Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Học Tiếng Khmer
  • Bình Thuận Chú Trọng Dạy Tiếng Chăm Tại Các Trường Tiểu Học
  • Tổng Kết Công Tác Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Chăm Trên Địa Bàn Tỉnh An Giang
  • Năng Lực Tiếng Việt Của Học Sinh Dân Tộc Chăm Huyện An Phú Tỉnh An Giang
  • Ham Học Hỏi Tiếng Anh Là Gì
  • Giáo Trình Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer, Giao An Day Tieng Khmer, Tai Lieu Hoc Tieng Khmer, Download Tài Liệu Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Khmer, Văn Hóa Người Khmer, Từ Điển Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Vus, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Là Gì, Giáo Trình Học Tiếng Anh Mất Gốc, Giáo Trình Tự Học Tiếng Anh ở Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Tại Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình B Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Tây Ban Nha, Giao Trinh Tieng Anh, Giáo Trình Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh 1, Giáo Trình 60 Bài Tiếng Hàn, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Tiếng Anh 10, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Cơ Bản, Mua Giáo Trình Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh We Can!, Giáo Trình Tự Học Tiếng ý, Giáo Trình Học Tiếng ý, Giáo Trình Tiếng Anh Tự Học, Giáo Trình Tiếng ê Đê, Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh 1 Đại Học, Giáo Trình Học Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em Hay, Giáo Trình ôn Thi Cao Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình ôn Thi Đại Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Lào, Giáo Trình Học Tiếng Hoa, Giáo Trình ôn Thi Tiếng Anh B1, Mua Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh 11, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Của Ila, Giáo Trình Tiếng Anh Cấp 3, Giáo Trình Tiếng Anh Cấp 2, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Trẻ Mầm Non, Giáo Trình Học Tiếng Anh Từ A Đến Z, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Du Học, Giáo Trình Tiếng Anh C, Giáo Trình Tiếng Anh Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản 2, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản 1, Giáo Trình Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh 2 Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Cho Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Bé, Giáo Trình Tiếng Anh 3 Đại Học, Học Tiếng Hoa Giáo Trình 301, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 4, Giáo Trình Học B2 Tiếng Đức, Giáo Trình Học Nói Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Đại Học Fpt, Giáo Trình Tiếng Anh Bé, Giáo Trình Tiếng Anh 8, Giáo Trình Tiếng Anh 7, Giáo Trình Tiếng Anh 6, Giáo Trình Tiếng Anh 5, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh 4, Giáo Trình Tiếng Anh 3, Giáo Trình Tiếng Anh 2, Giáo Trình Tiếng Anh 123 Lớp 10, Giáo Trình Tiếng Anh 123, Giáo Trình Tiếng Anh 9,

    Giáo Trình Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer, Giao An Day Tieng Khmer, Tai Lieu Hoc Tieng Khmer, Download Tài Liệu Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Khmer, Văn Hóa Người Khmer, Từ Điển Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Vus, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Là Gì, Giáo Trình Học Tiếng Anh Mất Gốc, Giáo Trình Tự Học Tiếng Anh ở Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Tại Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình B Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Tây Ban Nha, Giao Trinh Tieng Anh, Giáo Trình Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh 1, Giáo Trình 60 Bài Tiếng Hàn, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Tiếng Anh 10, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Cơ Bản, Mua Giáo Trình Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh We Can!, Giáo Trình Tự Học Tiếng ý, Giáo Trình Học Tiếng ý,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoá Học Tiếng Anh Online Cho Trẻ Em
  • Điểm Danh Những Món Ăn Campuchia Nổi Tiếng Ở Sài Gòn
  • Review Các Trung Tâm Tiếng Đức Chất Lượng Tại Tphcm
  • 4 Cách Học Nói Tiếng Pháp Tiến Bộ
  • Khai Giảng Khóa Học Tiếng Campuchia Sơ Cấp
  • Tự Học Chữ Khmer (Kèm Cd)

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thi “hùng Biện Tiếng Khmer Liên Trường” Năm Học 2022
  • Tải Về Học Tiếng Campuchia Dễ Dàng Apk Cho Android
  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Tiếng Campuchia Thông Dụng Khi Du Lịch
  • Một Số Tiếng Campuchia Thông Dụng
  • Giáo Trình Học Tiếng Campuchia
  • Tự học chữ Khmer

    Sách Tự học chữ Khmer của tác giả này được biên soạn nhằm phục vụ đông đảo người Việt đang sinh sống trong vùng có người Khmer để có thể bước đầu sử dụng tiếng nói và chữ viết Khmer.

    Tự học chữ Khmer gồm 72 bài học cơ bản. Mỗi bài gồm có: Giới thiệu nguyên âm và phụ âm, từ mới, ngữ vựng, tập đọc gồm những câu đàm thoại vừa thông dụng ngắn gọn vừa lặp lại từ vựng đã học. Cuối sách có giới thiệu những từ thông dụng và các từ vựng Khmer – Việt đã học trong các phần trước. Cuối mỗi chương đều có bài ôn tập để người học có thể tự đánh giá lại kết quả học tập và mức độ tiếp thu kiến thức của mình.

    Tự học chữ Khmer còn có kèm theo 2 đĩa CD do cựu phát thanh viên tiếng Khmer của đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đọc và ghi âm với giọn chuẩn người bản xứ, giúp quá trình tự học của các bạn được chủ động và dễ dàng hơn. Luyện tập chăm chỉ theo Giáo trình và đĩa CD, trình độ sử dụng tiếng này của bạn sẽ được nâng cao đáng kể, nhất là khả năng phát âm và sự tự tin thực hành trong giao tiếp.

    Một số thông tin về tác giả Ngô Chân Lý:

    Sinh ra tại Phnom Penh (Cămpuchia), lớn lên sống và học tập tại tỉnh SiêmRiêp, sau đó lại học tập ở Thủ đô Phnom Penh nên tác giả Ngô Chân Lý có một sự am hiểu rất sâu sắc về chữ Khmer. Có lẽ trên thị trường sách tiếng Khmer, người ta rất khó để tìm ra một quyển sách tiếng Khmer nào hay hơn sách tiếng Khmer của tác giả Ngô Chân Lý. Sách đã được hội Việt kiều tại Campuchia và rất nhiều trung tâm dạy tiếng Khmer trong nước sử dụng giảng dạy và học tập.

    Tự học chữ Khmer đã được các nhà nghiên cứu Khmer ngữ đánh giá cao. Hiện được Hội Việt Kiều Campuchia và các trung tâm giảng dạy chữ Khmer sử dụng dạy và học rất hữu hiệu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bằng Tiếng Anh B1 Nên Học, Ôn Thi Ở Đâu Và Có Khó Không?
  • Khóa Học Tiếng Khmer Căn Bản
  • Lễ Hội Bom Chaul Chnam (Lễ Hội Thu Hoạch Lúa Gạo) Ở Campuchia :: Việt Anh Song Ngữ
  • Sắc Màu Trung Quốc Ở Lào Và Campuchia
  • Chỉ Số Thông Thạo Tiếng Anh Cho Thấy Sự Tiến Bộ Về Kỹ Năng Ngôn Ngữ Của Campuchia
  • Con Rể Của Họa Sỹ Ngô Mạnh Quỳnh: Giáo Sư Hà Văn Tấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tọa Đàm “tiếng Phạn Và Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam” Và Tổng Kết, Trao Giải Cuộc Thi Viết Về Đất Nước, Con Người Ấn Độ
  • Tự Học Tiếng Phạn Tải Xuống Miễn Phí • Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Khai Giảng Lớp Tiếng Phạn – Thư Viện Huệ Quang
  • Tập 3 – Thư Viện Huệ Quang
  • Mua Sách Tự Học Tiếng Phạn ( Trọn Bộ 3 Tập ) Giảm Giá
  • GS Hà Văn Tấn, nhà học giả “kiến văn thâm hậu”

    – Là tác giả của khoảng 250 công trình nghiên cứu về sử học và khảo cổ học, ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt hai năm 2000.

    Nổi tiếng từ tuổi hai mươi

    Quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh (cùng làng với đại thi hào Nguyễn Du), năm 1957, 20 tuổi, tốt nghiệp cử nhân sử học, Hà Văn Tấn trở thành một trong mấy cán bộ giảng dạy trẻ nhất ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

    Hẳn là giáo sư Đào Duy Anh phải là người có “biệt nhãn” khi giao cho Hà Văn Tấn cái công việc nhọc nhằn, khó khăn là hiệu đính và chú thích bản dịch cuốn Dư địa chí, một tác phẩm của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào thế kỷ 15, được cụ cử nhân Nho học Phan Huy Tiếp dịch ra chữ Quốc ngữ.

    Gọi là “chú thích” nhưng dài tới 115 trang, gấp 4 lần chính văn (38 trang). Bởi vì, với “chú thích” ấy, phải định vị được các tên đất có trong sách qua các thời kỳ lịch sử xa xăm cho đến tận ngày nay. Và, như vậy, phải đọc hầu hết các sách ghi chép về địa lý Việt Nam qua các đời do người Việt Nam cũng như người Trung Quốc viết.

    Gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc thử lập một bản “thống kê sơ bộ” thì thấy: Để tìm tài liệu cho phần “chú thích” ấy, Hà Văn Tấn đã phải đọc 30 bộ sách Trung Quốc, 16 bộ sách Việt Nam, tất cả đều trong nguyên văn chữ Hán, như: Thuỷ kinh chú, Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Thục chí, Nam Thục chí… của các tác giả Trung Quốc; rồi Toàn thư, Cương mục, An Nam chí lược… của các tác giả Việt Nam.

    Trong bài Ông Hà Văn Tấn như tôi biết, ông Nguyễn Vinh Phúc viết: “Như vậy cái vốn Hán học của tác giả dày dặn biết chừng nào! Quả như nhà thơ cổ điển Pháp Pierre Corneille đã nói: Giá trị không đợi tuổi tác!”

    Cũng ở phần “chú thích” nói trên, Hà Văn Tấn còn chỉ ra một số chỗ sai trong văn bản Dư địa chí hiện có, do người đời sau thêm thắt vào.

    GS Phan Huy Lê cho biết: Dạo ấy, trong một buổi họp Bộ môn Lịch sử cổ – trung đại Việt Nam, GS Đào Duy Anh đã nhận xét về công trình đầu tay của Hà Văn Tấn (hiệu đính và chú thích Dư địa chí) là: “Rất công phu, nghiêm túc. Tôi rất hài lòng và tin cậy tác giả.”

    Được các học giả Hoài Thanh và Hoàng Xuân Hãn ngợi khen

    Một công trình khác của Hà Văn Tấn gây xôn xao dư luận là cuốn Kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ 13 (cùng viết với Phạm Thị Tâm) xuất bản năm 1968.

    Nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết bài cho một tờ báo lớn ở Hà Nội hết lời khen ngợi, coi cuốn sách là một công trình sử học nghiêm túc, có nhiều khám phá mới, đồng thời, cuốn hút bạn đọc hơn cả một bộ tiểu thuyết!

    Từ Paris GS Hoàng Xuân Hãn cũng chỉ ra một số điều mới do cuốn sách mang lại.

    Để viết cuốn sách đó, Hà Văn Tấn đã phải tham khảo ngót trăm cuốn sách khác in bằng đủ các thứ chữ Quốc ngữ, Nôm, Hán, Nga, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ba Lan… Kể cả bộ Sử biên niên viết bằng chữ Ba Tư (Persian) của nhà sử học nổi tiếng thế kỷ 13 Fazl Allah Rasid ud-Din ở vùng Teheran, Hà Văn Tấn cũng không bỏ qua.

    Chính nhờ nhà sử học Ba Tư ấy mà ngày nay ta được biết, ngay từ hồi thế kỷ 13, chiến thắng của Kiefce-Kue (Giao Chỉ quốc) đánh bại Tugan (Thoát Hoan) buộc y phải tháo chạy về Lukin-fu (Long Hưng phủ ở Giang Tây, Trung Quốc) đã vang vọng đến miền Tây á xa xôi, khiến nhà sử học thành Hamadhan gần Teheran ấy phải ghi lại trong bộ Sử biên niên của ông bằng thứ chữ Ba Tư cổ, không dễ đọc, dễ hiểu chút nào đối với một người Việt Nam đương đại!

    Không lâu trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc cuốn sách đó và hỏi thăm về hai tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm.

    Mới đây, tháng 5/2006, nhân kỷ niệm 100 năm Đại học Đông Dương, công trình khoa học nổi tiếng nói trên của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm đã được Đại học Quốc gia Hà Nội tặng giải thưởng.

    Giáo sư sử học Phan Đại Doãn kể: “Vào thời kỳ sơ tán ở Vạn Thọ, Đại Từ, Thái Nguyên, khi anh Tấn chưa đầy 30 tuổi, tôi thường hay trò chuyện với cụ Trần Lê Hữu, một nhà Hán học vui tính. Có lần tôi hỏi: Bác xem tướng bọn trẻ chúng cháu, thấy thế nào ạ? Cụ Trần Lê Hữu trả lời: Mình cũng đã từng đèn sách, lều chõng đi thi, nhưng vẫn phải phục chữ nghĩa Hán học của Tấn đấy!”

    Am tường chữ Phạn và Phật học

    Một công trình khác của Hà Văn Tấn cũng khiến giới sử học xôn xao, đó là bài viết Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư in trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 76 (1965) khi tác giả mới 28 tuổi. Cột kinh này là một trụ đá tám mặt, trên các mặt đều có khắc chữ Hán. Vì đá mềm, bị vùi lâu dưới đất nên một số chỗ trên trụ hỏng nát, không nhận rõ mặt chữ. Hà Văn Tấn đã viết lại thật rõ các chữ Hán để đưa in, rồi dịch ra âm Hán – Việt. Và điều khó hơn nhiều là phục nguyên Phạn văn, bởi lẽ bản kinh chữ Hán khắc ở Hoa Lư kia chỉ là dùng chữ Hán để phiên tiếng Phạn mà thôi. Rồi phân tích ý nghĩa.

    GS Hà Văn Tấn năm 2000, được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh

    Chúng ta đều biết tiếng Phạn (Sanscrit/Pali) là thứ cổ ngữ ấn Độ, ngày nay, ngay cả người ấn cũng chẳng mấy ai đọc được! Chỉ có những nhà bác học mới mong đọc hiểu. Sở dĩ Hà Văn Tấn đọc nổi là do anh đã âm thầm tự học tiếng Phạn qua tiếng Đức từ năm 20 tuổi!

    Về sự thông thạo chữ Hán, tiếng Phạn và am hiểu Phật học của giáo sư Hà Văn Tấn, ông Nguyễn Vinh Phúc kể một mẩu chuyện lý thú. Hay thăm thú các chùa, đền ở vùng Hà Nội, khi gặp phải những chữ Hán khó trên hoành phi, câu đối, bác Phúc thường tìm đến hỏi “ông bạn trẻ thông thái” và đều được giải đáp ngay, rành rọt, chính xác.

    – Trên một số đôi câu đối, tôi thường thấy – ông Phúc nói – có những chữ lục thức hay bát thức, vậy chúng khác nhau ra sao?

    - Lục thức, theo giáo lý Tiểu thừa, gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý – Hà Văn Tấn trả lời. – Giáo lý Đại thừa thêm vào hai thức nữa: mạt-na và a-lại-da. Mạt-na tiếng Phạn là mâna nghĩa là tự nhận thức một cách trực giác, tương tự như aperception (tổng giác) trong triết học phương Tây. Còn a-lại-da trong tiếng Phạn là alaya nghĩa là gồm chứa; có thể coi đó là một dạng hiện tượng luận trong triết lý Phật giáo.

    – Trong Chợ Trời ở phố Thịnh Yên có ngôi chùa Vua chỉ thờ riêng tượng Đế Thích mà thôi, tại sao?

    – Đây là một bằng chứng của tín ngưỡng Đế Thích. Đế Thích trong tiếng Phạn là Indra. Indra (Đế Thích) và Brahma (Phạm Vương/ Phạm Thiên) vốn là hai vị thần ấn Độ thời Veda được hòa nhập vào thần điện Phật giáo. Ở các chùa Việt Nam thấy có tượng hai vị thần này, đặt hai bên tượng Cửu Long. Đế Thích là chúa tể tầng trời Điêu Lợi Thiên ở cõi Dục giới. Còn Phạm Thiên là chúa tể tầng trời Đại Phạm Thiên ở cõi Sắc giới. Vì là chúa tể nên cũng coi như vua, do vậy hai vị được tạc tượng theo dạng vua: áo cổn, mũ miện… Tuy nhiên, ở Việt Nam, cũng như một vài nước theo Đại thừa, còn có tục thờ riêng Đế Thích. Hà Nội có chùa Vua, Hưng Yên có quán Đế Thích ở La Chàng (Ân Thi) và đền Đế Thích ở Liêu Hạ (Mỹ Văn)… Ở Nhật Bản cũng có tín ngưỡng thờ riêng Đế Thích gọi là Taishakuten…

    Nhờ được “trời ban” cho trí nhớ tuyệt vời, Hà Văn Tấn dễ dàng đọc hiểu 7 ngoại ngữ.

    Tìm nguồn gốc bản địa của văn hóa Đông Sơn

    Rất thành công trong sử học, nhưng chính những công trình khảo cổ học mới mang lại cho Hà Văn Tấn giải thưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Theo dấu các văn hoá cổ lý giải nhiều vấn đề về văn hoá Tiền Đông Sơn như văn hoá Gò Mun, văn hoá Đồng Đậu, văn hoá Phùng Nguyên, chứng minh tính bản địa của các văn hoá ấy.

    Đây là một công việc vô cùng khó, bởi vì, trước Hà Văn Tấn, một số học giả nước ngoài có tiếng tăm đã ra sức biện luận rằng nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ kia không hề có… nguồn gốc bản địa Việt Nam! O. Janse tìm nguồn gốc văn hoá Đông Sơn ở một tộc người trên thảo nguyên Âu – Á

    Còn, theo B. Karlgren, thì văn hoá Đông Sơn bắt nguồn từ văn hoá sông Hoài bên Trung Quốc. Rồi R. Heine-Geldern lại cho rằng kẻ sáng tạo ra văn hoá Đông Sơn là người Tokhara đã đến Việt Nam sau một cuộc thiên di dài dằng dặc từ bờ… Hắc Hải!

    Hà Văn Tấn không tán thành những lập luận ấy. Nhưng muốn bác bỏ, thật không đơn giản chút nào! Cần tích luỹ cho được hàng vạn chứng cứ vững chắc qua hàng chục năm ròng rã đi điền dã, lại còn phải biết vận dụng thành thạo những phương pháp nghiên cứu mới nhất để rồi biện luận chặt chẽ, không ai bắt bẻ được.

    Trong hàng loạt bài báo khoa học của mình, Hà Văn Tấn đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng văn hoá Đông Sơn là sự tiếp tục phát triển lên từ các văn hoá Tiền Đông Sơn mà các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện. Trước văn hoá Đông Sơn là văn hoá Gò Mun. Trước văn hoá Gò Mun là văn hoá Đồng Đậu. Trước văn hoá Đồng Đậu là văn hoá Phùng Nguyên.

    Ta có thể tìm đọc các bài viết của Hà Văn Tấn như: Văn hoá Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộc Việt, Người Phùng Nguyên và đối xứng, Từ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng…

    Qua những bài viết ấy, với vô số hình vẽ tỉ mỉ, viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn đã chứng minh rằng, xét về mặt từ vựng và ngữ pháp thì ngôn ngữ đồ gốm Phùng Nguyên tương đương với ngôn ngữ đồ đồng Đông Sơn. Ngôn ngữ đó chính là các hoạ cảnh và hoạ tiết trang trí.

    Gắn bó với nghề dạy học suốt nửa thế kỷ, ông được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

    Đáng tiếc, những năm gần đây, ông bị chảy máu não, mặc dù hiện nay trí nhớ đã hồi phục, nhưng sức làm việc cũng như đóng góp cho khoa học bị hạn chế rất nhiều.

    Hàm Châu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Giảng Lớp Tiếng Phạn Khóa Iii (Năm 2022)
  • Kế Hoạch Học Tiếng Pháp 1 Năm
  • Bài Số 4 Tiếng Pháp: Chào Và Tạm Biệt Với Ngôi “vous”
  • Bộ Sách Từ Vựng Tiếng Pháp Chuyên Ngành Cực Kì “Đắt Giá”
  • Phiên Dịch Thông Dịch Tiếng Pháp Số 1 Sài Gòn Hà Nội
  • Danh Sách Trường Dạy Tiếng Khmer Ở Tp. Hcm

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Khmer Uy Tín, Chất Lượng
  • Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp Mỹ Tho
  • Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc Ở Tiền Giang
  • Trung Tâm Ngoại Ngữ Zela Khai Trương Chi Nhánh Thứ 2 Tại Tp. Mỹ Tho
  • Nổi Mề Đay: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Bệnh 2022
  • Chương trình học Biên dịch tại Trung tâm Ngoại ngữ Báo chí trang bị cho học viên kỹ năng đọc và hiểu văn bản một cách chính xác.

    Từ đó tạo nền tảng cho việc chuyển ngữ chuyên nghiệp, dù học viên có dự định rèn luyện để làm công việc phiên dịch hay tiếp tục với biên dịch.

    Đối tượng:

    Bất kỳ ai đã có khả năng ngôn ngữ tốt ở cả hai ngôn ngữ Việt và Anh với các kỹ năng: đọc – viết – hiểu chính xác; có niềm đam mê tìm hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau; ham thích công việc dịch viết

    Người đang làm công việc dịch thuật tại các công ty – đơn vị – tổ chức muốn nâng cao kỹ năng dịch viết để hài lòng hơn trong công việc

    Sau khi hoàn tất khóa học, học viên đủ điều kiện sẽ được giới thiệu làm việc với các đơn vị đối tác liên kết của JFL.

    Thời gian học:

    24 buổi/ khóa (tối thứ Hai – Tư – Sáu hoặc Ba – Năm hàng tuần)

    90 phút/ buổi

    Nội dung khóa học:

    Appntice – cấp độ 1: Học viên được làm quen với cách dịch viết và dịch các văn bản có mức độ khó tương đối để nắm vững cách chuyển đổi ngôn ngữ.

    Prospective – cấp độ 2: Học viên dịch và hoàn thiện kỹ năng biên dịch ở các văn bản có mức độ khó trung bình.

    Expert – cấp độ 3: Học viên thực tập và hoàn thiện kỹ năng tại các văn bản chuyên ngành.

    Chi tiết liên hệ Trung tâm Ngoại Ngữ Báo Chí, 116-118 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, Tp.Hồ Chí Minh.

    Lớp Phiên dịch Tiếng Anh

    Khóa học Phiên Dịch tiếng Anh tại trung tâm Ngoại ngữ Báo chí trang bị cho học viên những kĩ năng cần thiết của nghề phiên dịch cũng như đạo đức nghề nghiệp khi thực hiện bất kì công tác phiên dịch nào. Trong khóa học Phiên Dịch tiếng Anh, các kĩ năng nghe và đọc hiểu đều hướng đến dịch nói nhằm giúp cho học viên luyện tập khả năng phản xạ khi Phiên Dịch tiếng Anh.

    Mỗi bài học Phiên Dịch tiếng Anh đều được giảng dạy bởi các giáo viên có kinh nghiệm trong công tác phiên dịch đảm trách..

    Đối tượng:

    Bất kỳ ai đã có khả năng ngôn ngữ tốt ở cả hai ngôn ngữ Việt và Anh với các kỹ năng: nghe – đọc – viết – hiểu chính xác; có hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau; đam mê thử thách và ham thích công việc dịch nói

    Người đang làm công việc trợ lý – dịch thuật tại các công ty – đơn vị – tổ chức muốn nâng cao kỹ năng để thăng tiến và hài lòng hơn trong công việc

    Người muốn tăng thêm thu nhập bằng công việc phiên dịch tự do.

    Sau khi hoàn tất khóa học, học viên đủ điều kiện sẽ được giới thiệu làm việc với các đơn vị đối tác liên kết của JFL.

    Thời gian học:

    24 buổi/ khóa (tối thứ Hai – Tư – Sáu hoặc Ba – Năm hàng tuần)

    90 phút/ buổi

    Nội dung khóa học

    Appntice – cấp độ 1: Hoàn thiện nghe -hiểu – ghi chú để phục vụ công việc phiên dịch.

    Prospective – cấp độ 2: Kiến thức phiên dịch:

    Vai trò của phiên dịch viên

    Các điểm cần chú ý

    Ngôn ngữ cơ thể

    Khả năng ứng biến

    Kỹ thuật ghi nhớ

    Expert – cấp độ 3: Kỹ năng phiên dịch

    Sự khác biệt văn hóa

    Tính chuyên nghiệp

    Cách canh thời gian

    Cách tạo từ

    Luyện tập

    Chi tiết liên hệ Trung tâm Ngoại Ngữ Báo Chí, 116-118 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, Tp.Hồ Chí Minh.

    Lớp phiên dịch Cabin

    Dịch Cabin hay dịch đồng thời được đánh giá là khó nhất trong các loại hình phiên dịch. Đặc thù của nghề này đòi hỏi người dịch hầu như phải bắt đầu việc chuyển tải ngôn ngữ song song với lời nói của diễn giả (tại các hội nghị quốc tế, hội nghị chuyên đề, họp báo hay các sự kiện lớn…).

    Khóa học Phiên Dịch Cabin 12 tuần với 12 chủ điểm khác nhau mang lại cho học viên một môi trường phiên dịch thực sự. Học viên được áp dụng ngay kiến thức thực tiễn thông qua các trang thiết bị hiện đại như cabin, tai nghe… để thực hành và luyện khả năng dịch đồng thời của mình.

    Mục tiêu học Phiên Dịch Cabin:

    Trang bị cho học viên kiến thức cũng như kỹ năng phiên dịch simultaneous (dịch cabin)

    Tạo môi trường phiên dịch thực sự và chuyên nghiệp (có trang bị booth và headphone)

    Học viên có cơ hội thực hành tại các buổi hội thảo, workshop, … và học hỏi kinh nghiệm từ các phiên dịch viên chuyên nghiệp.

    Chi tiết liên hệ Trung tâm Ngoại Ngữ Báo Chí, 116-118 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, Tp.Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Muốn Tìm Vợ Việt, Thầy Giáo Việt Kiều Kenny Nguyễn Tham Gia ‘offline Bạn Muốn Hẹn Hò’
  • Trung Tâm Dạy Tiếng Trung Cho Trẻ Em
  • Gia Sư Tiếng Hàn Cấp Tốc Tại Vũng Tàu
  • Từ Vựng Tiếng Hàn Chủ Đề Y Học, Bênh Tật.
  • Học Tiếng Hàn Tại Nhà Củ Chi
  • Đôi Chân Diệu Kỳ Của Cô Học Trò Người Dân Tộc Sán Dìu

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Tộc Dao Ở Việt Nam
  • Người Thiểu Số Còn Ai Nói Tiếng Dân Tộc Mình?
  • Khi Giáo Viên Được Học Tiếng Dân Tộc
  • Dân Tộc Tiếng Anh Là Gì?
  • Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?
  • Nhìn những nét chữ đẹp đẽ, ngay ngắn trên những trang vở sạch sẽ, thỉnh thoảng lại có dòng bút đỏ “Cô khen”, ít ai có thể tưởng tượng được, chúng được viết ra từ đôi chân của cô bé khuyết tật Linh Thị Hồng.

    Nét chữ được viết bằng chân của em Linh Thị Hồng

    Quan sát một giờ học thông qua camera tại lớp, không khỏi xúc động khi chứng kiến tư thế ngồi học đầy vất vả của Linh Thị Hồng – lớp 3A2 Trường Tiểu học Ngọc Thanh C (Phúc Yên, Vĩnh Phúc). Do viết bằng chân nên trong lớp, Hồng được bố trí ngồi chiếu, gần bục giảng.

    Em rất chăm chú nghe cô hướng dẫn, miệt mài ghi chép bài vào vở. Chân phải luôn kẹp chiếc bút máy, khi viết, em phải cúi khom lưng, rạp người về phía trước, mặt chỉ cách trang vở khoảng 30cm, chân cẩn thận đưa từng nét chữ tròn trịa.

    Tư thế ấy, cộng với thời tiết nắng nóng cao điểm của tháng 6, lớp học tầng 2 không có điều hòa, gương mặt lấm tấm mồ hôi nhưng dường như, khó khăn từ ngoại cảnh không làm lay động tâm trí em.

    Các thao tác như viết, đặt thước kẻ bài, thay mực cho bút máy, lấy và mở sách vở… được em thực hiện bằng hai chân hết sức nhẹ nhàng, thuần thục. Cô bé thực hiện mọi yêu cầu của cô giáo với sự nhẫn nại và hiệu suất cao nhất.

    Linh Thị Hồng ngồi chiếu nghe cô giảng bài

    Kiên trì, bền bỉ

    Linh Thị Hồng là người dân tộc Sán Dìu. Ngôi trường em học nằm trên địa bàn xã miền núi duy nhất của thành phố Phúc Yên với gần nửa (147/312) học sinh là người dân tộc thiểu số.

    Theo cô giáo Đỗ Thị Thanh Vân – Hiệu trưởng, Hồng là học sinh khó khăn nhất trong sinh hoạt và học tập, vì từ khi sinh ra, em đã dị tật 2 cánh tay. Ẩn sau vẻ ngoài ít nói, là một cô bé đầy nghị lực, thông minh, hiếu học.

    Hồng cặm cụi bên trang viết

    Sinh năm 2007, đáng lẽ Hồng đã học lớp 7, nhưng do bệnh tật, sức khỏe yếu nên 10 tuổi, em mới bắt đầu học lớp 1.

    Nhớ lại quãng thời gian đồng hành cùng con gái đầu lòng ở viện nhiều hơn ở nhà, anh Linh Văn Ba – bố của Hồng cho biết, em bị bệnh về tiêu hóa, có năm phải mổ 4 lần.

    Năm 2022, khi ấy Hồng 8 tuổi, “địa chỉ thường trú” của 2 bố con là Bệnh viện Nhi trung ương. Nằm viện lâu, các bác sĩ động viên bố đưa em xuống lớp trẻ của bệnh viện để chơi cho “đỡ chán”. Ở đó có nhiều đồ chơi, sách truyện, cô bé khuyết tật đã tỏ ra rất thích thú.

    Khi đỡ bệnh, trở về nhà, Hồng được đi học mẫu giáo. Đến khi em trai thứ hai của Hồng chuẩn bị vào lớp 1, thấy bố mẹ kèm em tập tô chữ, Hồng đòi bố mẹ cho học cùng.

    “Con thích viết và tự rèn luyện, tự học. Nét nào viết sai hay chưa đẹp, con tự sửa lại ngay. Trải qua thời gian, dưới sự chỉ bảo của các cô giáo, con đã có được nét chữ sạch đẹp như ngày hôm nay” – anh Linh Văn Ba chia sẻ.

    Không chỉ viết chữ đẹp, vẽ đẹp, Hồng còn yêu thích làm đồ thủ công, may vá.

    Thời gian rảnh, Hồng tự cắt may quần áo búp bê – Ảnh: Gia đình cung cấp

    Cô giáo Hiệu trưởng cho biết, nhà trường sẽ giúp Hồng tăng khả năng giao tiếp, tự tin để năm học tới đưa em tham dự giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh dân tộc thiểu số. Cô tin tưởng, Hồng sẽ tỏa sáng.

    Lớp học của tình yêu thương

    Gây ấn tượng bằng nét chữ, nhưng theo cô giáo chủ nhiệm Hoàng Thị Nhàn, Toán là môn học nổi bật nhất của Linh Thị Hồng. Có lẽ, là học sinh lớn tuổi nhất lớp nên em có sự tập trung, tiếp thu và tính toán rất nhanh, luôn nằm trong nhóm học tốt của lớp.

    Bạn Lã Thị Thanh Thúy cùng lớp cho biết, do Hồng học tốt nên vài lần chưa hiểu bài Toán, em thường đem hỏi Hồng.

    Các bạn học sinh còn vui vẻ khoe, cô giáo chủ nhiệm rất quan tâm đến Hồng, thường gọi bạn trả lời câu hỏi hay đọc bài. Theo phân công của cô, hàng ngày, các bạn trong lớp trải và cất chiếu cho Hồng trước và sau mỗi buổi học; giúp đeo khăn quàng và dẫn bạn đi vệ sinh.

    Bạn Hồ Ngọc Phương Trinh kể, giờ ra chơi, các bạn thường rủ Hồng xuống sân, lúc thì chơi nhảy dây, lúc thì lên thư viện đọc sách, truyện. “Em luôn kể chuyện về Hồng cho bố mẹ nghe khi về nhà”.

    Được biết, vài năm trước, gia đình Hồng thuộc diện hộ nghèo (nhà có 3 con nhỏ, riêng Hồng thường xuyên ở viện). Hiện nay, do mẹ em đi làm công nhân, thu nhập bình quân của gia đình đã thoát mức nghèo. Hồng được hưởng trợ cấp khuyết tật hơn 900.000 đồng/tháng, đồng thời, được miễn giảm các khoản đóng góp khi học tập.

    Nguyễn Nga

    Lên 4 tuổi, cậu học sinh nghèo Trần Việt Hoàng hỏng võng mạc dẫn đến bị mù. Nghị lực phi thường đã biến cuộc đời em thành ánh sao sáng trong đêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Lưu Giữ Chữ Thái Bằng Công Nghệ Thông Tin
  • Cách Học Tiếng Thái Hiệu Quả Và Nhanh Chóng
  • Gdth Tổ Chức Dạy Học Thực Nghiệm Tiếng Dân Tộc Thái Lớp 1 Tại Trường Th&thcs Xã Sam Mứn
  • Bàn Về Việc Học Tiếng Thái
  • Ứng Dụng Học Chữ Thái Của Chàng Trai Dân Tộc Thái
  • Ips: Viện Dược Lý Học Của Sherbrooke

    --- Bài mới hơn ---

  • (Cc) Ghi Nhớ Dược Lý Miễn Phí Trò Chơi Video Giảng Dạy Và Tự Học Trang Web Giới Thiệu
  • Nữ Hộ Sinh Trong Tiếng Anh Gọi Là Gì?
  • Cách Xưng Hô Trong Tiếng Anh
  • Học Tủ Là Gì? Những Ảnh Hưởng Của Học Tủ Trong Học Tập
  • Bài Văn Nghị Luận Về Học Vẹt, Học Tủ, Học Chay, Học Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay
  • IPS có nghĩa là gì? IPS là viết tắt của Viện dược lý học của Sherbrooke. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Viện dược lý học của Sherbrooke, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Viện dược lý học của Sherbrooke trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của IPS được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài IPS, Viện dược lý học của Sherbrooke có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    IPS = Viện dược lý học của Sherbrooke

    Tìm kiếm định nghĩa chung của IPS? IPS có nghĩa là Viện dược lý học của Sherbrooke. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của IPS trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của IPS bằng tiếng Anh: Viện dược lý học của Sherbrooke. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, IPS được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Viện dược lý học của Sherbrooke. Trang này là tất cả về từ viết tắt của IPS và ý nghĩa của nó là Viện dược lý học của Sherbrooke. Xin lưu ý rằng Viện dược lý học của Sherbrooke không phải là ý nghĩa duy chỉ của IPS. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của IPS, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của IPS từng cái một.

    Ý nghĩa khác của IPS

    Bên cạnh Viện dược lý học của Sherbrooke, IPS có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của IPS, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Viện dược lý học của Sherbrooke bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Viện dược lý học của Sherbrooke bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Dược Liệu Là Gì ?
  • Từ Vựng Và Thuật Ngữ Tiếng Anh Chuyên Ngành Dược
  • Tỏ Tình Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Những Thành Ngữ Đặc Biệt Trong Tiếng Anh Mà Du Học Sinh Phải Biết
  • Đặc Điểm Tiếng Anh Chuyên Ngành Dược Học Trong Sự Đối Chiếu Với Tiếng Việt Tt
  • Tự Học Tiếng Khmer Qua Tài Liệu Pdf Vô Cùng Hữu Ích

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình Học Bổng Phát Triển New Zealand (New Zealand Scholarships) Năm 2022
  • Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc Ở Lào Cai
  • Tự Học Tiếng Thái Cho Người Mới Bắt Đầu Chính Hãng
  • Học Tiếng Thái Tại Nhà Ninh Kiều
  • Gia Sư Tiếng Thái Lan Ngoại Ngữ Tại Cần Thơ, Trung Tâm Gia Sư Alpha
  • Tài liệu:

    Bài 1

      GIAO TIẾP

     Chào : Xốc-xop bai, Cô-rúp xua, Xua x’đây, Chum-riêp xua.

     Tiếng dùng để chào có nhiều như trên, nhưng thông thường lúc gặp nhau thì dùng tiếng Xốc-xơp-bai có nghĩa là bình an, vui vẻ. Khi chào thì chấp hai tay đưa lên ngực. Khi chào những người già hay ở nơi đông người như hội nghị, mít tinh thì dùng tiếng Cô-rúp xua hay Chum-riêp xua. Lúc chào cũng chấp hai tay đưa lên ngực (chào sư sãi thì dùng tiếng khác- sẽ giới thiệu ở phần sau).

     Cảm ơn : Or-cun

     Xin : Xôm

     Xin lỗi : Xôm tôs hoặc Xôm ót- tôs.

     Xin thứ lỗi, tha lỗi : Xôm-ạs-phây-tôs

     Mời : Onh-chơnh

     Mời ngồi : Onh-chơnh oòng-cui.

     Dạ, vâng : Bat, Chas (tiếng bat và chas đều có nghĩa là dạ, vâng, nhưng nam giới dạ thì dùng tiếng Bat, nữ giới dạ dùng tiếng Chas).

     Chào anh (chị) bình an, vui vẻ : Xốc-xop bai boong (Câu này cũng được hiểu là khỏe không anh).

     Tạm biệt các bạn : Xôm lia bon-đa mưt hoặc Xôm chùm-riêp lia bon-đa mưt.

     Xin tạm biệt anh : Xôm chum-riêp lia.

               Nếu nói với người lớn hơn và kính trọng ta dùng Xôm cô-rup lia

     Mời anh uống nước : Onh-chơnh boong phâc tưc.

     Nhà vệ sinh ở phía sau : Bòn-túp tưc nâu khang c’roi.

     Anh vui lòng chờ một chút : Boong mê-ta chăm bòn-têch.

     Chúng ta đi : Dơng chênh đòm-nơ.

     Bài 2

      XƯNG HÔ

     Tôi : Kh’nhum (Kh’nhum)

     Cha  : Âu hoặc Âu-púc hoặc Bây-đa (Từ thường dùng là Âu-púc)

     Mẹ : Me hoặc M’đai hoặc Mia-đa

     Cha vợ : Âu-púc kh’mêc khang pro-pun

     Mẹ vợ : M’đai kh’mêc khang pro-pun

     Mẹ chồng : Âu-púc Kh’mêc khang p’đây

     Trai : P’rôs .

     Con gái : Côn-x’rây hoặc Bôt-t’rây [3]

     Cháu : Chau 

     Cháu (xưng hô) : Kh’muôi

     Ông bà gọi cháu nội, cháu ngoại, thì dùng tiếng Chau. Còn khi ta gọi các em nhỏ cỡ tuổi con cháu mình hoặc con của anh, chị, em mình thì dùng tiếng Kh’muôi. Khi viết hay nói trước quần chúng : Chúng ta phải hành động cho xứng đáng con cháu Bà Trưng, Bà Triệu thì tiếng con cháu ở đây phải dùng tiếng Côn Chau, 

     

    Ví dụ : Puốc dơng t’râu thuơ oi xom chia côn chau rô-bos đôn Trưng, đôn Triệu.

     Cô (gái chưa chồng) : Niêng cro mum hoặc Niêng canh-nha

     Hài nhi : Tia-ruôc (téa-rok)

    Thiếu nhi : Cô-mar

     Nam thiếu nhi : Cô-ma ra

     Nữ thiếu nhi : Cô-ma-rây.

     Nam thiếu niên : Cô-mar chum-tuông

     Thiếu nữ : Cô-ma-rây chum tuông.

     Thanh niên : Du-văn hoặc Du-vec-chun

     Thanh nữ : Du-vec-tây hoặc Du-vec-nia-ri

     Ông : Lôôc (Lok)

     Tiếng Lôôk để chỉ những người lớn tuổi, người có chức tước.

     Ví dụ : Ông chủ tịch : Lôôc prothiên; Ông sư (tiểu đồng người giữ chùa) : Lôôc nên; Ông bác : Lôôc um…

     Bà : Lôôc x’rây hoặc Nec x’rây hoặc Lôôc Chum-tiêu

     (Tiếng Lôôc Chum-tiêu dùng để chỉ các phụ nữ có chức tước, giống như tiếng Madame của Pháp)

     Ví dụ : Bà Phó Thủ tướng : Lôôc Chum-tiêu Up-pạk-nia-duôc Rot-mun-t’rây.

                 Bà Bộ trưởng : Lôôc Chum-tiêu Rót-mun-t’rây.

     Ngài : Ec-âu-đom (còn đọc là Ec Út-đom).

     Ví dụ: Ngài Tỉnh trưởng : Ec-ut-đom Ạ-phi-pal khet.

     Ông cụ : Ta (Lôôk tà)

     Bà cụ : Di-ây (tiếng di-ây đọc nhanh, dính nhau nghe như Dây)

     Chúng ta : Puôc-dơng hoặc Dơng

     Chúng tôi : Dơng Kh’nhum

     Nó : Via

     Thằng : A (còn đọc là À)

     Ví dụ: A Ba tâu na bắt hơi = Thằng Ba đi đâu mất tiêu rồi.

     Ông ấy (ổng), bà ấy (bả), anh ấy (ảnh) : Coat (Dùng chung cho ngôi thứ ba số ít). Riêng chữ Hắn gọi là Kê.

     Gia đình : Crua-xar (Tiếng crua-xar còn có nghĩa là vợ chồng).

     Anh (chị) đã có vợ (chồng) chưa? : Boong miên cru-xar tôôch (nhỏ) hơi nâu?

     Ông chú di đâu đó : Lôôc pu onh-chơnh tâu na? (Tiếng onh-chơnh dùng ở đây để tỏ sự kính trọng đối với những người lớn).

     Cháu đi đâu đó? : Kh’muôi tâu na? (Ở đây không dùng tiếng onh-chơnh vì người mình hỏi thuộc hàng con, cháu).

     Anh (chị) có mấy người con : Boong miên côn pôn-man nec.

    Tôi có 03 con, hai trai, một gái : Kh’nhum miên côn bây: prôs pir, x’rây muôi hoặc nói : Kh’nhum miên bôt bây : bôt t’ra pir, bôt-t’rây muôi.

     Anh là con thứ mấy trong gia đình? Boong chia côn ti bôn

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Giảng Các Lớp Tiếng Trung Tháng 9
  • Tổng Hợp Tài Liệu Để Học Tiếng Hàn Hot Nhất Hiện Nay
  • Trung Tâm Hàn Ngữ Ở Vĩnh Phúc Uy Tín, Chất Lượng
  • Dạy Kèm Tiếng Hàn Tại Vĩnh Phúc
  • Lớp Học Tiếng Hàn Ở Quảng Ninh
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1 Sách Chân Trời Sáng Tạo (Trọn Bộ Cả Năm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sgk Tiếng Việt Mới Thay Đổi Cách Dạy Chữ Cho Học Sinh Lớp 1 Thế Nào?
  • Lưu Ý Quan Trọng Với Phụ Huynh Có Con Vào Lớp 1 Năm 2022, Năm Đầu Tiên Áp Dụng Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Cách Đánh Vần Lạ Trong Sách Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1
  • Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Theo Sách Công Nghệ Giáo Dục, Giáo Viên Nói Gì?
  • Tập Huấn Bộ Sách Giáo Khoa (Sgk) Lớp 1 Cánh Diều Tại Các Cơ Sở Giáo Dục: Những Phản Hồi Tích Cực
  • Giáo án Tiếng việt theo chương trình GDPT mới

    Giáo án Tiếng việt bộ sách Chân Trời Sáng Tạo

    1. Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo bài A a

    CHỦ ĐỀ 1: NHỮNG CHỮ CÁI ĐẦU TIÊN BÀI 1: A a

    Các hoạt động chủ yếu:

    1. Hoạt động 1: Khởi động (5 – 7 phút)

    – Mục tiêu: Nói được những tiếng có chứa âm a

    + GV chiếu các tiếng (hoặc các thẻ từ) mà HS tìm được.

    + HS tìm điểm giống nhau giữa các tiếng đã tìm được (VD: bà, ba, má, lá,…- đều có âm a) àHS phát hiện âm chữ mới sẽ học.

    + HS lắng nghe GV giới thiệu vào bài học và quan sát chữ ghi tên bài.

    – Thiết bị dạy học: Tranh trong SGK/10.

    – Phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá: GV đánh giá HS, HS đánh giá lẫn nhau.

    2. Hoạt động 2: Nhận diện âm a (5 phút)

    – Mục tiêu: Đọc được chữ a.

    – Phương pháp: trực quan, làm mẫu.

    – Hình thức tổ chức: Trò chơi “Ai nhanh hơn”

    + GV chiếu slide bảng chữ cái in thường, yêu cầu HS tìm chữ a trong vòng 5 giây.

    + GV hướng dẫn HS cách đọc âm a.

    + HS đọc theo hình thức cá nhân, nhóm, lớp.

    + GV giới thiệu chữ A in hoa.

    – Thiết bị dạy học: Bảng chữ cái, thẻ chữ a in thường, A in hoa.

    – Phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá: GV đánh giá HS, HS đánh giá lẫn nhau.

    3. Hoạt động 3: Tập viết chữ a, số 1 (7- 10 phút)

    – Mục tiêu: Viết được chữ a, số 1 đúng yêu cầu vào bảng con và vở tập viết (VTV)

    – Phương pháp: Làm mẫu, thực hành – luyện tập.

    – Hình thức tổ chức: cá nhân.

    – GV giới thiệu con chữ a.

    – HS so sánh a in thường và a viết thường.

    – Gv hướng dẫn quy trình viết.

    a) Viết vào bảng con:

    + HS viết không trung.

    + HS viết chữ, số vào bảng con.

    + HS nhận xét bài viết của mình và bạn, sửa lỗi nếu có.

    b) Viết vào VTV:

    + HS viết chữ a, số 1 vào VTV.

    + HS nhận xét bài viết của mình và bạn, sửa lỗi nếu có.

    – Thiết bị dạy học: bảng chữ viết mẫu.

    – Nhóm 1: Nói được tên các đối tượng có chứa âm a trong bài.

    – Nhóm 2: Nói được tên các đối tượng có chứa âm a trong bài, ngoài bài.

    – Nhóm 3: Nói được câu có chứa âm a dựa vào các đối tượng trong bài.

    Trò chơi: “Đoàn tàu lửa”

    HS nối tiếp nhau nói được câu có chứa âm a.

    2. Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo bài EO – AO

    Chuyên đề 2. Chủ đề 7 . Bài: EO – AO Thời lượng: 2 tiết I. MỤC TIÊU

    Giúp HS:

    b) Quan sát tranh khởi động, biết trao đổi về các sự vật, hoạt động, trạng thái được vẽ trong tranh có tên gọi chứa vần ao,eo (nhảy sào, đi cà kheo, leo núi nhân tạo…)

    • Nhận diện sự tương hợp giữa âm và chữ của vần ao, eo. Đánh vần và ghép tiếng chứa vần có bản âm cuối “o”, hiểu nghĩa của các từ đó.
    • Viết được các vần ao, eo và các tiếng, từ ngữ có các vần eo, ao.
    • Đánh vần, đọc trơn, hiểu nghĩa các từ mở rộng: đọc được đoạn ứng dụng và hiểu nghĩa của đoạn ứng dụng mức độ dơn giản.

    II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN, HỌC SINH Giáo viên:

    SHS, SGV , VTV

    Thẻ từ các vần ao, eo

    GV có thểc huẩn bị thêm bản nhạc bài hát Con cào cào hoặc bài Tập thể dục buổi sáng

    Học sinh:

    – Thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu giáo viên giao từ tiết học trước.

    – Sách học sinh.

    III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC Tiết 1. 1. Ổn định 2. Kiểm tra bài cũ:

    Gọi hs đọc đoạn văn sgk trang 68.

    Gọi 2 Hs nói câu chứa tiếng có vần ia, ua

    Y/cầu Hs kể các con vật có trong sở thú.

    Hs nhận xét bạn.

    GV nhận xét kiểm tra bài cũ.

    3. Bài mới: 4. Củng cố :

    Gọi Hs đọc lại bài,

    5. Dặn dò :

    Chuẩn bị tiết 2.

    Tiết 2 1 .Ổn định 2. Kiểm tra bài cũ:

    Gọi Hs đọc lại bài.

    3. Bài mới: 4. Củng cố:

    Gọi Hs đọc lại bài.

    – Hs tìm tiếng chứa vần mới học ..có thể cho thi tìm giữa các tổ..

    – Nhận xét tiết học.

    5. Dặn dò:

    Về đọc bài và chuẩn bị bài mới au- êu..

    CHỦ ĐỀ 16: ƯỚC MƠ BÀI 5: ÔN TẬP (2 tiết)

    Giúp học sinh:

    • Củng cố được các vần: iêc, uôc, ươc, iêt, yêt, uôt,ươt,iên,yên,uôn,ươn.
    • Sử dụng được các vần đã học trong tuần để ghép tiếng mới.
    • Đánh vần tiếng có vần được học trong tuần, đọc trơn bài “ước mơ của em”.
    • Thực hiện đúng bài viết chính tả.
    • Viết đúng cụm từ ứng dụng.

    II. Phương tiện dạy học:

    – SHS, VTV, VBT, SGV.

    – Một số tranh ảnh (phi công, cô giáo…).

    – Bảng phụ dùng ghi các nội dung cần rèn đọc.

    – HS đọc câu, đoạn, viết từ ngữ; nói câu có từ ngữ chứa tiếng có vần mới được học ở bài 4.

    2. Ôn tập các vần được học trong tuần:

    – HS mở SHS trang 168

    – HS nghe GV giới thiệu bài ôn tập

    – HS đọc các vần vừa học trong tuần.

    – HS tìm điểm giống nhau giữa các vần: iêc, uôc, ươc / yêt, iêt, uôt, ươt/ iên, yên, uôn, ươn.

    – HS tìm điểm khác nhau giữa các vần: iêc, uôc, ươc / yêt, iêt, uôt, ươt/ iên, yên, uôn, ươn.

    – HS tìm từ ngữ có tiếng chứa vần: iêc, uôc, ươc, iêt, yêt, uôt, ươt, iên, yên, uôn, ươn

    – HS nói câu có từ ngữ có tiếng chứa vần: iêc, uôc, ươc, iêt, yêt, uôt, ươt, iên, yên, uôn, ươn.

    * Nghỉ giải lao 3. Luyện đọc:

    – HS nghe GV đọc bài “ước mơ của em”

    – Tìm tiếng trong bài “ước mơ của em” có vần đã học trong tuần.

    – HS đánh vần và đọc trơn các tiếng có vần được học trong tuần (ước, được, biếc, lượn, hiền, luôn, vượt, tiên, vuốt, biết).

    – HS lắng nghe GV đọc mẫu “ước mơ của em”

    – HS đọc thành tiếng bài đọc.

    – GV yêu cầu HS đọc 2 khổ thơ đầu và trả lời câu hỏi : Bạn nhỏ ước mơ lớn lên sẽ làm gì? (chú phi công, cô giáo).

    – GV cho HS xem tranh chú phi công đang lái máy bay và cô giáo đang giảng bài.

    – GV yêu cầu HS đọc khổ thơ 3 và trả lời câu hỏi : Mẹ bạn nhỏ đã khuyên con điều gì? (biết ước mong, biết cần cù, cố gắng).

    Tiết 2

    – GV chuyển ý sang tiết 2

    – HS đánh vần các tiếng, từ có trong cụm từ ứng dụng “cần biết ước mơ”

    (GV gợi ý HS giải thích nghĩa của cụm từ hoặc GV giải thích nghĩa của cụm từ ).

    – HS tìm từ có chứa vần đã học trong tuần (ước, biết).

    – GV hướng dẫn HS cách viết cụm từ “cần biết ước mơ”.

    – HS quan sát cách GV viết và phân tích hình thức chữ viết của tiếng trong cụm từ.

    – HS đọc trơn cụm từ ứng dụng; viết cụm từ ứng dụng vào vở.

    4. Luyện viết chính tả

    – GV viết hai dòng thơ cuối lên bảng. HS nhìn bảng viết vào vở chính tả.

    – GV hướng dẫn HS soát lỗi bài viết (sửa lỗi nếu có).

    – HS tự đánh giá bài làm cuả mình.

    – GV nhận xét bài viết của của HS.

    – HS tham gia hát/ đọc đồng dao, đọc thơ nói về ước mơ.

    * GV giáo dục HS: Cần biết ước mơ, những ước mơ đẹp, bản thân phấn đấu học tập giỏi để sau này có thể biến những ước mơ của mình thành hiện thực.

    6. Củng cố – dặn dò:

    – HS nhận diện lại tiếng / từ chứa vần vừa được ôn tập, nhắc lại mô hình vần được học.

    – Hướng dẫn HS đọc, viết thêm ở nhà, ở giờ tự học, hướng dẫn HS đọc mở rộng.

    – HS biết chuẩn bị cho tiết học sau (Kể chuyện giấc mơ của một cậu bé).

    4. Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo bài Câu chuyện về chú gà trống choai

    CHUYÊN ĐỀ 4 (CHỦ ĐỀ 21) TIẾT: XEM – KỂ BÀI 4: CÂU CHUYỆN VỀ CHÚ GÀ TRỐNG CHOAI I. MỤC TIÊU

    Giúp học sinh:

    4. Bày tỏ cảm xúc của bản thân với từng nhân vật trong câu chuyện.

    5. Biết điều chỉnh âm lượng giọng kể của bản thân khi kể trong nhóm nhóm nhỏ và trước cả lớp.

    6. Bồi dưỡng phẩm chất kiên trì với mục tiêu/mong ước của bản thân.

    II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

    – SHS, SGV.

    III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1. Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:

    – HS hát bài đàn gà con.

    – Tiết kể chuyện trước, ta kể câu chuyện gì? (Vượt qua nổi sợ)

    – HS1: Câu chuyện kể về ai và cái gì? (Bạn Liên và việc vượt qua nổi sợ độ cao của bạn ấy)

    – HS2: Em thấy bạn Liên có điểm gì đáng khen?

    – HS3: Em thích chi tiết nào nhất? Vì sao?

    – GV nhận xét bài cũ.

    4. Củng cố, dặn dò:

    – Ta vừa kể câu chuyện gì?

    – Em thích chi tiết nào nhất? Vì sao?

    – Nhận xét tiết học.

    – Tập kể lại cho người thân nghe khi ở nhà.

    – Chuẩn bị tiết học sau, bài: Mưa.

    5. Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo bài Những bông hoa nhỏ

    Bài: Thực hành (1 tiết) I. MỤC TIÊU: 1. Phẩm chất:

    Bồi dưỡng phẩm chất nhân ái, biết chia sẻ, giúp đỡ cha mẹ ông bà và phầm chất tự tin về khả năng của bản thân thông qua hoạt động.

    2. Năng lực: a. Năng lực chung:

    – Năng lực tự chủ và tự học: Học sinh đọc trơn được một văn bản thơ đồng dao. Chỉ ra từ chỉ hoạt động có trong bài đồng dao và đặt câu có chứa từ chỉ hoạt động vừa tìm được.

    – Phát triển năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thông qua việc thực hiện các bài tập.

    b. Năng lực đặc thù: – Năng lực ngôn ngữ:

    + Đọc: Đọc trơn được một văn bản thơ đồng dao.

    + Nói: Phát triển lời nói theo nội dung yêu cầu.

    + Viết: Viết sáng tạo dựa trên những gì đã nói thành câu văn viết theo mẫu câu Em có thể….

    II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:

    – VBT, SGV.

    – Bảng phụ ghi các từ ngữ, câu cần thực hành.

    1. Ổn định lớp:

    – Lớp trưởng khởi động cho các bạn múa hát theo bài hát: “Em là hoa hồng nhỏ”.

    2. Kiểm tra bài cũ:

    – Tiếng việt tiết trước học bài gì? (Bài: Như bông hoa nhỏ). Hs nhận xét.

    – Gọi Hs đọc bài ở SGK:

    + Hs đọc bài Như bông hoa nhỏ trong sách giáo khoa. Hs nhận xét. Gv nhận xét.

    + Hs trả lời câu hỏi: Bông hoa nhỏ trong bài thơ là ai? Hs nhận xét. Gv nhận xét.

    – Nhận xét chung phần kiểm tra bài cũ và tuyên dương.

    3. Bài mới:

    – Tiết Tiếng việt hôm nay học nội dung gì?

    – Em thích nhất nội dung nào?

    – Bạn nào cho cô biết em có thể làm những gì để phụ giúp cha mẹ?

    – Gọi hs đọc lại bài trên bảng.

    5. Dặn dò:

    – Gv nhận xét tiết học.

    – Về nhà xem trước bài: Kể chuyện về chú Trống choai (trang 34).

    6. Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo bài Cá Bò

    – Trả lời câu hỏi về nội dung bài học liên hệ bài học trong câu chuyện với bản thân.

    – Sử dụng âm lượng phù hợp khi kể

    – Bày tỏ cảm xúc của bản thân với các nhân vật trong câu chuyện.

    – Bồi dưỡng phẩm chất nhân ái, chăm chỉ.

    II/ Phương tiện dạy học:

    – SHS, SGV

    III/ Hoạt động dạy học: 1/ Hoạt động 1: Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ.

    – Cho HS hát bài: Ngày đầu tiên đi học. Có thể hỏi 1 số câu hỏi để học sinh nêu lên suy nghĩ của mình về những ngày đầu đi học.

    – Cho HS đọc, viết, nói câu từ/ câu chứa các âm a, b, c, o và các dấu.

    – HS nhận xét bạn – GV nhận xét

    2/ Khởi động: Cho HS chơi trò chơi nhỏ: Ai nhanh, ai đúng. Xem tranh 1 số loại cá. HS nêu tên từng loại cá đó. Tuyên dương. GV dẫn dắt vào câu chuyện. HS đọc tên truyện – GV ghi tựa bài, gọi HS nhắc lại.

    (Do đây là bài kể chuyện đầu tiên nên GV cần hướng dẫn kỹ hơn

    VD: Nên quan sát theo thứ tự các tranh từ 1đến 4, chú ý đến các nhân vật trong

    từng tranh, tranh vẽ những con vật gì? Con cá nào xuất hiện trong cả 4 bức tranh? Có những chuyện gì xảy ra với cá bò con?….)

    4/ Hoạt động 4: Luyện tập nghe kể và kể chuyện

    + GV kể 2 lần

    – Lần 1: Kể toàn bộ nội dung câu chuyện, GV sử dụng các câu hỏi kích thích sự chú ý, tạo hứng thú, tò mò muốn nghe câu chuyện ở HS.

    VD: Liệu cá bò có học bài như lời mẹ dặn không? Cá bò và cá cờ sẽ gặp những gì trên đường đi?…

    – GV lưu ý HS lắng nghe để liên hệ nội dung câu chuyện với những phỏng đoán lúc đầu của mình

    – Lần 2: GV kể kết hợp tranh.

    – GV lưu ý HS lắng nghe để nhớ nội dung từng đoạn

    – Kể trước lớp: Trong từng tổ, mỗi nhóm cử 1 bạn lên kể. GV lưu ý HS kể với âm lượng to hơn để cả lớp cùng nghe.

    – Cho HS nhận xét bạn kể – GV nhận xét

    – Tìm hiểu nội dung và liên hệ

    – GV nêu 1 số câu hỏi để giúp HS nhớ nội dung câu chuyện, nhận xét, đánh giá về các nhân vật và liên hệ bài học từ câu chuyện với bản thân.

    VD: Cá bò mẹ dặn cá bò con và cá cờ những việc gì? Trong câu chuyện, em thích nhân vật nào nhất? Vì sao? Khi đi chơi xa em phải làm những gì?…

    5/ Hoạt động 5: Củng cố dặn dò.

    – GV hỏi để HS nhắc lại tên truyện, các nhân vật và nhân vật em thích.

    – Đọc và kể thêm ở nhà.

    – Chuẩn bị bài sau.

    Lưu ý: Đã cập nhập Giáo án Tiếng Việt lớp 1 sách Chân Trời Sáng Tạo (Trọn bộ cả năm), mời các thầy cô tải file về để xem đầy đủ nội dung.

    Mời các bạn tham khảo các bài khác trong mục Tài liệu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Tiếng Việt Lớp 1 Bộ Sách Cánh Diều (Trọn Bộ Cả Năm)
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1 Sách Cánh Diều (Trọn Bộ Cả Năm)
  • Dạy Mẫu Âm Trong Chương Trình Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1
  • Thiết Kế Bài Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 1 (Chương Trình 2022)
  • Tiếng Việt Gốc Khmer Trong Ngôn Ngữ Của Miền Tây Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Tùng Hiếu. Tiếng Việt Nam Bộ: Lịch Sử Hình Thành Và Các Đặc Trưng Ngữ Âm
  • Lai Rai Cùng Phương Ngữ Nam Bộ
  • Giáo Án Địa Lý 4 Bài 19: Hoạt Động Sản Xuất Của Người Dân Ở Đồng Bằng Nam Bộ
  • Bộ Phận Cơ Thể Người Trong Tiếng Trung
  • Học Nhanh 214 Bộ Thủ Chữ Hán Qua Thơ (P1) 32 Bộ
  • Khu vực miền Tây Nam Bộ có rất nhiều người sử dụng tiếng Khmer vì vậy tiếng Khmer đã được Việt hóa. Mời các bạn tham khảo bài viết, được sưu tập bởi giáo viên tiếng Khmer của trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina.

    Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ bình dân ở miền Tây Nam Bộ – Nhìn từ góc độ ca dao:

    1. Những tiếng Khmer còn giữ nguyên gốc trong tiếng Việt.

    Sim lo (hay sum lo) là món canh của người Khmer nấu bằng bầu, hay lá bình bát dây, đặc biệt nó được nêm bằng mắm bò hóc (prahok), đây là từ người Việt mượn nguyên mẫu để sử dụng.

    Vai mang cái nóp tay xách cái lọp cái lờ

    Cái lộp theo tiếng Khmer là dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lộp có hom bện bằng tre vót cỡ chiếc đũa ăn, hình phễu, cá tôm, rùa rắn vào được nhưng không thể ra. Nông dân miệt này ai cũng biết, cũng dùng lộp để bắt thuỷ sản.

    2. Những từ Khmer được Việt hoá.

    Từ tiếng Khmer nhưng khi đi vào tiếng Việt, người Việt, người Hoa có cách phiên âm của riêng mình. Dần dần nó bị chuyển cả về hình thức ngữ âm, lớp từ này khá phổ biến trong ngôn ngữ bình dân vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Có điều người ta nói, người ta viết nhưng ít khi chú ý nguồn gốc của nó có từ đâu.

    Cà Mau khỉ khọt trên bưng

    Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là Tuk Khmau, nghĩa là nước đen mà thành. Nguyên cớ là vùng rừng U Minh gồm Cán Gáo, Tân Bằng, Trèm Trẹm, Cái Tàu và phía bên hữu ngạn sông Ông Đốc, nước ngập quanh năm, nước tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn nên nước màu vàng đậm như nước trà, nhiều khi đen, có mùi hôi và vị phèn chua, mặn.

    Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng,

    Theo Lê Hương thì Sóc Trăng là do tiếng Khmer đọc trại ra từ chữ Srok Tréang có nghĩa là bãi sậy vì ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều lau sậy hoang vu. Ông còn nêu truyền thuyết khác, theo đó thì đất này (tại ấp Sóc Vồ ngày nay) vào thời Nguyễn, giặc Xà Na Téa và Xà Na Tua dùng làm kho chứa bạc, kho chứa vũ khí, kho chứa lương thực chống lại triều đình. Do đó Sóc Trăng là do chữ Srok Kh’leang đọc trại mà ra.

    Vương Hồng Sển lại cho rằng: Theo quyển Petit Cours de Géographie de la Basse Cochinchine par Trương Vĩnh Ký thì Sốc Trăng (Sóc Trăng) là tên dân gian của Nguyệt Giang tỉnh (tỉnh Sông Trăng). Tên này có nguồn gốc Khmer là Péam prêk sròk khlẵn (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac).

    Péam là vàm, prêk là sông, sròk là sốc, khlẵn (kh’leang) là kho bạc. Nguyên đời vua Cơ Me (Khmer) có đặt một kho chứa bạc nơi đây. Đến đời vua Minh Mạng, đổi tên chữ ra Nguyệt Giang tỉnh vì triều đình đã ép chữ sốc biến ra chữ sông, chữ kh’leang ra trăng và đổi thành nguyệt. Nhà học giả này còn khẳng định Sóc phải viết có dấu ô, tức Sốc mới đúng!

    Bến Tre nhiều gái má hồng

    Theo cụ Vương Hồng Sển thì Bến Tre vốn là xứ sinh sản và sản xuất nhiều cá tôm, cho nên xưa, người Khmer gọi là Srok treay (đọc là sốc tre), nhưng sau này người Khmer gọi theo người Kinh là bến có nhiều tre để phân biệt với địa danh Cần Thơ, cũng có nhiều tre, người Khmer gọi tre là rusei, nên có hai địa danh rành rẽ: prêk rusei (sông tre): chỉ Cần Thơ/prêk kompong rusei để chỉ Bến Tre.

    Hội nghiên cứu cổ học Đông Dương, năm 1903 ấn hành quyển khảo cứu đặc biệt (monographia) về tỉnh Bến Tre trong đó có đoạn (lược dịch): Bến Tre xưa, người Khmer gọi là sốc tre, vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Cụ Sển cho biết thêm “theo tôi (tức Vương Hồng Sển) đây là dịch sai hai chữ Bến Tre. Tre đây là treay của Khmer, phải dịch là cá (…). Lẽ đáng gọi Bến Tre là Ngư Tân, hoặc Bến Cá: srok kompong treay”.

    Mỹ Lồng là địa danh nổi tiếng với nghề làm bánh tráng ở đây (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc). Mỹ Lồng có nguồn gốc từ chữ Srok Mi Lôn = xứ, xóm của nàng tên Lôn.

    Anh về xứ Chắc Cà Đao

    Chắc Cà Đao: Tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả Vương Hồng Sển, ghi lại hai giải thích là:

    Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khmer chắp kdam (bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua. Theo nhà văn Sơn Nam, Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây.

    Và ông nghĩ rằng giả thuyết của Nguyễn Văn Đính hợp lý hơn.

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Người Khmer thời trước gọi vùng đất Mỹ Tho là srock mé sa, mi so (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac). Nghĩa là xứ (srock) có nàng con gái (mé) có nước da trắng (sa, so). Khi sang Việt ngữ, dân gian gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ srock,chỉ còn giữ lại mi so và biến âm sang mà thôi.

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng Phong Điền

    Vương Hồng Sển khẳng định chắc chắn rằng Cái Răng là vùng kênh rạch ngày trước có nhiều ghe của người Khmer chở cà ràn đi bán. Cà ràn là lò bằng đất nung, có hai phần, phía trước rộng là chỗ chứa củi đang chụm, vừa là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre), và phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ.

    Cà ràn thông dụng trong vùng Tân Châu, Châu Đốc, ở nhà sàn, đáy của cà ràng giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn. Tương tự, cà ràng cũng rất được dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động ưa dùng vì tiện lợi. Chính từ cà ràn được các bản đồ thời Pháp phiên âm thanh caran và biến âm dần thành Cái Răng như ngày nay.

    Vàm có nguồn gốc từ tiếng Khmer: péam = cửa sông, nơi một con sông nhỏ (rạch) chảy vào con sông lớn. Ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ có nhiều sông rạch, do đó có rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ vàm như Vàm Cống (thuộc Gò Công), Vàm Nước Trong (Kiến Hòa), Vàm Sông Thượng (Cần Thơ), Vàm Nao (An Giang), Vàm Tấn ở Sóc Trăng.

    Anh qua Vàm Tấn anh đến Cù Lao

    Trương Vĩnh Ký có nói chữ péam trong tiếng Khmer có nghĩa là vàm thì theo ông Vương Hồng Sển, dẫn theo La Cochichine et ses habitants của Baurac, trang 362 thuật lại rằng trào đàng cựu, cho đến lối 1858, vàm Đại Ngãi còn được gọi là Vàm Tấn (péam senn), là một bến nước quan trọng tiếp đủ các thuyền đi biển đủ hạng từ trung Quốc, Tân Gia Ba, Xiêm La, Cam Bốt tụ tập rất náo nhiệt để trao đổi, mua chác lúa gạo, tơ lụa, hàng vải, cá mắm, mắm muối, đồ gốm, chén bát, sừng trâu, ngà voi, lông chim, sáp, mật ong. Đại Ngãi là từ Hán Việt của địa danh này.

    Nước Ba Thắc chảy cắt như dao

    Theo di cảo của Trương Vĩnh Ký, Ba Thắc là Păm pk Bàsàk. Đây là tên gọi tiếng Khmer của một vị thần hay còn gọi là nặc tà, ông tà của người Khmer, có miếu thờ ở Bãi Xàu cũ. Đại danh Ba Thắc bên Campuchia cũng có.

    Tương truyền ông Ba Thắc là một vị hoàng tử người Lào đến sống vùng đất trên đường đi Tham Đôn, Mỹ Xuyên ngày nay. Khi ông chết người dân quanh vùng lập miếu thờ. Lúc đầu miếu được cất theo kiến trúc Khmer bằng cây nhưng về sau, năm 1927, ông Lê Văn Quạnh và một số thân hào trong vùng đã cất lại miếu theo kiến trúc Trung Hoa dạng bán cổ bán kim và đề là Ba Thắc Cổ miếu. Di tích này đến nay vẫn còn.

    Vĩnh Long ( đất này người cố cựu còn gọi là đất Vãng gần với Vũng. Từ địa danh Vũng Luông – Kompong Luông; biến dần ra Vũng Luông, rồi Vãng Luông. Tên Vĩnh Long có từ năm 1832 khi vua Minh Mạng đổi ra Hán tự).

    Đồng Tháp Mười (tiếng Khmer là Thnor Mo Roy nghĩa là đường lộ (thnor), số 100 (mo roy), Đồng Tháp Mười còn có tên khác nữa là Présah Préam Loveng); tiếng Việt gọi Đồng Tháp Mười tức chỉ vùng đồng có cái tháp mười tầng, hiện tháp đã không còn, chỉ còn lại vết tích của nền đất và trong ký ức của những lão nông tri điền.

    Châu Đốc (người Khmer gọi là srôk (xóm, xứ) méât (miệng mồm) cruk (heo): xứ miệng heo); Kế Sách, một huyện của Sóc Trăng, nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer: k’sach.

    Sa Đéc, thị xã của tỉnh Đồng Tháp xuất phát từ Phsar Dek, phsar là chợ, dek là sắt); Trà Vang hoặc Trà Vinh xuất phát từ âm Khmer: Préah trapéang, và gắn liền với sự tích: không biết có từ bao giờ, năm đó, trong một trận nước lụt dân làng thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước về một gò cao, cạnh đó xây chùa thờ phượng.

    Chùa được đặt tên Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, tên vị sư cả đầu tiên. Trapéang được Việt hóa thành âm Trà Bang, rồi Trà Vang, sau bị nói trại thành Trà Vinh. Ở vùng Ngã Năm (Sóc Trăng) đi Long Mỹ (Hậu Giang) cũng có địa Trà Ban (trapéang: ao vũng) cùng nét nghĩa và nguồn gốc vừa phân tích.

    Những danh từ chỉ động, thực vật, đồ vật.

    Ngoài những địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer đã được Việt hoá còn có những từ gốc Khmer khác chỉ các loài động, thực vật hay đồ vật cũng đi vào ngôn ngữ tiếngViệt và tham gia bình đẳng trong các hoạt động giao tiếp thường nhật.

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Cá chốt, tiếng Khmer là trey kanchos, khi đi vào ngôn ngữ phổ thông nó đã được Việt hóa thành chốt.

    Trời mưa mát đất, con cá lóc nó thoát khỏi nò

    Tiếng Khmer có trêy rot chỉ một loại cá nước ngọt, cá này có rất nhiều ở vùng đồng bằng Cửu Long. Ở Bắc, Trung Bộ gọi là cá chuối, cá quả, cá tràu.

    Bầu dùng chỉ một loại ghe lớn. Tiếng Khmer có xòm pầu tức ghe bầu; nói chi xòm pầu nghĩa là đi ghe bầu. Ca dao có câu:

    Con quạ nó đứng đầu cầu

    Một loại ghe khác là ghe chài, danh từ ấy cũng được kết hợp hết sức độc đáo:

    Chú tôi trồng mía trồng khoai

    Thím ghe chài là hình ảnh hoán dụ chỉ người đàn bà đi trên ghe. Ghe chài là loại ghe có trọng tải lớn. Khmer có từ tuk pokchay. Tuk là tiếng Khmer nghĩa là ghe; còn pokchay nghĩa là chở đủ thứ, đó là tiếng Triều Châu đã được Khmer dùng như là tiếng Khmer.

    Người Việt dịch chữ tuk ra chữ ghe, nhưng lại mượn chữ pokchay đọc thành chài. Theo Bình Nguyên Lộc người Khmer còn gọi ghe chài là thwe.

    Trắng da vì bởi má cưng

    Bưng được Việt hóa từ chữ trapéang: vũng, ao; lúc đọc là trà bang, trà vang, sau rút lại còn bang rồi biến âm thành bưng. Bưng lại kết hợp với từ Hán Việt biên (bờ phía ngoài) rồi đọc thành bưng biền.

    Những từ ngữ không xác định được nguồn gốc.

    Đây là những từ vừa đồng âm vừa đồng nghĩa với tiếng Việt. Chúng tôi tra cứu nhiều tài liệu và đồng thuận với nhiều ý kiến cho rằng khó bề xác định những từ này có gốc từ tiếng Khmer được tiếng Việt vay mượn hay ngược lại nó có nguồn gốc từ tiếng Việt, được đồng bào Khmer vay mượn. Xin nêu một số ví dụ tiêu biểu sau đây:

    Chuối non vú ép chát ngầm

    Ép là đẩy dính sát vào nhau, làm áp lực, người Kinh dùng từ ấy, trong khi người Khmer có tiếng ép, bòng-ep, cùng nghĩa.

    Canh chua điên điển cá linh

    Cá linh (không rõ Khmer – Việt hay Việt – Khmer, bởi trong ngôn ngữ Khmer cũng có từ linh: chỉ loài cá!).

    Xuống lên lên xuống đã quen

    Trong ngôn ngữ Khmer có tòn tenh oi cham, tức lặp đi lặp lại nhiều lần cho dễ nhớ, chuyển sang chữ tòn ten của Việt ngữ có nghĩa là lủng lẳng. Không biết ngôn ngữ nào vay mượn của ngôn ngữ nào?

    Bình Đông là xứ quê mùa

    Tiếng Khmer kêu cà na là kana. Cà na là loại cây có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng. Cà na trong tiếng Việt còn được gọi là tráp (Bắc Bộ). Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng Nam Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt?

    Thầy anh lên xuống xuống lên

    Hên: may mắn. Khmer có hêng, vừa đồng âm vừa đồng nghĩa. Như vậy hên chắc chắn là từ ngữ của miền Nam, có phải gốc Khmer hay không thì chưa chắc chắn.

    Ngó lên con ác lăng xăng

    Người Việt nói ém: dấu mất, Khmer cũng nói ém cùng nghĩa. Chúng ta hãy xem câu ca mang chức năng hài hước sau đây:

    Anh như du kích ém quân

    Kết luận:

    Một là, ngoài hệ thống từ Hán Việt, các từ vay mượn từ tiếng Anh, tiếng Pháp thì tiếng Khmer là một bộ phận có mặt và tồn tại trong ngôn ngữ tiếng Việt. Có số ít vẫn được dùng được dạng thức phiên âm, số khác được chuyển sang ngữ âm Việt ngữ.

    Chúng có nguồn gốc từ Khmer, nhưng chúng ta dùng quá lâu đời nên đã hoàn toàn Việt hóa, chúng ta không hề nghĩ đến đó là những chữ ấy có nguồn gốc từ đâu. Nhiều hơn cả là lớp từ vựng mà cả tiếng Việt lẫn tiếng Khmer đều tồn tại, vấn đề ai mượn của ai tức nguồn gốc chính xác của nguyên ngữ là vấn đề được đặt ra những không dễ giải quyết thấu đáo. Hy vọng sẽ đi sâu hơn đề tài này vào một dịp khác.

    Hai là, qua ngôn ngữ, cụ thể hơn là ngôn ngữ ấy ẩn chứa trong những câu ca lời hát của bình dân miền quê Tây Nam Bộ chúng ta có thể nhận định sự giao lưu văn hóa, ngôn ngữ diễn ra một cách tự nhiên của hai chủng tộc sống gần nhau, và là một điểm đặc thù của nền văn hóa các tộc người trên thế giới.

    Hy vọng sự sưu tập này sẽ giúp các bạn học viên đang theo học tại trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina có thêm tài liệu để tham khảo. Các bạn vui lòng liên hệ:

    Nguồn: https://saigonvina.edu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tốc Độ Tăng Số Người Học Tiếng Nhật Của Việt Nam Đứng Đầu Thế Giới
  • Phu Nhân Ngoại Trưởng Nhật Bản Trò Chuyện Với Học Sinh Trường Chu Văn An
  • Phu Nhân Bộ Trưởng Ngoại Giao Nhật Bản Thăm Trường Tiểu Học Chu Văn An (Hà Nội)
  • Có Nên Học Tiếng Anh Bằng Cách
  • Người Mẹ Nghệ An Lên Hà Nội Bán Hoa Quả Để Con Được Nói Tiếng Anh Với Tây
  • Nguyên Lý Của Năng Lượng Cảm Xạ Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Xạ Học Như Một Liệu Pháp Dưỡng Sinh
  • Tiếng Anh Y Khoa Hệ Hô Hấp
  • Ngành Xét Nghiệm Y Học Là Gì? Tốt Nghiệp Ra Trường Làm Gì?
  • Ngành Xét Nghiệm Y Học Là Gì?
  • Ngành Xét Nghiệm Y Học Là Gì? Tổng Quan Về Ngành Xét Nghiệm Y Học
  • 16512 lượt xem

    Theo Cảm xạ học, mọi mạch Nước, khoáng sản, thực vật, động vật, con người…. đều có sự rung động và phát ra bức xạ, bức xạ này đi xuyên qua mặt đất, xuyên qua các vật thể và tác động đến nhà Cảm xạ.

    Theo triết học Đông Phương: mọi sự vật đều có bề mặt và bề trái; vũ trụ có hai cực: Âm và Dương. Bề mặt ngược với bề trái, linh hồn trái với thể chất. Có ngày có đêm, có nóng có lạnh.

    Cảm xa học với chúng ta còn quá mới mẻ, điều khó khăn và trở ngại lớn nhất của môn học này là nó phụ thuộc vào nhiều trình độ khác nhau của sự hiểu biết về khả năng của con người.

    Có thể có những xu hướng là phán xét và bác bỏ vội vã mọi nhận thức mới và như thế dễ dẫn đến kết luận là những nhận thức ấy không khoa học. Thái độ thật sự cần thiết bao giờ cũng là trước khi phê phán điều gì chúng ta cần phải nghiên cứu nó một cách nghiêm túc.

    Theo Cảm xạ học, mọi mạch Nước, khoáng sản, thực vật, động vật, con người…. đều có sự rung động và phát ra bức xạ, bức xạ này đi xuyên qua mặt đất, xuyên qua các vật thể và tác động đến nhà Cảm xạ. Đây là nguồn thông tin mà nhà Cảm xạ phải phân tích để nhận biết điều cần tìm. Lúc đó phản ứng cơ thể của nhà Cảm xạ được truyền sang quả lắc, chiếc đũa, làm cho phản ứng đó thể hiện rõ bằng sự chuyển động. Mỗi người chúng ta là một ” radar sống “. Não của chúng ta thu nhận được tất cả những gì xung quanh nó, tương tự tấm phim chụp ảnh, cảm nhận tức khắc những gì nằm trong trường thu của ống kính.

    Các bức xạ này được nhà cảm xạ nhận biết bằng năm giác quan:

    Mắt phân biệt được bức xạ ánh sáng.

    Mũi phân biệt được bức xạ có mùi.

    Tai phân biệt được bức xạ âm thanh.

    Da phân biệt được bức xạ nhiệt.

    Lưỡi phân biệt được bứ xạ vị.

    Nhưng cũng có những bức xạ mà ngũ quan chúng ta không nhận ra: tia hồng ngoại, tia cực tím, tia X sóng siêu âm và các tia phân tán chậm.

    Lâu nay nhiều người tin rằng các bức xạ từ mỗi vật thể phát ra giống như các chùm tia sáng của pháo hoa nhưng cần biết rằng còn có một từ trường ảnh hưởng xung quanh các vật thể, và chính các vật thể cũng nằm trong từ trường của trái đất.

    Do vậy cơ chế làm việc của nhà cảm xạ học có thể được giải thích bằng nhiều cách khác nhau:

    – Hoặc nhà Cảm xạ là một đài thu sóng các vật phát ra nhờ quả lắc hoặc chiếc đũa trung gian.

    – Hoặc nhà Cảm xạ vừa là một đài phát, giống như một loại radar, phát ra các ” xạ khí ” đi tới vật cần tìm hay tạng phủ của bệnh nhân, các xạ khí này phản hồi, tác động trở lại nhà Cảm xạ, lúc đó quả lắc và chiếc đũa đang cầm trên tay khuyếch đại phản ứng trên cho rõ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Khoa Hoc Năng Lượng Tâm Thức Totha
  • Bản Chất Của Xăng Sinh Học Là Gì?
  • Điều Cần Biết Về Nhiên Liệu Sinh Học
  • Xăng Sinh Học Là Gì ? Những Ưu Điểm Nổi Bật Của Xăng Sinh Học
  • Nhiên Liệu Sinh Học (Biofuel) Là Gì? Đặc Điểm Và Những Hạn Chế
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100