên cứu thụ đắc NN2 cho rằng trong dạy học NN2, người học thường mắc hai loại lỗi cơ bản là lỗi giao thoa ngôn ngữ (interlingual errors) và lỗi chuyển tiếp (intralingual errors). Giao thoa là lỗi do kết quả của chuyển di tiêu cực (negative transfer), gây ra bởi tác động của tiếng mẹ đẻ lên việc học ngôn ngữ đích. Lỗi chuyển tiếp (intralingual errors) là kết quả của việc “học ngôn ngữ đích chưa thuần thục hoặc học bị sai, hoàn toàn không phải do giao thoa ngôn ngữ”. Trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học Hmông, cần chú ý cả đến lỗi giao thoa và chuyển tiếp. 2.1.3. Từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông 2.1.3.1. Khái niệm về xưng hô và từ xưng hô Dựa trên những nhận định của các nhà nghiên cứu về xưng hô, luận án quan niệm: từ xưng hô là những từ thuộc vốn từ của một ngôn ngữ được chủ thể giao tiếp dùng để tự quy chiếu (tự xưng), hoặc dùng để quy chiếu vào khách thể giao tiếp (hô, gọi). Trong thực tế nói năng, chủ thể giao tiếp cũng có thể sử dụng những kết hợp từ hoặc cách diễn đạt tương đương để tự xưng và gọi. 8 2.1.3.2. So sánh từ xưng hô tiếng Việt và từ xưng hô tiếng Hmông ở bình diện hệ thống – cấu trúc a) Từ xưng hô tiếng Việt Từ xưng hô tiếng Việt theo các nhà nghiên cứu bao gồm đại từ nhân xưng, các từ chỉ quan hệ thân tộc và tên riêng, từ chỉ chức danh, nghề nghiệp trong tiếng Việt. b) Từ xưng hô tiếng Hmông – Đại từ nhân xưng tiếng Hmông được tác giả Lý Sheo Chúng1 trình bày như sau: Số đơn Số đôi Số nhiều Ngôi thứ nhất Cur Ưz Pêz Ngôi thứ hai Caox Mêx Mêx Ngôi thứ ba Nưl puôz Puôz, lươr – Danh từ chỉ họ hàng thân tộc trong tiếng Hmông: Theo Lý Sheo Chúng, danh từ chỉ quan hệ thân tộc là các từ chỉ quan hệ trong gia đình, dòng họ, ví dụ: “nav” (mẹ), “txir” (bố), “tuz” (con trai), “nxeik” (con gái), – Tiếng Hmông gốc không có các danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh. Những năm gần đây, từ thực tiễn của xã hội và nhu cầu giao tiếp, người ta đã vay mượn các từ chỉ nghề nghiệp, chức danh bằng cách phiên âm từ tiếng Việt. c) Những điểm tương đồng và khác biệt giữa từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông – Điểm tương đồng: Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông cùng bao gồm hai nhóm cơ bản: Đại từ nhân xưng; Danh từ chỉ quan hệ thân tộc. Lý Sheo Chúng – chủ biên (2007), Tài liệu dạy học tiếng H’Mông, NXB Giáo dục, Hà Nội. 1 9 – Điểm khác biệt: Số lượng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt phong phú hơn so với số lượng đại từ nhân xưng trong tiếng Hmông. Bên cạnh đó, các đại từ nhân xưng tiếng Việt rất giàu sắc thái biểu cảm. Ngược lại, xưng hô trong giao tiếp bằng tiếng Hmông trung tính. Người tham gia giao tiếp khi lựa chọn đại từ nhân xưng chỉ cần chú ý đến hai yếu tố là ngôi và số. 2.1.3.3. So sánh từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông trong hoạt động giao tiếp a) Từ xưng hô tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp – Văn hoá xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt: Xưng hô luôn được đặt trong hoàn cảnh giao tiếp gắn liền với các không gian văn hóa khác nhau. Xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt có một số quy tắc văn hoá như xưng khiêm, hô tôn, trọng tuổi tác, thứ bậc, xưng hô gia đình hoá… – Các cách thức xưng hô thường gặp: Trong thực tiễn giao tiếp, các từ xưng hô được vận dụng rất linh hoạt như: xưng hô bằng họ và tên; xưng hô bằng đại từ nhân xưng, từ thân tộc; xưng hô bằng chức danh; gọi bằng từ thân tộc + tên; khuyết vắng từ xưng hô… b) Từ xưng hô tiếng Hmông trong hoạt động giao tiếp – Văn hóa xưng hô trong giao tiếp tiếng Hmông: Người Hmông có thể không dùng từ xưng hô, hoặc dùng từ xưng hô không phân biệt thứ bậc, quan hệ, thái độ tình cảm. – Các cách thức xưng hô của người Hmông: Hiện nay, trong văn hoá giao tiếp của người Hmông, tồn tại ba cách sử dụng từ xưng hô khác nhau: (1) Sử dụng đại từ nhân xưng trong mọi trường hợp; (2) Sử dụng kết hợp danh từ chỉ họ hàng thân tộc/danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh kết hợp với đại từ nhân xưng; (3) Dùng từ chỉ quan hệ thân tộc, từ chỉ chức danh, nghề nghiệp thay cho từ xưng hô 10 nhằm biểu thị quan hệ, thái độ, tình cảm giữa người nói và người đối thoại. Đây là cách xưng hô tương đối mới, xuất hiện như một nét chuyển giao văn hoá nhờ sự ảnh hưởng của hội nhập và phát triển kinh tế. c) Điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông – Điểm tương đồng: Cách dùng từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông đều sử dụng danh từ thân tộc trong xưng hô cũng như các danh từ chỉ chức danh nghề nghiệp dù chưa phổ biến. – Điểm khác biệt: Các quy tắc sử dụng từ xưng hô trong giao tiếp bằng tiếng Việt phức tạp hơn trong tiếng Hmông, xuất phát từ đặc điểm văn hoá khác nhau. Việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt có thể coi là yêu cầu bắt buộc khi tham gia giao tiếp, trong khi người Hmông khi giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ của mình có xu hướng giản tiện hoá, không dùng từ xưng hô. 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT 2.2.1. Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh tiểu học Hmông Người Hmông thường tin vào trực cảm, họ cũng rất thực chứng, thực dụng, nghĩa là chỉ tin khi mắt thấy tai nghe, chỉ có nhu cầu khi thấy thiết thực. Ngoài ra, đa số người dân tộc Hmông có suy nghĩ hồn nhiên, đơn giản. Tâm lí, nhận thức của HS tiểu học Hmông mang đặc điểm chung của tâm lí, khả năng nhận thức ở lứa tuổi thiếu nhi từ 6 đến 11 tuổi. Mặt khác, HS tiểu học Hmông có khả năng bắt chước cao, dễ tiếp nhận và cũng dễ tổn thương, xuất phát từ gốc văn hóa không quá bảo thủ, được tiếp biến từ nhiều nguồn. 11 2.2.2. Dạy học từ xưng hô trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2.2.2.1. Nội dung dạy học từ xưng hô trong chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành Việc dạy HS về từ xưng hô và cách xưng hô để tham gia vào hoạt động giao tiếp đã xuyên suốt các lớp, đặc biệt ở trong dạy học kĩ năng nói cho HS. Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 tập 1, có hai bài HS được học trực tiếp về từ xưng hô là bài “Đại từ” (tuần 9), “Đại từ xưng hô” (tuần 11). Ngoài ra, từ xưng hô và cách xưng hô được tích hợp trong các bài Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện, Luyện từ và câu từ lớp 1 đến lớp 5. 2.2.2.2. Yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học từ xưng hô trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018) Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018) xác định một trong những mục tiêu môn học ở cấp tiểu học là phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Từ xưng hô được quan tâm dạy học thể hiện rõ nhất ở mạch nói – nghe. Chương trình cũng định hướng chung về PP giáo dục là dạy học tích hợp và phân hoá để phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập của HS. 2.2.3. Thực trạng dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học Hmông 2.2.3.1. Mục tiêu và đối tượng khảo sát Chúng tôi đã khảo sát GV tại 03 trường tiểu học bán trú tại tỉnh Điện Biên là trường Trần Văn Thọ, Nậm Pố và Nậm Kè số 2 thông qua điều tra, dự giờ và phỏng vấn sâu. 2.2.3.2. Cách thức khảo sát Chúng tôi khảo sát GV bằng ba hình thức: phát phiếu điều tra trên diện rộng, dự giờ dạy học của GV và phỏng vấn sâu. 12 2.2.3.3. Kết quả khảo sát a) Từ phiếu điều tra: Chúng tôi thu được 127 phiếu khảo sát GV với kết quả: – Nhận thức của GV về NN2 và PP dạy học NN2 còn chưa rõ ràng. Mặc dù hầu hết GV (88,2%) cho rằng tiếng Việt là NN2 với HS tiểu học Hmông trong lớp mình đang dạy, nhưng chỉ rất ít GV (7,8%) nêu đúng tên các PP dạy học NN2. – Phần lớn GV (82,7%) cho rằng dạy học từ xưng hô, cách xưng hô cho HS tiểu học dân tộc Hmông là rất cần thiết. Tuy nhiên cũng khá nhiều GV (45,3%) cho rằng cho rằng việc dạy từ xưng hô, cách xưng hô cho HS tiểu học dân tộc Hmông là rất khó. – Chỉ có rất ít (5,7%) GV thường xuyên xây dựng thêm BT trong dạy học từ xưng hô và cách xưng hô để phù hợp với đối tượng HS. Chỉ có 14,8% GV thường xuyên tích hợp dạy học từ xưng hô trong các bài học Tiếng Việt. Chỉ có 10,4% GV chủ động so sánh, đối chiếu từ xưng hô tiếng Việt với tiếng Hmông. b) Từ hoạt động dự giờ: Chúng tôi đã dự giờ 12 tiết Tiếng Việt (06 tiết lớp 1, 06 tiết lớp 5). Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy, hầu hết GV vẫn chỉ sử dụng các PP dạy học truyền thống như PP thuyết trình, vấn đáp,… GV cũng còn ít tích hợp dạy học từ xưng hô trong bài học Tiếng Việt cho HS. Việc đối chiếu từ xưng hô tiếng Việt với tiếng Hmông hầu như không được thực hiện hoặc được làm chưa hiệu quả. Việc chữa lỗi dùng từ xưng hô cho HS cũng còn nhiều bất cập. c) Từ phỏng vấn trực tiếp: Các GV đều khẳng định tính cần thiết của việc dạy học từ xưng hô cho HS tiểu học Hmông vì các em thường xuyên mắc lỗi dùng từ xưng hô. Tuy nhiên, việc dạy học còn gặp nhiều khó khăn vì thiếu tài liệu dạy học, hạn chế trong cập nhật các PP dạy học mới… 13 2.2.4. Thực trạng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của học sinh tiểu học Hmông 2.2.4.1. Mục tiêu, đối tượng khảo sát Để tìm hiểu về môi trường sử dụng tiếng Việt, thực trạng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của HS tiểu học Hmông, chúng tôi đã khảo sát HS của 3 trường tiểu học trong thời gian từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 04 năm 2022. 2.2.4.2. Cách thức khảo sát Chúng tôi khảo sát HS bằng cách phát hai loại phiếu điều tra, phiếu bài tập cho HS lớp 1 và lớp 5. 2.2.4.3. Kết quả khảo sát – Về môi trường giao tiếp tiếng Việt, hầu hết HS (98%) được khảo sát đều chỉ giao tiếp bằng tiếng Hmông trong gia đình. Rất nhiều HS (84,5%) thỉnh thoảng mới tiếp xúc với các sản phẩm thông tin, văn hoá, nghệ thuật bằng tiếng Việt. Về hứng thú học môn Tiếng Việt, hầu hết các em đều cảm thấy rất thích thú. Đa số HS cho rằng xưng hô bằng tiếng Việt là khó không. – Khả năng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của HS lớp 1 dân tộc Hmông: Nhiều HS sử dụng từ xưng hô theo vai còn chưa tốt, chưa nhận viết được quan hệ của các nhân vật tham gia giao tiếp qua cách dùng từ xưng hô, chưa có khả năng sử dụng từ xưng hô trong các tình huống cho trước. – Khả năng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của HS lớp 5 dân tộc Hmông: Khả năng sử dụng từ xưng hô của HS lớp 5 dân tộc Hmông đã ở mức độ khá. Nhiều HS đã có khả năng sử dụng từ xưng hô phù hợp với tình huống cho trước. Tuy nhiên, khả năng kể chuyện thay ngôi (sử dụng từ xưng hô theo vai) và phát hiện, chữa lỗi dùng từ xưng hô của HS vẫn còn hạn chế. 14 CHƯƠNG 3. TỔ CHỨC DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG 3.1. MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG Trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông, cần lưu ý đến một số yêu cầu sau: dạy học theo quan điểm tích hợp, chú ý đến yếu tố giao thoa ngôn ngữ, tận dụng môi trường thụ đắc tiếng Việt tự nhiên, dạy học theo quan điểm giao tiếp, tạo hứng thú cho học sinh 3.2. SỬ DỤNG MỘT SỐ PP VÀO DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG Luận án sử dụng ba PP vào dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học người Hmông là trực quan hành động, đóng vai, phân tích ngôn ngữ. Trực quan hành động là PP tiêu biểu trong dạy học NN2, phù hợp với HS Hmông đầu cấp tiểu học. Đóng vai là PP dạy học có ưu thế phát triển năng lực giao tiếp cho HS. Phân tích ngôn ngữ giúp HS hiểu sâu về ngôn ngữ, văn hoá xưng hô trong tiếng Việt qua việc đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống từ xưng hô và cách xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông. 3.2.1. PP trực quan hành động (Total physical response) 3.2.1.1. Quan niệm về PP trực quan hành động Theo quan niệm của James Asher, “cha đẻ” của PP dạy học này, trực quan hành động là tổng hợp tất cả các phản ứng trả lời bằng hành động của HS. Trong luận án, hình thức trực quan được chú trọng là trực quan hành động với cơ thể. Qua đó, HS nhận biết 15 được đối tượng chỉ xuất của từ xưng hô, cũng như nắm được các nghi thức khi tham gia giao tiếp như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi… GV có thể thực hiện PP theo các bước: GV chuẩn bị; GV làm mẫu, minh họa; HS thực hiện; GV sửa lỗi, củng cố cho HS. 3.2.1.2. Vận dụng PP trực quan hành động vào dạy học từ xưng hô tiếng Việt PP trực quan hành động có thể được vận dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học: khởi động, hình thành kiến thức mới, luyện tập và vận dụng. Ví dụ 1: “Bài 1” (Chữ “e”, SGK Tiếng Việt 1 tập 1) là bài học đầu tiên của HS tiểu học. Do vậy, GV có thể vận dụng PP trực quan hành động để giúp HS hình thành thói quen chào thầy cô giáo, bạn bè khi đến lớp, làm quen với các từ xưng hô “thầy/cô/em/mình/bạn”. Ví dụ 2: Khi dạy học bài “Vẽ ngựa”, (Tiếng Việt 1 tập 2), GV sử dụng PP trực quan hành động vào dạy học các cặp từ xưng hô “chị” – “em”, “bà” – “cháu” trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Ví dụ 3: Trong dạy học bài “Mít làm thơ” (SGK Tiếng Việt 2 tập 1), GV sử dụng PP trực quan hành động để tích hợp dạy học mở rộng các cặp từ xưng hô ngang vai “tớ/mình/tôi” – “cậu/bạn/ấy” trong hoạt động luyện tập. 3.2.1.3. Một số lưu ý khi sử dụng PP trực quan hành động PP chủ yếu được vận dụng cho HS đầu cấp tiểu học. GV cần chú ý đến việc quản lí lớp học khi vận dụng PP này. 3.2.2. PP đóng vai (Role play) 3.2.2.1. Quan niệm về PP đóng vai Trong dạy học Tiếng Việt, đóng vai hay sắm vai là PP dạy học mà GV tổ chức cho HS được “nhập” vào một vai diễn để phát triển ngôn ngữ. PP đóng vai được thực hiện theo các bước: GV giới thiệu nhiệm vụ; GV hướng dẫn; HS thực hiện; GV và HS đánh giá; GV và HS rút ra bài học về dùng từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt. 16 3.2.2.2. Vận dụng PP đóng vai (Role play) a) Đóng vai theo ngữ liệu SGK Đóng vai theo ngữ liệu SGK có tác dụng giúp HS tiểu học dân tộc Hmông vừa hiểu kĩ về bài học vừa nắm được kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Ví dụ: khi dạy học bài tập đọc “Ai có lỗi?” (Tiếng Việt 3 tập 1), vận dụng PP đóng vai giúp HS biết dùng từ xưng hô thể hiện sự tôn trọng, lịch sự với bạn của mình, ngay cả khi ở tình huống tranh cãi, tức giận. Đóng vai trong dạy học bài “Cái gì quý nhất?” (Tiếng Việt 5 tập 1) giúp HS biết tranh luận một cách có văn hóa. b) Đóng vai xử lý tình huống Đóng vai xử lí tình huống có thể chia làm nhiều mức độ khác nhau: hội thoại hoá ngữ liệu có sẵn thành kịch bản, viết sáng tạo đoạn kết cho kịch bản, viết kịch bản cho tình huống mở. Ví dụ trong bài tập đọc “Bác đưa thư” (Tiếng Việt 1, tập 2), bài “Trận bóng dưới lòng đường” (Tiếng Việt 3, tập 1), GV có thể cho HS đóng vai xử lý tình huống kể chuyện nối tiếp. 3.2.2.3. Một số lưu ý khi sử dụng PP đóng vai Kịch bản đóng vai phải đảm bảo tính đúng lúc, đúng chỗ trong tiến trình dạy học. Ngoài ra, kịch bản phải có tính tích cực, mang lại hiệu quả giáo dục cao. 3.2.3. PP phân tích ngôn ngữ (Language analysis) 3.2.3.1. Quan niệm về PP phân tích ngôn ngữ PP phân tích ngôn ngữ là việc GV đưa ra các tài liệu ngôn ngữ và tổ chức cho HS tìm ra, sắp xếp các hiện tượng ngôn ngữ vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ những đặc trưng của chúng. Trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học Hmông, cần chú trọng phân tích tương phản hệ thống từ xưng hô, cách xưng hô tiếng Việt 17 với tiếng Hmông, nhằm làm bật lên những nét đặc trưng của hệ thống từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Việt. PP dạy học này được tiến hành theo các bước: GV cung cấp ngữ liệu cần phân tích; GV hướng dẫn HS quan sát và phân tích ngữ liệu; Hình thành khái niệm lí thuyết về từ xưng hô cho HS; Củng cố và vận dụng lí thuyết về từ xưng hô vào việc thực hành luyện tập. 3.2.3.2. Vận dụng PP phân tích ngôn ngữ Ví dụ: Ở bài “Từ đồng nghĩa” (Tiếng Việt 5), GV có thể tích hợp dạy học các từ xưng hô cùng chỉ một đối tượng. Trong bài “Đại từ xưng hô” (Tiếng Việt 5), PP phân tích ngôn ngữ giúp HS thấy được sự khác biệt giữa đại từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông. 3.2.3.3. Một số lưu ý khi sử dụng PP phân tích ngôn ngữ Những yếu tố ngôn ngữ (từ xưng hô tiếng Việt) được lựa chọn khi áp dụng PP phân tích ngôn ngữ cần chứa đựng các đặc điểm tương phản rõ nét với từ xưng hô tiếng Hmông. 3.3. Xây dựng hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông 3.3.1. Cấu trúc của hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt Hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông được xây dựng nhằm giải quyết những vấn đề về giao thoa ngôn ngữ giữa hai hệ thống từ xưng hô. Đây là những kiểu bài ít hoặc chưa hoặc xuất hiện trong SGK, do đó, sẽ làm phong phú hơn cơ hội luyện tập về từ xưng hô, cách xưng hô cho các em. Luận án hướng dẫn GV cách xây dựng hệ thống bài tập cho HS tiểu học Hmông và đưa ra 50 ví dụ bài tập cụ thể. Hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học Hmông được chia làm bốn nhóm và nhiều loại. Sơ đồ hệ thống BT như sau: 18 Hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học HMông Nhóm 1 Nhận diện từ xưng hô 1a 1b 1c Nhóm 2 Hệ thống hoá từ xưng hô 2a 2b 2c 2c Nhóm 3 Tích cực hoá từ xưng hô Nhóm 4 Chữa lỗi dùng từ xưng hô 3a 3b 3c 3d 4a 4b 4c Trong nhóm 1, có các loại BT: 1a: Nhận diện nghĩa, vai, ngôi, số của từ xưng hô; 1b: Nhận diện tình cảm, thái độ qua từ xưng hô; 1c: Nhận diện sự phù hợp của từ xưng hô với không gian, hoàn cảnh giao tiếp. Nhóm 2 có các loại BT: 2a: Hệ thống hoá từ xưng hô theo vai và giới; 2b: Hệ thống hoá từ xưng hô theo ngôi; 2c: Hệ thống hoá từ xưng hô theo số; 2d: Hệ thống hoá từ xưng hô qua so sánh với tiếng Hmông. Nhóm 3 có các loại: 3a: Dùng từ xưng hô theo mẫu; 3b: Dùng từ xưng hô theo tình huống; 3c: Thay đổi từ xưng hô theo ngôi, vai; 3d: Dùng từ xưng hô tiếng Việt qua so sánh với tiếng Hmông. Nhóm 4 có loại BT: 4a: Chữa lỗi khuyết thiếu từ xưng hô; 4b: Chữa lỗi dùng từ xưng hô không phù hợp với quan hệ, thái độ giao tiếp; 4c: Chữa lỗi dùng các kết hợp từ xưng hô. 3.3.2. Mô tả hệ thống BT 3.3.2.1. BT nhận diện từ xưng hô Nhóm BT này có mục đích hình thành hiểu biết về từ xưng hô cho HS, giúp các em nhận diện nghĩa của từ xưng hô trong lời nói, nhận diện phạm trù vai, ngôi và số; thái độ, tình cảm thể hiện qua cách dùng từ xưng hô tiếng Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Trung Vui Vẻ Tập 2
  • Miêu Tả Con Vật Mà Bạn Yêu Thích Bằng Tiếng Anh: Con Chó, Con Mèo, Con Voi, Cá Heo
  • Học Tiếng Hàn Quốc Lớp Vỡ Lòng
  • Hàn Quốc Cấm Trẻ Lớp 1 Và Mầm Non Học Tiếng Anh
  • Học Tiếng Hàn Quốc Chúng Ta Nên Học Chắc Chắn Theo Từng Phần
  • Trạng Thái Ngôn Ngữ Các Dân Tộc Thuộc Nhóm Khơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quê Gốc Người Hakka .
  • Tiếng Lóng Trong Tiếng Việt Là Nỗi Sợ
  • Một Số Từ Lóng “Hot” Giới Trẻ Việt Nam Hay Dùng
  • Tiếng Nhật Có Khó Với Người Việt Không ?
  • Khi Học Tiếng Nhật Cơ Bản Thường Gặp Khó Khăn Gì?
  • TẠ VĂN THÔNGa

    TẠ QUANG TÙNGb

    (aViện Tử điển học và Bách khoa thư Việt Nam, bViện Ngôn ngữ học Việt Nam)

    TÓM TẮT

         Mục đích của bài viết này là chỉ ra những điểm chung và riêng trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic) gồm: Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Những điểm chung: Đây là những ngôn ngữ rất gần gũi về cội nguồn, hiện giữ lại được trạng thái “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào… Tuy nhiên, hiện tượng đa ngữ này lại thường là bất bình đẳng. Những điểm riêng biệt: Dân tộc Kháng nói bằng 2 ngôn ngữ. Ngôn ngữ các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng có nguy cơ thất truyền cao; Ơ Đu đang có nguy cơ mất hoàn toàn bản sắc văn hóa truyền thống, trong đó có ngôn ngữ tộc người (chuyển sang nói tiếng Thái hoặc Khơ-mú). Có thể xem đây là một trường hợp nghiên cứu về trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

    Từ khóa: Dân tộc thiểu số; Đa ngữ; Ngôn ngữ bị mai một; Nhóm ngôn ngữ Khơ-mú; Trạng thái ngôn ngữ.

    ABSTRACT

         The purpose of this scientific paper is to point out the similarities and differences in the language status of Kho-mu ethnic group in Vietnam including: Kho-mu, Xinh Mun, Khang, and O chúng tôi similarities: These are languages that are very close in origin, maintaning the “ancient” status of isolating languages. Multilingualism (bilingualism) is common among all Kho-mu ethnic group: Vietnamese – the mother tongue of these ethnic groups – Thai language, Lao language….. However, this phenomenon is often chúng tôi differences: The Khang speaks two languages. The languages of Kho-mu, Xinh Mun and Khang ethnic group are at high risk of being lost; O Du is in danger of completely losing its traditional cultural identity, including ethnic language (change into speaking Thai language or Kho-mu language).This can be considered as a case study of the language status of ethnic minorities in Vietnam.

    Keywords: Ethnic minorities; Multilingual; Endangered language; Kho-mu language group; Language status.

    x

    x x

    1. Đặt vấn đề

         Mục đích của bài viết là chỉ ra những điểm chung và riêng biệt trong trạng thái ngôn ngữ ở các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic – xin gọi tắt: “Các ngôn ngữ nhóm Khơ-mú”và “các dân tộc nhóm Khơ-mú”), thuộc nhánh Môn – Khmer Bắc, chi Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic): Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Từ đó hướng tới giải pháp tích cực hơn đối với ngôn ngữ của các dân tộc này trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.

    2. Tổng quan nghiên cứu

         2.1. Những nghiên cứu dân tộc học

          Trong chuyên khảo của Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy, Thanh Thiên (1972), các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng (cùng Mảng, La Ha) đã được giới thiệu dưới tên gọi chung: “Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam”.

          Các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu được nhắc đến trong sách: Viện Dân tộc học (1978), “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Khu vực phía Bắc)”. Sau đó có những sách khảo cứu về nhiều mặt trong đời sống văn hóa các dân tộc này: Khổng Diễn (Chủ biên, 1999), “Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam”; Trần Bình (1999), “Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam”; Phạm Quang Hoan & Đặng Thị Hoa (2011), “Người Kháng ở Việt Nam”… Dân tộc Ơ Đu ít được nhắc đến, có thể vì số dân quá ít (trên dưới 400, ít nhất trong số các dân tộc ở Việt Nam).

         2.2. Những nghiên cứu ngôn ngữ học

         Theo các tài liệu dân tộc học, nhóm Khơ-mú gồm 13 ngôn ngữ, chủ yếu ở Lào, Thái Lan và Việt Nam.

         Tiếng Khơ-mú đã được biết đến từ thế kỉ 19 (từ vựng Khơ-mú được ghi trong tài liệu của Garnier (1873) thuật lại cuộc thám hiểm Đông Dương của ông). Theo quan điểm của A. G. Haudricourt (1953, 1954), nghiên cứu nhóm Khơ-mú có thể giúp làm rõ lịch sử tiếng Việt. Từ những năm 1970, phạm vi nghiên cứu về các ngôn ngữ này được mở rộng, về tiếng Xinh Mun, tiếng Tày Hạt (Ơ Đu)…

          Gần đây, có các công trình về tiếng Khơ-mú ở Thái (Suwilai Premsrirat, 1993, 2001). Ở Việt Nam, tác giả Tạ Quang Tùng (2013, 2014) có các công trình “Đặc điểm từ âm vị học tiếng Khơ-mú (trên cơ sở phân tích bằng máy tính)” và “Đặc điểm tiếng Khơ-mú ở Tây Bắc Việt Nam”.

         Tiếng Xinh Mun (Kxinh Mul) được các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (AH CCCP) và Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (KOH CPB) tập trung nghiên cứu từ năm 1979 trong một chương trình điền dã. Công trình “Tiếng Kxing Mul” (tư liệu điền dã Xô – Việt năm 1979) bằng tiếng Nga được xuất bản tại Matxcơva năm 1990. Ở Lào, tiếng Xinh Mun cũng được đề cập đến trong các công trình của Macey, Proschan.

         Tiếng Kháng đã được các học giả nước ngoài quan tâm từ những năm 70 của thế kỉ XX, nhằm xác lập cây phả hệ các ngôn ngữ châu Á, với các tác giả David Thomas & Robert K Headley (1970); Gerard Diffloth (1986); Dao Jie (2007); Chazée (1999); Paul Sidwell (2015); Naomitsu Mikami (2003); Jerold A. Edmondson (2010); Nguyễn Hữu Hoành(2007, 2009); Tạ Quang Tùng (2014, 2022, 2022a, 2022b, 2022, 2022a, 2022b)…

         Tiếng Ơ Đu đã được mô tả sơ lược trong cuốn: “Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam” (Thông & Tùng, 2022, tr. 621-623); “Tiếng Tày Hạt (Ơ Đu)” (Vạn, 1983).

    3. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

         Bài viết sử dụng các phương pháp: Miêu tả, từ phân tích các sự kiện cụ thể nhằm tổng hợp thành quy luật chung về trạng thái ngôn ngữ trong hoàn cảnh Việt Nam.Tư liệu dùng trong bài viết là những quan sát về ngôn ngữ và đời sống ngôn ngữ (qua điền dã và qua sách vở trong nước và nước ngoài) về ngôn ngữ các dân tộc nhóm Khơ-mú ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và Nghệ An. 

    4. Kết quả nghiên cứu

         4.1. Đặc điểm các cộng đồng nói các ngôn ngữ Khơ-mú

         Khơ-mú là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Khơ-mú, Khơmu, Khmu, Kammu, Khamou… Dân số gồm 72.929 người (thống kê năm 2009). Cư trú ở các tỉnh: Nghệ An (huyện Tương Dương, Kỳ Sơn); Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Mộc Châu, Mường La); Điện Biên (Thành phố Điện Biên, Tuần Giáo); Yên Bái (Văn Chấn)…

         Ở Việt Nam, người Khơ-mú tự gọi mình là Cơhmụ, Cơmụ hay Cơmmụ, Căm mụ (trong tiếng Khơ-mú nghĩa là “người”). Ngoài tên gọi chính thức (Khơ-mú), trước kia người Khơ-mú còn được gọi gộp chung (với Xinh Mun, La Ha, Kháng….) là Xá: Người Thái gọi họ là Xá Cẩu; người La Ha gọi họ là Khá Klẩu; người Mông gọi họ là Mãng Cẩu. Họ cũng còn được gọi là Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh,Tày Hạy… – những tên hiện nay rất ít dùng hoặc không dùng nữa.

         Người Khơ-mú cư trú tại nhiều nước, chủ yếu ở khu vực châu Á (Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam…), đông nhất là ở Lào (khoảng trên dưới 550 ngàn người). Ở Lào, họ tập trung chủ yếu trong các tỉnh Luang Prabang và Xiêng Khoảng. Ngoài ra, họ còn sống ở các tỉnh như: Luang Nặm Thà, Uđomxay, Bokaep, Xayaburi, Phong Sa Lỳ, Hủa Phan… Ở Lào, họ được xếp vào khối chung là Lào Thênh (người Lào ở trên cao).

         Tại Thái Lan, phần lớn người Khơ-mú sống tập trung gần biên giới Lào – Thái Lan, ở các tỉnh Nan và Chiềng Rai ở miền Bắc. Họ cũng cư trú ở các tỉnh Kancanaburi và Uthaithani. Tại Trung Quốc, người Khơ-mú sống rải rác ở Sip Song Pan Na, Yunnan. Còn tại Hoa Kỳ, người Khơ-mú sinh sống tại bang California.

         Ở Việt Nam, trong vùng người Khơ-mú sinh sống, còn có các dân tộc: Kinh, Thái, Xinh Mun, Mông, Mường, Kháng, La Ha…

         Xinh Mun là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Xinh mun, Xinh Mul, Xinh-mun, Kxinh mul… Dân số: 23. 278 người (2009). Cư trú ở các tỉnh: Sơn La (các huyện Yên Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Mộc Châu), Điện Biên (huyện Điện Biên Đông). Người Xinh Mun đông nhất là ở Yên Châu và Sông Mã (Sơn La).

         Ở Việt Nam, người Xinh Mun tự gọi mình là Kơxinh mul (tiếng Xinh Mun nghĩa là: “người – núi”, được hiểu là “người ở núi”, “người trên núi”). Các tên gọi khác chỉ các nhóm địa phương: Xinh Mun Dạ hoặc Puộc Dạ (gọi những người Xinh Mun cư trú lâu đời ở bản Nà Dạ – xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La); Xinh Mun Nghẹt hoặc Puộc Nghẹt (vốn ở bản Nà Nghẹt thuộc tỉnh Hủa Phăn – Lào). Có tác giả đề nghị thêm một nhóm nữa, gọi là Xinh Mun Đông, chỉ những người Xinh Mun hiện cư trú ở địa phương có tên là Pá Đông – huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

         Hai nhóm địa phương Xinh Mun là Xinh Mun Dạ và Xinh Mun Nghẹt có một số điểm khác biệt về văn hóa và trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Nhóm Xinh Mun Dạ ở vùng thấp, gần đường giao thông hơn, thường xuyên tiếp xúc với người Thái, nên đã tiếp thu nhiều nét văn hóa Thái hơn. Nhóm Xinh Mun Nghẹt chuyển cư từ Lào sang cách đây không lâu. Sang Việt Nam, họ cư trú thành một dải từ xã Chiềng Hắc (huyện Mộc Châu) qua Tú Nang, Long Phiêng, Chiềng Hặc (Yên Châu), Phiêng Pằn (Mai Sơn) của tỉnh Sơn La.

         Ngoài tên gọi chính thức, trước kia người Xinh Mun còn được các dân tộc khác gọi gộp chung (cùng với người Khơ-mú, La Ha, Kháng….) là Xá.

          Ngoài Việt Nam, người Xinh Mun còn cư trú ở Xiêng Khoảng và Hủa Phăn của nước Lào.

         Xưa kia, người Xinh Mun sống quây quần thành từng bản (gọi là kol) riêng biệt, nhưng hiện nay đã sống xen kẽ với người các dân tộc khác, chủ yếu là với người Kinh và người Thái. Hiện nay, ở vùng người Xinh Mun sinh sống, còn có các dân tộc: Kinh, Thái, Khơ-mú, Mông, Mường, Kháng, La Ha…

          Kháng là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Mơ Kháng, Ma Kháng, Bủ Háng, Xá Kháng… Dân số: 13.840 người (2009). Các địa phương có đông người Kháng cư trú: huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (tỉnh Sơn La); Mường Lay, Mường Tè, Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên); Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

         Ở các địa phương khác nhau người Kháng còn tự gọi và được các dân tộc khác gọi bằng nhiều hình thức khác nhau: Người Kháng ở Chiềng Bôm, Thuận Châu (tỉnh Sơn La) tự gọi là Kháng Huộc (Kháng Trắng); ở vùng Chiềng Xôm, Thuận Châu (tỉnh Sơn La) tự gọi là Ma Kháng Hốc, Ma Kháng Ái (người Kháng ở bản Hốc, bản Ái); ở vùng Mường Giôn, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) tự gọi là Ma Háng Béng, Ma Háng Cọi (người Kháng ở bản Béng, bản Cọi) cũng ở huyện Quỳnh Nhai nhưng vùng Chiềng Ơn lại tự gọi là Bạ Háng; ven sông Đà vùng Thuận Châu, Mường La, ven suối Nậm Mu thuộc Than Uyên (tỉnh Lai Châu) tự gọi là Bủ Háng Cuông; ở bản Bo, Tam Đường (tỉnh Lai Châu) tự gọi là Bộ Háng; ở Quảng Lâm, Mường Toong, Mường Tè (tỉnh Điện Biên) tự gọi là Brển.

         Người Kháng sống xen kẽ với các dân tộc khác: Thái, Khơ-mú, Xinh Mun. Người Kháng chịu ảnh hưởng nhiều từ các dân tộc khác, đặc biệt từ người Thái.

         Ơ Đu là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: I Đuh, Tày Phong, Tày Phọng, Tày Hạt… Dân số: 376 người (2009). Với dân số hiện nay, đây là cộng đồng được coi là “dân tộc thiểu số rất ít người”, thậm chí ít người nhất ở Việt Nam. Cư trú chủ yếu ở tỉnh Nghệ An (huyện Tương Dương), xen kẽ với người Khơ-mú và Thái.

         Người Ơ Đu còn sống tại tỉnh Xiêng Khoảng của Lào. Ở Lào, họ được xếp vào khối cộng đồng được gọi chung là Lào Thênh (nghĩa là “người Lào ở trên cao”). Phần lớn các bản của người Ơ Đu ở các vùng núi rừng xa xôi, khó khăn về kinh tế, văn hóa và giáo dục. Ở nhiều nơi, họ sinh sống bên cạnh người Lào và người Mông.

         Cho đến nay, việc xác định nguồn gốc lịch sử của người Ơ Đu ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sự đoán định. Sau Cách mạng Tháng Tám, người Ơ Đu quy tụ về sinh sống ở bản Xốp Pột, Kim Hòa, xã Kim Đa, một vài hộ sinh sống rải rác ở bản Tạ Xiêng, xã Kim Tiến, bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng (huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Tuy nhiên, ở thời điểm đó hầu hết người Ơ Đu không nhớ được các phong tục tập quán của mình.

         4.2. Đặc điểm trạng thái các ngôn ngữ Khơ-mú

         4.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Khơ-mú

         Tiếng Khơ-mú là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Khơ-mú.

         Theo các tài liệu tham khảo, ngôn ngữ Khơ-mú ở Lào có nhiều tiếng địa phương khác nhau: Khơ-mú Yoan, ở khu vực Luang Nặm Thà; Khơ-mú Luc, ở phía bắc của tỉnh U Đom Xay; Khơ-mú Rook, ở khu vực trung tâm của U Đom Xay; Khơ-mú Khroang, ở phía đông của U Đom Xay; Khơ-mú Koang, ở sát lưu vực các sông Mê Công, Rook và Uu…

         Người Khơ-mú gọi “tiếng, tiếng nói” là khoăm hoặc quăm/ quắm (từ mượn tiếng Thái). Như vậy, “tiếng Khơ-mú” gọi theo ngôn ngữ của dân tộc này là khoăm Kơhmụ (nghĩa là: “tiếng – người” = tiếng Khơ-mú). “Chữ” trong tiếng Khơ-mú gọi là xư hoặc chư. Để chỉ động tác “nói”, trong tiếng Khơ-mú có từ là may hoặc lau; “viết” là tem…

         Tiếng Khơ-mú là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “cổ”, cận âm tiết tính (quasi-syllabic). Từ âm vị học (phonological word) tiếng Khơ-mú có thể có hình thức đơn tiết hoặc song tiết. Trong tiếng Khơ-mú, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết có thể không trùng nhau. Bên cạnh các từ có hình thức đơn tiết, còn thường gặp các từ có hình thức song tiết (gồm một tiền âm tiết và một âm tiết chính – âm tiết mang trọng âm; còn gọi là “một âm tiết rưỡi”).

         Trong từ vựng tiếng Khơ-mú ở Việt Nam, có thể thấy nhiều lớp từ ngữ chồng lên nhau: lớp gốc Nam Á, lớp mượn Tày – Thái và lớp mượn Việt. Đồng thời, trong tiếng Khơ-mú hiện có không ít các kết cấu từ vựng – ngữ pháp mô phỏng theo tiếng Việt. Một số trường hợp trong những kết cấu này có các yếu tố vay mượn tiếng Việt hoặc tiếng Thái, kết hợp với yếu tố Khơ-mú. Trong đó, có những từ Việt, Thái và Khơ-mú cùng tồn tại, tạo nên các cặp đồng nghĩa gốc Thái/ Việt/ Khơ-mú.

         Theo các tài liệu hiện có, tiếng Khơ-mú có thể được phân biệt thành hai phương ngữ chính: “Khơ-mú Đông” và “Khơ-mú Tây”.

         Khơ-mú Đông được phân bố ở các tỉnh Phong Sa Lỳ, Luang Prabang, Hủa Phan và Chiềng Khuang của Lào; các tỉnh Nghệ An, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái, Thanh Hóa của Việt Nam; tỉnh Sip Song Pan Na của Trung Quốc. Khơ-mú Tây được phân bố ở các tỉnh Luang Nặm Thà, U Đom Xay, Bokaep của Lào; ở các tỉnh Nan và Chiềng Rai ở phía Bắc Thái Lan; vài làng ở Sip Song Pan Na của Trung Quốc. Sự khác biệt giữa hai phương ngữ nói trên chủ yếu về mặt từ vựng và ngữ âm. Trong tiếng Khơ-mú Tây có sự phân biệt âm vực (register) trong từ âm vị học, có thể coi là những dấu hiệu manh nha của đối lập thanh điệu: “cao” (high) và “thấp” (low).

          Tiếng Khơ-mú Việt Nam ở các địa phương khác nhau có một số khác biệt, nhưng về căn bản là thống nhất.

         Người Khơ-mú ở Việt Nam chưa có chữ viết. Theo một số tài liệu, ở Lào tiếng Khơ-mú được ghi bằng chữ dạng Sanscrit. Chữ này không phổ biến ở Việt Nam.

          Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Khơ-mú Việt Nam hiện nay là đa ngữ Khơ-mú – Việt – Thái. Ở một số nơi, người Khơ-mú còn biết tiếng Lào, Mông. Tiếng Khơ-mú hiện chủ yếu sử dụng trong gia đình, làng bản…, trong nội bộ của dân tộc Khơ-mú, chỉ được dùng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở dạng khẩu ngữ (không ở dạng ngôn ngữ thành văn).

          Tiếng Khơ-mú hiện được truyền lại cho thế hệ sau chỉ bằng cách truyền miệng. Rất ít nghiên cứu về tiếng Khơ-mú.

         4.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Xinh Mun

         Tiếng Xinh Mun là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Xinh Mun.

         Người Xinh Mun gọi “tiếng, tiếng nói” là khoăm hoặc quăm (từ mượn tiếng Thái). Như vậy, “tiếng Xinh mun” gọi theo ngôn ngữ của dân tộc này là khoăm Kơxinh mul (nghĩa là: “tiếng – người – núi” = tiếng Xinh mun).

         Tiếng Xinh Mun là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “cổ”, cận âm tiết tính (quasi-syllabic). Từ âm vị học (phonological word) tiếng Xinh Mun có thể có hình thức đơn tiết hoặc song tiết. Trong tiếng Xinh Mun, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết có thể không trùng nhau. Bên cạnh các từ có hình thức đơn tiết, còn thường gặp các từ có hình thức song tiết (gồm một tiền âm tiết và một âm tiết chính – âm tiết mang trọng âm; còn gọi là “một âm tiết rưỡi”).

         Tiếng Xinh Mun không có thanh điệu.

         Trong từ vựng tiếng Xinh mun, có thể thấy nhiều lớp từ chồng lên nhau: lớp gốc Nam Á, lớp mượn Tày – Thái và lớp mượn Việt.

          Theo cảm thức bản ngữ, tiếng Xinh Mun ở Việt Nam thuộc các nhóm Xinh Mun Nghẹt và Xinh Mun Dạ có một số khác biệt, đặc biệt về mặt ngữ âm (“giọng nói”). Tiếng Xinh Mun Dạ có rất nhiều từ ngữ vay mượn của tiếng Thái và tiếng Việt. Tiếng Xinh Mun Nghẹt ít người nói, nhưng hiện còn bảo tồn được sắc thái giọng nói Xinh Mun tốt hơn: Phần đầu của các từ Xinh Mun Nghẹt còn giữ được nhiều tiền âm tiết và tổ hợp phụ âm; Tiếng nói nhóm này có nhiều từ ngữ chung với Khơ-mú…

         Người Xinh Mun ở Việt Nam chưa có chữ viết.

         Trạng thái đa ngữ phổ biến ở vùng người Xinh Mun hiện nay là tam ngữ Xinh Mun – Việt – Thái. Ở một số nơi, người Xinh Mun còn biết tiếng Mông, Tày. Tiếng Xinh Mun hiện chủ yếu sử dụng trong gia đình, làng bản…, trong nội bộ của dân tộc Xinh Mun, trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở dạng khẩu ngữ (không ở dạng ngôn ngữ thành văn). Tiếng được dùng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình người Xinh Mun, thậm chí cả trong cúng bái, hát hò, cưới xin, hội hè… Điều này có thể còn có lí do là hiện nay tình trạng hôn nhân hỗn hợp Xinh Mun – Thái tương đối phát triển. Đa số người Xinh Mun sử dụng được tiếng Việt nhưng vẫn ở trình độ thấp, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở nói năng trao đổi hàng ngày (chưa có khả năng tiếp nhận và tạo ra các văn bản viết) và chỉ ở những giao tiếp giản đơn. Rất ít nghiên cứu về tiếng Xinh Mun. Ngôn ngữ này được truyền lại cho thế hệ sau chỉ bằng cách truyền miệng.

         4.2.3. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Kháng

          Tiếng Kháng là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Kháng.

         Những kết quả xem xét từ góc độ địa lý ngôn ngữ học, lịch sử tộc người, ý thức tự giác tộc người cũng giúp khẳng định: Dân tộc Kháng nói hai ngôn ngữ (tạm quy ước gọi chung là “tiếng Kháng”): Tiếng Kháng khu vực Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La); tiếng Kháng ở Quảng Lâm (tỉnh Điện Biên).

          Ngôn ngữ Kháng khu vực Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai lại có thể được phân ra 2 tiếng địa phương: Tiếng Kháng vùng Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) và Thuận Châu (tỉnh Sơn La) phân bố ở hữu ngạn sông Đà; tiếng Kháng Mường La, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) ở tả ngạn sông Đà.

          Các ngôn ngữ dân tộc Kháng thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “trung”. Nhìn chung, từ âm vị học tiếng Kháng phần lớn có hình thức đơn tiết. Trong tiếng Kháng, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết trùng nhau. Đây là các ngôn ngữ có thanh điệu: 4 – 6 thanh (tùy các tiếng địa phương khác nhau).

         Người Kháng chưa có chữ viết.

          Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Kháng Việt Nam hiện nay là đa ngữ Kháng – Việt – Thái. Ở vùng người Kháng, tiếng Việt và tiếng Thái trở thành những ngôn ngữ giao tiếp chung của các dân tộc ở phạm vi rộng, đa dạng và mức độ sâu sắc. Do dân tộc Kháng có số dân ít lại sống phân tán, xen kẽ vào những làng bản đông đúc của dân tộc Thái ở vùng đất Tây Bắc Việt Nam nhiều thế kỉ nay, nên dân tộc Kháng đã chịu ảnh hưởng của dân tộc Thái khá đậm nét về tiếng nói và phong tục. Người Kháng nói tiếng Thái khá thông thạo. Trong tiếng Kháng, vốn từ chung với tiếng Thái khá lớn.

          Tiếng mẹ đẻ của người Kháng hầu như chỉ được sử dụng trong gia đình, làng bản, ở các thế hệ lớn tuổi. Các hoàn cảnh khác, phần lớn người Kháng dùng tiếng Việt và tiếng Thái.

         4.2.4. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Ơ Đu

         Tiếng Ơ Đu là ngôn ngữ của dân tộc Ơ Đu. Tuy nhiên, có không ít người Ơ Đu đã nhận ngôn ngữ họ đang nói (chủ yếu là Thái, Khơ-mú) là tiếng mẹ đẻ của họ.

         Cho đến nay, sự hiểu biết về tiếng Ơ Đu rất ít. Tiếng Ơ Đu gần như chưa được nghiên cứu. Người Ơ Đu chưa có chữ viết.

         Những người già Ơ Đu khẳng định, người Ơ Đu đã từng có ngôn ngữ riêng, tiếng của họ nghe như tiếng của người Khơ-mú. Do số dân quá ít, sống xen kẽ với các dân tộc khác, lại hầu như không có quan hệ với đồng tộc ở Lào, nên các thế hệ Ơ Đu còn lại bây giờ đã quên hết tiếng nói, thậm chí không còn nhớ cả phong tục tập quán. Một số rất ít người già còn nhớ được khoảng trên dưới 100 từ ngữ. Trong những năm qua, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã có một số nỗ lực trong việc khôi phục tiếng nói của người Ơ Đu, mở một số lớp dạy học tiếng.

         Theo lời kể, khi đã về già người Ơ Đu mới cố học lấy vài từ tiếng mẹ đẻ bằng cách truyền miệng, với mục đích khi về thế giới bên kia “chào hỏi trò chuyện với ông bà tổ tiên”. Ngôn ngữ này đã “hầu như chỉ còn trong ký ức”.

         Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Ơ Đu Việt Nam hiện nay là đa ngữ: Tiếng Việt – Khơ-mú – Thái… Người Ơ Đu sử dụng được tiếng Việt ở trình độ thấp. Hiện nay người láng giềng gần gũi nhất của Ơ Đu là Thái. Tiếng Thái đang có xu hướng thay thế cho tiếng Ơ Đu.

         5.1. Những điểm chung và những điểm riêng biệt trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú ở Việt Nam

         5.1.1. Những điểm chung

         – Các ngôn ngữ nhóm Khơ-mú rất gần gũi nhau về cội nguồn và loại hình. Đây là những ngôn ngữ hiện còn giữ lại được trạng thái rất “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Những “mảnh” này có thể kể nhiều chuyện về quan hệ cội nguồn, loại hình, tiếp xúc của các ngôn ngữ, đặc biệt là quan hệ với tiếng Việt và với các ngôn ngữ khác. Thậm chí cả về lịch sử tộc người của chúng.

         – Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào. Khơ-mú… Tuy nhiên, hiện tượng đa ngữ này lại thường là bất bình đẳng (thế yếu thuộc về các dân tộc ít người hơn), tạo nên những điều kiện bất lợi cho các ngôn ngữ này.

         Hiện nay, ngôn ngữ tộc người của các dân tộc nhóm Khơ-mú đang đứng trước nguy cơ bị giảm thiểu các chức năng xã hội, chỉ được dùng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở gia đình và làng xóm, không có chữ viết, chỉ được sử dụng và lưu truyền ở dạng khẩu ngữ (không có văn bản bằng chữ viết…), rất nghèo nàn về từ vựng và các kết cấu ngữ pháp, kém sức biểu cảm do bị pha trộn và ít được sử dụng.

         Thực tế đang đặt ra yêu cầu rất cấp bách phải bảo tồn và phát triển vốn văn hóa truyền thống, trong đó có ngôn ngữ của dân tộc này.

         5.1.2. Những điểm riêng biệt

         – Ở Việt Nam đã gặp những khó khăn trong xác định thành phần dân tộc, khi một cộng đồng: Sử dụng hai hay hơn hai ngôn ngữ. Có hiện tượng thay thế ngôn ngữ: Dùng ngôn ngữ khác chứ không dùng tiếng mẹ đẻ, thậm chí coi ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ của mình. Dân tộc Kháng nói bằng 2 ngôn ngữ. Dân tộc Ơ Đu chủ yếu nói bằng ngôn ngữ của dân tộc khác.

         – Hiện nay, nguy cơ thất truyền ngôn ngữ xảy ra ở các dân tộc như Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Sự thất truyền này có những biểu hiện không như nhau. Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng là những dân tộc có nguy cơ rất cao; Ơ Đu là một dân tộc đang có nguy cơ mất hoàn toàn bản sắc văn hóa truyền thống.

         5.2. Sự đánh giá và giải pháp từ bức tranh hiện thực

         – Cho đến nay, theo ý kiến của đa số những nhà khoa học, trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, các tiêu chí để một cộng đồng được gọi là “dân tộc” (Ethnic) như sau: Thống nhất chung về văn hoá vật chất và tinh thần; thống nhất chung về ngôn ngữ; thống nhất chung về ý thức tộc người và tên gọi (cùng nhận một tộc danh).

          Các tiêu chí trên hiện nay cần được áp dụng uyển chuyển ở Việt Nam. Đối với các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú ở Việt Nam, trước mắt cần đặt lên trên hết là tiêu chí “thống nhất chung về ý thức tộc người và tên gọi (cùng nhận một tộc danh)”.

         – Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú để làm gì?

         Thực tế thì đối với tất cả các dân tộc, ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hoá, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành, phản ánh và lưu truyền các hình thái văn hóa khác (văn nghệ truyền thống; những kinh nghiệm sống, thế giới quan và nhân sinh quan; tình cảm thái độ…), hệ thống tri thức bản địa quan trọng nhất trong đời sống văn hoá tinh thần của một dân tộc.

         Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng văn hóa trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam, qua việc bảo tồn và phát triển những nét bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc thiểu số, trong đó có tiếng mẹ đẻ của dân tộc này.

         – Phải làm gì để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú?

         Cần xác định phương hướng kế hoạch hóa và có chính sách riêng biệt đối với các ngôn ngữ của các dân tộc có nguy cơ bị thất truyền ngôn ngữ rất cao.Ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú đều thuộc loại này.

         Quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức dạy và học các ngôn ngữ có nguy cơ thất truyền và sử dụng nhiều hơn trong đời sống.

         Giúp cho người bản ngữ hiểu rõ hơn về vai trò di sản – ngôn ngữ đối với bản sắc văn hóa truyền thống của họ và có ý thức bảo tồn, phát triển tiếng mẹ đẻ;

         Đặc biệt, mang đến cho xã hội nói chung và các nhà quản lý nói riêng sự nhận thức sâu sắc hơn về vai trò ngôn ngữ các dân tộc, có hành động thiết thực hơn đối với sự đa dạng văn hóa truyền thống trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.

         Để bảo tồn ngôn ngữ Ơ Đu, cần có nhiều công việc cần làm ngay. Trong đó, quan tâm, tìm hiểu về ngôn ngữ này trong mối quan hệ với tiếng nói Ơ Đu ở Lào… Nên sưu tập lại các từ ngữ và câu, văn bản truyền miệng, ghi lại bằng chữ viết Ơ Đu rồi biên soạn và in thành tài liệu để dạy và học, tạo điều kiện cho ngôn ngữ này “hồi sinh” trong đời sống.

    6. Kết luận

         Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 5 khẳng định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”. Quyết định số 53/CP ngày 22/8/1980 của Chính phủ về chính sách đối với ngôn ngữ và chữ viết dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng khẳng định: “…Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước. Ở vùng dân tộc thiểu số, tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”.

         Có thể xem bài viết này là một nghiên cứu trường hợp (nhóm ngôn ngữ Khơ-mú) về trạng thái ngôn ngữ thường gặp ở các dân tộc thiểu số Việt Nam. Từ đó hướng tới những giải pháp tích cực đối với ngôn ngữ của các dân tộc có cùng trạng thái này, ở Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Bình, T. (1999). Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Chazée, L. (1999). The Peoples of Laos: Rural and Ethnic Diversities. Bangkok: White Lotus.

    – Delcros, H., & Subra, J. (1966). Petit dictionnaire du langage des Khmu’ de la région de Xieng-Khouang. Vientiane: Mission Catholique.

    – Diễn, K. (1999). Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Diffloth, G. (1986). Austro – Asiatic Languages. In Encyclopedia Britanica (16th ed). Macropedia.

    – Edmondson, J. A. (2010). The Khang language of Viet Nam in comparision to Ksing Mun (Xinh Mun). In Kenneth A. McElhanon & Ger Reesink (Eds.), A Mosaic of languages and cultures (pp. 138–154).

    – Francis, G. (1873). Voyage d’exploration en Indo-Chine effectué pendant les années 1866, 1867, et 1868 par une commission française, présidée par Doudart de Lagreé, et publié…sous la direction de… Francis Garnier. Paris: Hachette Book Group.

    – Hoan, P. Q., & Hoa, Đ. T. (2011). Người Kháng ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Haudricourt, A. G. (1973). Mấy điều nhận xét về lý luận và thực tiễn nhân một chuyến thăm các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Việt Bắc. Tạp Chí Ngôn Ngữ, Số 3.

    – Hoành, N. H. (2007). Vị trí tiếng Kháng trong các ngôn ngữ Mon – Khmer. Tạp Chí Ngôn Ngữ, Số 4.

    – Hoành, N. H. (2009). Ngữ âm tiếng Kháng (những nhận xét ban đầu). In Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Jie, D. (2007). Bumang yu yanjiu (A study of Bumang). Beijing: Minzu University.

    – Rischel, J. (1989). Can the Khơ Mú component in Mlabri (‘Phi Tong Luang’) be identified as Old T’in? Acta Orientalia, 50, 79–115.

    – Lô, L. V., Thấu, N. H., Trí, M. V., Anh, N., & Đường, M. (1969). Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa.

    – Mikami, N. (2003). A Khang Phonology and Wordlist. In Hiromi Ueda (Ed.), Reports on Minority Languagesin Mainland Southeast Asia (ed). Osaka Gakuin University.

    – Premsrirat, S. (1993). Thai-Khmu – English Dictionary.

    – Premsrirat, S. (2001). Thesaurus of Khmu Dialects in Southeast Asia. Salaya.

    – Shorto, H. (2006). A Mon-Khmer Comparative Dictionary. Australian: Pacific Linguistics Publishers.

    – Sidwell, P. (2015). The Palaungic Languages: Classification, Reconstruction and Comparative Lexicon. Munich: Lincom Europa.

    – Thomas, D., & Headley, R. K. (1970). More on Mon- Khmer supgroupings. Lingua, 25, 398-418.

    – Tùng, T. Q. (2014). Đặc điểm tiếng Khơ Mú ở Tây Bắc Việt Nam. Ngôn Ngữ và Văn Hoá Vùng Tây Bắc. Sơn La.

    – Tùng, T. Q. (2016). Hệ thống thanh điệu tiếng Kháng (trên cơ sở cứ liệu phân tích bằng máy tính). Tạp Chí Ngôn Ngữ và Đời Sống, Số 2(244).

    – Tùng, T. Q. (2017a). Tiếng Kháng ở Việt Nam trước nguy cơ mai một. Hội Thảo Ngôn Ngữ Học Toàn Quốc. Đại học Quy Nhơn.

    – Tùng, T. Q. (2017b). Từ âm vị học và âm tiết trong các ngôn ngữ Khơ Mú ở Việt Nam. Tạp Chí Ngôn Ngữ và Đời Sống, Số 6.

    – Tùng, T. Q. (2018). Chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam với việc biên soạn từ điển (trường hợp tiếng Kháng). Tạp Chí Từ Điển Học và Bách Khoa Thư, Số 2, tr.49-57.

    – Tùng, T. Q. (2019a). Đặc điểm hệ thống nguyên âm tiếng Kháng – một ngôn ngữ có nguy cơ mai một ở Việt Nam (khái quát từ những kết quả phân tích trên máy tính. Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số Có Nguy Cơ Mai Một ở Việt Nam Hiện Nay – Những Vấn Đề Lí Luận và Thực Tiễn. Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

    – Tùng, T. Q. (2019b). Trạng thái ngôn ngữ Kháng ở Việt Nam. Hội Thảo Ngôn Ngữ Học Toàn Quốc. Bình Dương: Đại học Thủ Dầu Một.

    – Tùng, T. Q., & Thông, T. V. (2017). Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam. Nxb. Đại học Thái Nguyên.Vạn, Đ. N. (1983). Mảng/Ơđu vocabulary(Michel Ferlus, Ed.). Hà Nội.

    – Vạn, Đ. N., Bình, N. T., Huy, N. V., & Thiên, T. (1972). Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Viện Dân tộc học. (1978). Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Khu vực phía Bắc). Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Viện Hàn lâm Khoa học Nga, & Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. (1990). Tiếng Xinh mun (Kxinh Mul). Matxcơva: Nxb. Khoa học.

    Nguồn: Tạp chí Khoa học, Giáo dục và Công nghệ

    (Journal of Ethnic Minorities Research), Volume 9, Issue 1

    Thánh Địa Việt Nam Học

    (https://thanhdiavietnamhoc.com)

    Download file

    (PDF): Trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thuộc nhóm Khơ-Mú ở Việt Nam

    (Tác giả: Tạ Văn Thông, Tạ Quang Tùng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Ngoại Ngữ Hiếm: Khó Khăn Lớn, Cơ Hội Nhiều
  • Học Tiếng Ý Không Khó
  • Tiếng Ý Có Thể Tự Học Hay Không?
  • Giới Thiệu Và Bảng Chữ Cái
  • Tôi Cô Đơn Giữa Một Biển Người
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100