Top 9 # Pp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Hội Thảo Trao Đổi Pp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Smartcom: Học Tiếng Anh Bằng Tiềm Thức

AI ĐÃ SẴN SÀNG THÀNH CÔNG VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TIẾNG ANH MỚI? – Đăng ký tham dự 1 BUỔI ĐÀO TẠO KỸ NĂNG HỌC TIẾNG ANH MIỄN PHÍ với mình bao gồm Tên, sđt, Email và gửi tới [email protected] or sdt 01649701257

BUỔI ĐÀO TẠO: ” Đột phá học tiếng Anh bằng TIỀM THỨC”

NGỮ PHÁP VÀ CÁCH HỌC TRUYỀN THỐNG ĐANG GIẾT CHẾT KHẢ NĂNG NGHE NÓI TIẾNG ANH CỦA BẠN !

BẠN ĐÃ HỌC TIẾNG ANH TỪ 7 – 12 NĂM NHƯNG VẪN KHÔNG NGHE VÀ NÓI ĐƯỢC ???

BẠN HỌC TỪ VỰNG NHƯNG HAY QUÊN ???

BẠN CẢM THẤY RẤT BUỒN NGỦ VÀ CHÁN NẢN VỚI CÁCH HỌC TIẾNG ANH TRUYỀN THỐNG ???

BẠN NGHE THÂY CÔ GIÁO NÓI TIẾNG ANH TRÊN LỚP THÌ HIỂU NHƯNG KHI NGHE NGƯỜI BẢN NGỮ THÌ KHÔNG HIỂU GÌ ???

BẠN CẢM THẤY THIẾU TỰ TIN VÀ THIẾU ĐỘNG LỰC KHI HỌC TIẾNG ANH ???

BẠN THỰC SỰ MONG MUỐN NGHE NÓI TIẾNG ANH TRÔI CHẢY VỚI NGƯỜI BẢN NGỮ TRONG VÒNG TỪ 3 THÁNG ???

HÃY ĐẾN VỚI BUỔI ĐÀO TẠO TIẾNG ANH BẰNG TIỀM THỨC VÀ HỌC BẰNG TÀI LIỆU THỰC – PHƯƠNG PHÁP CHỈ CÓ Ở SMARTCOM :

Với phương pháp AUTHENTIC ENGLISH- học tiếng anh bằng tài liệu thực- mới nhất ở Việt Nam và đang rất thành công với trên 2000 sinh viên đang theo đuổi và đã có rất nhiều sinh viên đã đột phá trình độ tiếng anh của mình sau 3 THÁNG:

Bạn sẽ không còn phải: HỌC thuộc lòng những quy tắc ngữ pháp khô khan! NÓI TIẾNG ANH với những giáo viên máy móc! Học từ vựng bằng những phương pháp cổ điển! Hay học nhiều năm mà vẫn chưa giao tiếp, làm chủ được tiếng anh! MIỄN PHÍ tham dự ( Do SMARTCOM – trung tâm tiếng anh với web tốt nhất Việt Nam hiện nay tổ chức). Bạn sẽ có cơ hội nhận được học bổng 40$ từ SMARTCOM.

THỜI GIAN: Buổi 1: 9h sáng Thứ 7 ngày 26/05/2012 Buổi 2: 14h00 chiều Thứ 7 ngày 26/05/2012 Địa điểm: Tòa nhà Smartcom, số 33, ngõ 41 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội.

SMARTCOM trân trọng giới thiệu đến bạn 1 chương trình độc đáo, vô cùng đặc sắc.Không chỉ được học tiếng anh mà bạn còn được rèn luyện kỹ năng mềm, kỹ năng sống, thái độ học tập và sống tích cực, luôn có mục tiêu .

Tham gia buổi hội thảo này bạn sẽ có cơ hội:

* Nắm được phương pháp học tiếng Anh tài liệu thực để ĐỘT PHÁ trình độ sau chỉ 3 THÁNG

* Hiểu biết được các lỗi lầm mắc phải trong việc học tiếng anh mà bạn hay mắc phải, qua đó bạn xây dựng được 1 phương pháp học tiếng anh TỐT NHẤT cho bạn

* Nắm được phương pháp học Hybrid learning học online kết hợp học bằng TIỀM THỨC …

* Có cơ hội gặp gỡ và giao lưu trực tiếp của CEO Nguyễn Anh Đức – Tổng giám đốc Smartcom – a đang là chuyên gia đào tạo giảng viên ngoại ngữ của nhiều trường ĐH danh tiếng như ĐH Công nghiệp, HV BCVT, tập đoàn FPT, mobiefone,… Các bạn có thể gửi thông tin bao gồm Họ tên, sđt, Email tới địa chỉ [email protected] or 01649701257. See you soon!

Tìm người học cùng để giảm học phí

Tặng khóa học ngữ pháp tiếng Anh miễn phí

Học phát âm chuẩn miễn phí

TOEIC quận Tân Bình, Tân Phú và Quận 12

Học tiếng Anh ở Thủ Đức

Mình muốn tìm Trung tâm ngoại ngữ dạy TESOL …

Giúp mình tìm trung tâm đào tạo uy tín!!!

Tìm lớp tiếng Anh giao tiếp 4 kỹ năng tại HCM

4 lý do bạn nên chọn SpeakingPal để luyện…

Học tiếng anh giao tiếp ở đâu tốt bà kon ơi.

Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp

Tiếng Việt là nội dung được dạy từ tiểu học đến trung học phổ thông hiện nay. Dạy học Tiếng Việt chỉ dừng lại ở những kiến thức về Tiếng Việt trong nhà trường thì chưa đủ; kiến thức chỉ hoàn chỉnh và vững chắc khi học sinh đã thực sự vận dụng vào hoạt động giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ”. Chỉ có đặt trong hoạt động giao tiếp, thì giá trị của các phương tiện ngôn ngữ mới được xác định. Và cũng chỉ có trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ với các yếu tố giao tiếp nằm ngoài ngôn ngữ thì học sinh mới có điều kiện để hiểu chắc, hiểu sâu Tiếng Việt và biết cách sử dụng phù hợp, hiệu quả. Việc dạy học Tiếng Việt chỉ thật sự có ý nghĩa khi học sinh rèn luyện được kĩ năng và nâng cao được khả năng giao tiếp.

Theo quan điểm giao tiếp, phương pháp tốt nhất để dạy tiếng Việt bằng quan điểm giao tiếp là phải hướng học sinh vào hoạt động nói năng. Đó là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện nhiệm vụ của quá trình giao tiếp có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia và hoạt động giao tiếp. Dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, học sinh sẽ nhận thức được vai trò quan trọng của Tiếng Việt và mục đích của việc học Tiếng Việt, từ đó học sinh học hứng thú hơn và đạt kết quả cao hơn; giáo viên thực sự trở thành người hướng dẫn học sinh tìm đến tri thức và ứng dụng tri thức vào trong sinh hoạt hàng ngày.

CHƯƠNG 1: LÍ THUYẾT GIAO TIẾP VÀ QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

1.1. Lí thuyết giao tiếp

“G iao tiếp là sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với điều được truyền đạt “.

Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay truyền đạt, thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự vật, hiện tượng nào đó. Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng những phương tiện khác nhau, như hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh, cử chỉ, … Nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người.

Nói đến chức năng của giao tiếp là nói đến vai trò mà giao tiếp phải đảm nhiệm trong đời sống cộng đồng. Các chức năng cơ bản của giao tiếp là chức năng thông tin, chức năng tạo lập quan hệ, chức năng giải trí, chức năng tự biểu hiện và chức năng hành động.

Các nhân tố của hoạt động giao tiếp, t rong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều nhân tố tham gia và ảnh hưởng đến các phương diện của hoạt động giao tiếp. Những nhân tố này vừa góp phần thực hiện hoạt động, vừa ảnh hưởng chi phối đến hoạt động. Đó là các nhân tố:

Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, về nghề nghiệp, về giới tính và trình độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội… đều luôn luôn ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong các ngôn bản. Nhân tố nhân vật giao tiếp trả lời cho các câu hỏi: ai nói? (ai viết)?, nói với ai? ( viết cho ai?).

Quá trình sản sinh lời nói

Về bản chất, nói năng cũng là một hoạt động: hoạt động lời nói. Các hành vi nói năng có biểu hiện rất đa dạng nhưng lại có một cấu trúc chung. Cấu trúc này bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra kết quả.

Quá trình tiếp nhận lời nói

Tiếp nhận lời nói là hoạt động giải mã từ lời thành ý, là hoạt động nghe hoặc đọc để hiểu những điều mà người nói / người viết thể hiện qua ngôn bản. Việc tìm hiểu nội dung lời nói không thể chỉ dừng lại ở ý nghĩa tường minh mà còn phải chú ý đến ý nghĩa hàm ẩn, không chỉ biết đến nội dung sự vật mà còn phải thấu hiểu cả nội dung liên cá nhân của lời nói mà ta nghe hay đọc.

Quan điểm giao tiếp trong việc dạy – học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, có chức năng cơ bản nhất là chức năng giao tiếp. Ngôn ngữ vừa tồn tại trong trạng thái tĩnh như một hệ thống – kết cấu tiềm ẩn trong năng lực ngôn ngữ của mỗi người, đồng thời nó cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp. Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.

Quan điểm giao tiếp cũng phù hợp với mục tiêu của môn học: môn ngôn ngữ nói chung và phân môn TV nói riêng không phải chỉ có mục đích trang bị kiến thức khoa học về ngôn ngữ, về TV cho HS, mà điều quan trọng là rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng TV trong các hoạt động tư duy, giao tiếp. Ngay trong lĩnh vực kiến thức thì môn ngôn ngữ cũng không phải chỉ cung cấp những kiến thức có tính chất lí thuyết về cơ cấu tổ chức, về hệ thống ngôn ngữ, về nguồn gốc và sự phát triển lịch sử, về loại hình các ngôn ngữ … mà còn không thể thiếu được những hiểu biết về quy tắc sử dụng, về các thao tác và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Do đó, quan điểm giao tiếp rất phù hợp với mục tiêu của môn học.

Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học. Về nội dung, phân môn TV tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để HS mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng TV trong giao tiếp. Về phương pháp dạy học, các kĩ năng được hình thành thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên.

Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục đích giao tiếp. Dạy về giao tiếp và dạy trong giao tiếp.

Khi dạy theo quan điểm giao tiếp, GV phải dạy cho HS được học, được tập giao tiếp ở trong bài học, ở lớp rồi biết cách giao tiếp trong thực tế cuộc sống hàng ngày. Biết nói năng, quan hệ ngôn ngữ đúng vai trò, đúng mục đích với người xung quanh, biết nêu nhận xét, đánh giá trước sự vật, sự việc … (không phải chỉ nhằm tới mục đích là biết làm văn như trước đây). Quan điểm giao tiếp quán triệt tư tưởng giao tiếp vừa là điểm xuất phát lại vừa là đích hướng tới, vừa là nội dung lại vừa là định hướng phương pháp và môi trường tổ chức dạy học của tất cả các đơn vị kiến thức.

Quan điểm này được hình thành dựa trên 3 cơ sở:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu của xã hội. Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Con người sinh ra và lớn lên không thể sống riêng lẽ tách biệt mà tồn tại trong mối quan hệ công đồng, và để tồn tại họ phải lao động, từ lao động con người làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Để giao tiếp được đòi hỏi con người phải có phương tiện giao tiếp và đó chính là ngôn ngữ. Đầu tiên khi chưa có chữ viết, con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ nói, tuy nhiên ngôn ngữ nói bị hạn chế là bị giới hạn bởi khoảng cách không gian nên dần dần bằng hệ thống kí hiệu, ám hiệu thì chữ viết ra đời, dù chữ viết có thô sơ nhưng vẫn phần nào đáp ứng được nhu cầu của con người.

Thứ hai, chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ sẽ được hiện thực hóa trong quá trình giao tiếp, hơn nữa từ có thể biến đổi và chuyển hóa về chức năng và thực hiện các chức năng mới không phải chức năng vốn có của nó trong hệ thống ngôn ngữ.

Thứ ba, Ngôn ngữ tồn tại độc lập, không duy truyền vì thế giao tiếp là điều kiện tiên quyết để hình thành ngôn ngữ ở mỗi cá nhân.

Từ những phân tích trên ta có thể thấy rằng xuất phát từ chức năng xã hội của ngôn ngữ, chức năng làm công cụ tư duy và đặc biệt là chức năng là phương tiện để giao tiếp có thể khẳng định chỉ trong giao tiếp thì ngôn ngữ của con người mới có thể hình thành, sinh động, đa dạng và phong phú hơn so với trạng thái ban đầu của nó. Trong quá trình giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ tích lũy cho mình vốn ngôn từ riêng và để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp đòi hỏi con người phải nắm vững các quy tắc vận hành của ngôn ngữ, do ngôn ngữ không duy truyền mà chỉ hình thành trong giao tiếp. Nên đó là cơ sở hình thành việc dạy và học tiếng Việt.

Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng. Các mức độ về kiến thức, kĩ năng được thể hiện cụ thể trong chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông.

Về kiến thức: Yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ, các kiến thức cơ bản trong chương trình, SGK, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn. Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo sáu mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo.

Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ, … Kiến thức, kĩ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức.

Xưa nay chúng ta hay nói, khi dạy học đồi hỏi phải có các phương pháp dạy học phù hợp. Vậy phương pháp dạy học là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên khái niệm được mọi người tán thành nhiều nhất cho rằng ” phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo hình thành thế giới quan và phát triển năng lực “. Các phương pháp dạy học tiếng Việt thường được sử dụng như: phương pháp thông báo – giải thích; phương pháp phân tích ngôn ngữ; phương pháp rèn luyên theo mẫu; và đặc biệt là phương pháp giao tiếp.

Theo quan điểm giao tiếp, phương pháp tốt nhất để dạy tiếng Việt bằng quan điểm giao tiếp là phải hướng học sinh vào hoạt động nói năng. Đó là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện nhiệm vụ của quá trình giao tiếp có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia và hoạt động giao tiếp.

Phương pháp này được thực hiện theo các bước sau:

B1: giáo viên tạo tình huống có vấn đề, kích thích sự tìm tòi, suy nghĩ ở học sinh

B2: học sinh tìm tòi, giải quyết vấn đề và trình bày trước tập thể

B3: giáo viên nhận xét và học sinh cùng rút kinh nghiệm.

Dạy học Tiếng Việt theo phương pháp giao tiếp góp phần quan trọng vào việc phát triển lời nói cho học sinh. Hoạt động giao tiếp vừa là phương tiện vừa là mục đích của việc dạy học tiếng Việt. Học tiếng Việt chúng ta không chỉ biết về nó mà phải sử dụng thành thạo nó biến nó thành vũ khí vào tư duy và giao tiếp.

Muốn thực hiện được điều này, giáo viên phải nắm được tâm lí lứa tuổi, khả năng tiếp nhân kiến thức, tính hệ thống logic của kiến thức cung cấp cho các em.

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP THIẾT KẾ MỘT BÀI HỌC TIẾNG VIỆT.

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

I.Mục tiêu

– Hiểu biết sơ bộ về một số loại báo chí: phân biệt theo phương tiện (báo viết, báo hình, báo nói, báo điện tử), theo định kỳ xuất bản (nhật báo, tuần báo, nguyệt báo, niên báo,…), theo lĩnh vực (báo văn nghệ, khoa học và đời sống, kinh tế, pháp luật, giáo dục và thời đại,…).

3. Thái độ: Có thái độ nghiêm túc khi đọc, phân tích và đưa tin.

II.Chuẩn bị của giáo viên

– Sách GV, SGK, thiết kế bài dạy, những tờ báo minh họa.

– GV yêu cầu mỗi học sinh trang bị cho mình 1 (hoặc nhiều hơn) tờ báo bất kì để cùng tìm hiểu khi phân tích bài.

– Phân tích tình huống: phân tích đặc điểm của một số loại văn bản báo chí.

– Thực hành: bước đầu tạo lập một số loại văn bản báo chí.

III.Tiến trình

– Ở chương trình Ngữ văn 10, các em đã được tìm hiểu phong cách cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với những đặc trưng riêng của từng thể loại. Hôm nay cô sẽ giới thiệu với các em phong cách ngôn ngữ báo chí.

– Cuộc sống hiện đại là cuộc sống số, thời đại bùng nổ thông tin. Khi muốn tiếp cận thông tin, chúng ta có thể tìm hiểu qua những phương tiện nào ?

– Các em có thích đọc báo không?

” Báo chí truyền tin tức cho mọi người biết thông tin. Đọc báo giúp ta có nhiều kiến thức mới.

– Phong cách ngôn ngữ báo chí có những đặc trưng gì, những đặc trưng đó có gì giống và khác với các phong cách ngôn ngữ mà các em đã học ? Để trả lời cho câu hỏi này, cô cùng các em đi vào tìm hiểu bài học : PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

Báo chí, truyền hình, radio, internet,….

– Nêu những loại báo mà em biết.

– Phân loại các loại báo em vừa kể.

– GV nhận xét, kết luận.

– Nêu theo sự hiểu biết của mình (báo viết, báo hình, báo nói, báo điện tử), (nhật báo, tuần báo, nguyệt báo, niên báo,…), (báo văn nghệ, khoa học và đời sống,…).

1. Tìm hiểu một số thể loại văn bản báo chí:

– Văn bản báo chí gồm những thể loại tiêu biểu nào? Em biết gì về các thể loại đó?

– GV: nhận xét và chốt lại.

+ Nếu chỉ viết ngắn, thông tin về các sự kiện – bản tin.

+ Nếu đưa tin có miêu tả, tường thuật chi tiết – phóng sự.

– Gọi HS đọc ví dụ SGK và nêu câu hỏi: xác định sự kiện được nói đến, thời gian, địa điểm của bản tin?

– Yêu cầu HS xác định một vài bản tin trong những tờ báo mà các em đem theo. HS có thể đọc cho cả lớp cùng nghe bản tin đó và xác định sự kiện được nói đến, thời gian, địa điểm của bản tin như trên.

– Từ việc tìm hiểu các ví dụ trên, em có nhận xét gì về bản tin.

– GV có thể lưu ý với HS về đặc điểm của bản tin, GV tạo tình huống nói với HS: “Ngày mai, cô mời cả lớp ăn sáng”. Cả lớp có thể sẽ rất vui mừng và hỏi thời gian, địa điểm. Từ đó GV lái sang đặc điểm chính của bản tin “Đó là đặc điểm quan trọng của bản tinmà cô muốn nhấn mạnh để các em hiểu và nhớ rõ. Vừa rồi là VD thực tế cô đưa ra thông tin thiếu địa điểm để giúp các em nhận ra bản tin cần phải có những đặc điểm cơ bản sau: thời gian, địa điểm và sự kiện chính xác, thiếu những đặc điểm ấy thì bản tin không giá trị. Có nghĩa là lượng thông tin phải cần và đủ, nếu thiếu đi một vài yếu tố như thông tin mà cô nói là không thể thực hiện được trong hiện thực”.

– Yêu cầu HS đọc VD trong SGK và gọi 2,3 HS trả lời câu hỏi: Văn bản đó có thể xem là 1 bản tin hay không? Vì sao?

– Em hiểu như thế nào là phóng sự?

– GV nhận xét, kết luận.

– Yêu cầu HS tìm một vài phóng sự trong những tờ báo mà các em đem theo.

– GV có thể giới thiệu một đoạn Video clip phóng sự cho HS tham khảo.

– Yêu cầu HS so sánh bản tin và phóng sự? (giống và khác nhau)

– Gọi 2 HS đóng vai đọc tiểu phẩm trong SGK. (yêu cầu HS đọc có ngữ điệu phù hợp với giọng văn)

– GV nhận xét sắc thái, giọng, ngữ điệu của HS.

– Tiểu phẩm đề cập nội dung gì ? Tiêu đề gợi ấn tượng gì? Nhận xét về giọng văn và cách sử dụng ngôn ngữ ? Nội dung tiểu phẩm có mang tính thời sự không?

– Qua phần tìm hiểu, em hãy cho biết thế nào là tiểu phẩm.

– GV nhận xét, tổng kết.

– Ngoài các thể loại trên thì báo chí còn có những thể loại nào? Cho VD?

– GV nhận xét, tổng kết.

– Các dạng tồn tại của báo chí?

– GV nhận xét, tổng kết.

+ Dạng nói: trong các buổi phát thanh và truyền hình: đọc, thuyết minh, phỏng vấn.

+ Dạng viết: báo ảnh, truyền hình, báo điện tử.

– Gọi 2-3 HS trả lởi câu hỏi: Nhận xét về ngôn ngữ của các thể loại báo chí trên?

– GV nhận xét, tổng kết.

+ Bản tin: ngắn gọn, chính xác.

+ Phóng sự: chi tiết, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.

+ Tiểu phẩm: vừa thân mật, dân dã; vừa mỉa mai, châm biếm.

” Mỗi thể loại có cách quy ước khác nhau về sử dụng ngôn ngữ.

– Theo em, báo chí có chức năng gì?

– GV nhận xét, tổng kết.

– Sau khi tiếp xúc với một số thể loại của văn bản báo chí, em hiểu thế nào là ngôn ngữ báo chí?

– GV củng cố bài học bằng cách cho HS một vài văn bản báo chí, yêu cầu HS xác định các văn bản đó thuộc thể loại gì?

– Chia lớp thành 8 nhóm, mỗi nhóm 4-6 HS và thực hiện yêu cầu viết bản tin vào bảng phụ hoặc trình powerpoint nếu có thể.

* Việc gì đã xảy ra?

* Diễn biến sự việc như thế nào?

– Yêu cầu trình bày sản phẩm.

– Trình bày những hiểu biết của mình về các thể loại của báo chí.

– HS: đọc và trả lời.

– 2,3 HS trả lời, nhận xét lẫn nhau.

– HS thực hiện, trả lời và nhận xét lẫn nhau.

– HS lần lượt trả lời, nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau.

– HS hoạt động theo nhóm.

– Trình bày sản phẩm.

– HS nhận xét lẫn nhau.

a. Bản tin: Cần có thời gian, địa điểm, sự kiện chính xác nhằm cung cấp những tin tức mới cho người đọc.

b. Phóng sự: thực chất cũng là bản tin nhưng được mở rộng phần tường thuật chi tiết sự kiện và miêu tả bằng hình ảnh để cung cấp cho người đọc một cái nhìn đầy đủ, sinh động và hấp dẫn.

c. Tiểu phẩm: là một thể loại gọn nhẹ, với giọng văn thân mật, dân dã, thường có sắc thái mỉa mai, châm biếm nhưng hàm chứa một chính kiến về thời cuộc.

2. Nhận xét chung về văn bản báo chí và ngôn ngữ báo chí:

– Có 2 dạng: nói và viết.

b. Yêu cầu sử dụng ngôn ngữ:

Mỗi thể loại có cách quy ước khác nhau về sử dụng ngôn ngữ.

c. Chức năng: Cung cấp tin tức thời sự, phản ánh dư luận và ý kiến quần chúng, nêu quan điểm và chính kiến, tờ báo thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

“Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng nhằm thúc đẩy tiến bộ của xã hội.

Viết một bản tin với đề tài tự do.

– Khi nghe đài hoặc xem ti vi, chú ý đến mục tin tức thời sự và nhận định về đặc điểm của ngôn ngữ báo chí thể hiện ở mục đó;

Tìm hiểu Các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của Ngôn ngữ báo chí.

– GV cung cấp cho HS 3 văn bản báo chí thuộc 3 thể loại trên.

– HS thực hiện theo yêu cầu: Nêu đặc điểm về diễn đạt trong phong cách ngôn ngữ báo chí.

– GV chia lớp thành 8 nhóm: mỗi nhóm 4 – 6 người.

+ Nhóm 1- 4: tìm hiểu về từ vựng?

+ Nhóm 5-8: tìm hiểu về ngữ pháp?

– Các nhóm điền thông tin vào bảng sau:

– GV nhận xét, kết luận.

– GV cung cấp cho 1 đoạn phát thanh chương trình thời sự và 2 VB báo chí.

– Yêu cầu HS nhận xét cách diễn đạt thông tin của người viết, nói. Văn bản báo chí có sử dụng các biện pháp tu từ khác? Vì sao? Nó được thể hiện như thế nào trong báo nói và báo viết?

– GV nhận xét, tổng kết.

– Ví dụ sau đây cung cấp những thông tin gì?

– Ngôn ngữ thông tin phải như thế nào mới được gọi là có tính thông tin thời sự?

– GV nhận xét, tổng kết.

– GV nhận xét, tổng kết.

– Đọc các tiêu đề của các bài báo sau. Nhận xét cách đặt tiêu đề, dùng từ, đặt câu?

+ Những trái tim mòn mỏi chờ mổ.

+ 10 chiếc ô tô mất tích cùng một lúc

– GV nhận xét, tổng kết.

– GV mở rộng thêm: Ngoài 3 đặc trưng trên thì ngôn ngữ báo chi còn một đặc trưng quan trọng nữa đó là tính chiến đấu. Báo chí là công cụ đấu tranh chính trị của một nhà nước, một đảng phái, một tổ chức. Báo chí chọn lọc tin tức, đưa tin, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

– GV củng cố kiến thức: Em có nhận xét gì về các đặc trưng của ngôn ngữ báo chí?

– Yêu cầu HS làm bài tập 1 trong SGK trang 145.

– GV hướng dẫn HS làm bài tập 2 trong SGK trang 145. Chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm viết 1 bài phóng sự về đề tài tự chọn.

Thời gian nộp bài: 1 tuần.

HS suy nghĩ trả lời các câu hỏi.

HS suy nghĩ trả lời các câu hỏi.

HS suy nghĩ trả lời.

HS suy nghĩ trả lời.

HS suy nghĩ trả lời.

II. CÁC PHƯƠNG TIỆN DIỄN ĐẠT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN NGỮ BÁO CHÍ.

1. Các phương tiện diễn đạt:

Rất phong phú, mỗi thể loại báo chí, mỗi phạm vi phản ánh có một lớp từ vựng đặc trưng.

– Câu văn đa dạng, thường ngắn gọn, sáng sủa, mạch lạc để đảm bảo thông tin chính xác.

– Bản tin thường có câu ngắn; phóng sự có câu dài, kết cấu phức tạp; tiểu phẩm có câu văn gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

– Không giới hạn các biện pháp tu từ và cú pháp.

– Ở báo nói: phải phát âm rõ ràng, khúc chiết.

– Ở báo viết: phải chú ý kiểu chữ, khổ chữ, màu sắc, hình ảnh,… để tạo điểm nhấn thông tin.

2. Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí:

– Truyền bá tin tức cập nhật, nóng hổi trên mọi lĩnh vực hoạt động xã hội.

– Ngôn ngữ phải chính xác, nhất là thông tin thời gian, địa điểm, nhân vật, sự kiện,…

Văn báo chí là lối văn ngắn gọn, lượng thông tin cao.

– Bài dài thường kèm theo một tóm tắt ngắn, in đậm ở đầu bài báo tóm lược nội dung cơ bản.

Thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu, đặc biệt là ở tiêu đề (tit) của bài báo.

Ngôn ngữ báo chí gồm có ba đặc trưng cơ bản: tính thông tin thời sự; tính gắn ngọn; tính sinh động hấp dẫn. Các đặc trưng đó được thể hiện ở những phương tiện diễn đạt đảm bảo chức năng thông tin của báo chí và tạo nên phong cách ngôn ngữ báo chí.

1.Phân tích bản tin

– Tính thông tin thời sự:

+ Sự kiện (quyết định công nhận, lí do được công nhận)

Dạy Tiếng Việt quan điểm giao tiếp là một giải pháp hữu hiệu cho phép góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng học tập, tạo điều kiện để học sinh tự hiện thực hóa, tự khẳng định nhân cách cá nhân của mình, vạch ra tiềm năng sáng tạo của cá nhân, hình thành những phương châm giá trị và phẩm chất đạo đức cần thiết cho những chặng đường học tập và làm việc tiếp theo, góp phần đáp ứng mục tiêu giáo dục đã được đặt ra. Tuy nhiên, không có phương pháp nào là tốt tuyệt đối, khi triển khai bài học Tiếng Việt cần phải biết kết hợp các phương pháp cơ bản, truyền thống như một thể thống nhất, hài hòa, bổ sung cho nhau.

1. Lê A (2001), “Dạy Tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động”,Tạp chí Ngôn ngữ.

2. Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán (2001), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục.

3. Phạm Thị Anh (2010), “Ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, (236).

4. Nguyễn Thị Thanh Bình (2006), “Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy tiếng mẹ đẻ trong nhà trường”, Tạp chí Ngôn ngữ.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ Văn 11, tập1, Nhà xuất bản Giáo dục.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách Giáo Viên Ngữ Văn 11, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn lớp 11, Nhà xuất bản Giáo dục.

Cách Học Tiếng Anh Hiệu Quả

Tiếng Anh là một công cụ rất quan trọng giúp bạn phát triển sự nghiệp, mở mang tri thức khi đa phần các tài liệu tiên tiến, mới nhất đều ở dạng tiếng Anh. Không ít sinh viên và cả người đi làm tại Việt Nam băn khoăn về cách học tiếng anh hiệu quả. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tổng hợp và gợi ý những cách luyện và học tiếng anh hiệu quả tại nhà.

Những cách học tiêng Anh hiệu quả mọi lúc

Biến tiếng Anh thành một phần cuộc sống hàng ngày

Khi tự học tiếng Anh tại nhà, bạn nên tập thói quen đọc báo, nghe radio, viết nhật ký, liệt kê danh sách thứ cần thiết mua khi đi siêu thị bằng tiếng Anh, hoặc nghe tiếng Anh bằng điện thoại trên đường đi làm bằng xe buýt.

Kết bạn với người bản xứ

cơ hội để bạn gặp gỡ những người bản xứ đang sống cùng khu vực với mình khá cao. bạn sẽ đến các quán bar hoặc nhà hàng dành cho người nước ngoài, tham gia câu lạc bộ xã hội hoặc hoạt động thể thao, tìm người mong muốn trao đổi ngôn ngữ. Thậm chí, bạn sẽ tình nguyện làm chỉ dẫn viên ở một điểm du lịch hấp dẫn gần nhà để gặp người nói tiếng Anh từ khắp nơi trên thế giới.

Tìm bạn học cùng

Tham gia câu lạc bộ tiếng Anh, kết bạn với một ai đấy và thường xuyên gặp gỡ họ, bạn sẽ được truyền động lực học tập rất nhiều. Hai bạn nên sử dụng tiếng Anh khi nói chuyện và giúp nhau sửa lỗi.

sử dụng nguồn tiếng Anh thực tế

Đọc sách giáo khoa tiếng Anh khiến bạn cảm thấy tẻ nhạt. Những cuốn sách viết cho người bản xứ thú vị hơn nhiều, dù ban đầu có thể là thử thách đối với bạn. điều quan trọng đặc biệt là sự kiên trì. nếu bạn không thể tìm được sách hoặc tạp chí tiếng Anh, nguồn tin tức trên internet sẽ rất có ích.

Lập mục tiêu thực tế

nguyên nhân cụ thể khiến bạn muốn tự học tiếng Anh tại nhà là gì? Bạn muốn thăng tiến trong hoạt động, trò chuyện với đồng nghiệp người nước ngoài, đi du học hay dành kỳ nghỉ tiếp theo ở một quốc gia nói tiếng Anh? Bạn hãy đặt mục tiêu ngắn hạn và lâu dài, tự theo dõi tiến trình để đạt đạt kết quả tốt cao nhất.

Nghe tiếng Anh ở tốc độ bình thường của người bản xứ

Những bài nghe thiết kế cho người học tiếng Anh có thể không giống với thực tế mà bạn bắt gặp ở ngoài. vì vậy, bạn nên luyện tai bằng tốc độ thông thường của người bản xứ, Ngay cả khi bạn không thể hiểu hết Tất cả mọi thứ. Bên cạnh đấy, bạn hãy thử xem phim, nghe nhạc mà vẫn chưa có phụ đề. Đừng ngại nghe đi nghe lại vài lần trước khi “bắt” được thứ gì đó thú vị hoặc một từ vựng bạn ít dùng. Những podcast tiếng Anh không mất phí trên internet là nguồn học vô tận.

Tìm cách học từ vựng không nhàm chán

nếu thích hát, bạn hãy tìm từ vựng trong các bài hát tiếng Anh yêu thích, viết lên giấy nhớ và dán khắp nhà. bạn sẽ tăng trưởng từ thành một câu hài hước hoặc vẽ hình ảnh bên cạnh từ đấy để nhớ lâu hơn.

Học về văn hóa

Học một ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở ngữ pháp và từ vựng. bạn cần ăn nói với những người có cách nghĩ, cách nói khác mình, do đó hiểu về văn hóa của quốc gia họ cũng giúp bạn sử dụng ngôn ngữ hiệu quả hơn.

Tạo niềm vui khi học tập

nhiều người từ nghỉ việc học ngoại ngữ vì cảm thấy nặng nề, nặng nề. Bạn hãy gắn nó với các trò chơi, giải câu đố, hát hò, đọc truyện tranh và không sợ quá nhiều về việc mắc lỗi. Mắc lỗi chính là cách tuyệt vời nhất để học tập đạt kết quả tốt.

Cách học 4 kĩ năng nghe nói đọc viết Tiếng Anh

chú ý, coi phim quá nhiều sẽ phát sinh tác dụng phụ, đó là bị “lậm”, nói một cách dễ hiểu hơn là xa rời thực tế, đang ở Viet Nam mà tưởng đang ở Mỹ.

2/ công thức học tiếng anh: rèn luyện kỹ năng nói & Phát âm tiếng anh chuẩn

Nghe vững thì nói mới chuẩn, nhưng luyện từ thôi chưa đủ, để nói vừa nhanh vừa chuẩn và ngữ pháp chính xác thì phải luyện phản xạ khi nói. cái này cũng không có cách nào khác để tăng trưởng ngoài thực hành.

– Luyện phát âm từng từ thì có đề cập trong phần nghe rồi. Còn muốn chú trọng kỹ năng nói lưu loát thì bạn có thể dùng ba trang đã nêu là Ted Talk, Discovery Channel và National Geographic, vừa nghe vừa nói theo với ngữ điệu lên xuống y chang diễn giả hay người thuật chuyện, cố gắng bắt kịp tốc độ của họ

– Tham gia mấy diễn đàn luyện nói tiếng Anh qua mạng, liên hệ với các thành viên rồi chat voice qua Skype với các bạn đó. nổi bật nhất là có trang học tiếng Anh của BBC, trang http://www.speak-english-today.com/, hoặc trang http://www.todays-talking-topics.com/. Các trang mạng này thì hầu hết không có người bản xứ Anh, Mỹ, Úc nói giọng chuẩn đâu, tụi nó hơi đâu mà làm mấy cái này. Chủ yếu là học viên người đi làm ở các quốc gia đang phát triển, muốn nâng cao trình độ tiếng Anh để du học hoặc hội nhập quốc tế. thường thường là dân các nước như Pakistan, Bangladesh, Trung Quốc, Jordan, Ai Cập, Angola…

– Kéo một đứa nào đó đang muốn luyện nói tiếng Anh giống mình, giao kèo là từ rày về sau gặp nhau sẽ chỉ nói chuyện bằng tiếng Anh thôi, ai cười mặc kệ. cái này mới đầu thấy hơi “dị dị” mà sau thành quen, mấy bạn trong group yoga với mình toàn trò chuyện với nhau bằng tiếng Anh. nếu như có người quen nào mà tiếng Anh giỏi hơn mình nhiều mà lại chịu khó nghe mình nói và sửa cho mình thì càng tuyệt.

– chọn lựa một đề tài mình thích, phân tích và diễn giải nó bằng tiếng Anh. Có thể chọn đề tài từ dễ đến khó theo khả năng và sở thích của mình, VD như bạn thích quà gì cho ngày sinh nhật, cho đến ISIS là gì hay tàu du hành vũ trụ được vận hành như thế nào. Thu âm lại các bài nói, nghe lại xem có chỗ nào chưa hay và lưu ý sửa lại sao cho chúng ta thấy vừa ý nhất.

3/ Bí quyết học tiếng anh: tập luyện kỹ năng đọc

– Sách tiếng Anh: sách ngoại văn tại nước ta khá hiếm. Sau một thời gian tìm kiếm, mình tìm ra một vài nguồn cung cấp sách tiếng Anh khá ổn. Sách giấy thì có ở nhà sách Xuân Thu trên đường Trần Hưng Đạo (Q. 1 – Sài Gòn), giá cũng mềm, tuy nhiên ít sách mới xuất bản. Hoặc là rình mua sách cũ theo đợt của anh Cảo Thơm https://www.facebook.com/pages/C%E1%BA%A3o-Th%C6%A1m/163749470451569?fref=ts, nhiều sách hay mà giá lại rẻ nữa.

4/ công thức học tiếng anh: Kỹ năng Viết

– Cách dễ dàng để bắt đầu viết và để luyện từ là tiếp tục dùng ba cái trang dùng để luyện nghe ở trên đầu bài và bật lên, vừa nghe vừa chép lại, hoặc tăng tốc hơn thì nghe liên tục và tóm lược lại các ý chính (cách này rất tốt để luyện thi Toefl hay Ielts). Sau đó so sánh bản chép của mình với transcript coi mình bị thiếu ý hay viết sai từ nào không.

– Viết blog. công thức luyện viết tiếng Anh khác của mình là lập ra một blog bằng tiếng Anh để viết bất kỳ cái gì mình thích, mà thường là review việc tự học và dặn dò rèn luyện bản thân. Mà viết blog dù tiếng Việt hay tiếng Anh cũng đều có những cái lợi riêng của nó. Nó làm tăng cường khả năng diễn đạt và làm đầy đủ đời sống tinh thần. Mình đang ráng giữ phong độ 1 ngày viết 1000 từ, viết được thấy khỏe. Khi viết, cố gắng áp dụng những từ vựng mình đã học từ quá trình nghe và đọc.

Và quan trọng nhất là duy trì động lực học tiếng Anh

7 công thức duy trì động lực học tiếng Anh

#2. Hãy nghỉ ngơi đúng lúc, tuy nhiên cũng quay lại đúng thời điểm

#4. Ngừng so sánh và nghĩ tích cực về tiếng Anh của bạn

#5. Hãy dùng tiếng Anh nhiều nhất có thể

#6. Tìm một người bạn đồng hành cùng học tiếng Anh

Nguồn: Tổng hợp

Cách Học Tiếng Hàn Hiệu Quả Qua Phim Hiệu Quả

Cũng giống như các phương pháp vừa học vừa giải trí khác, việc học tiếng Hàn qua phim sẽ giúp cho bạn có những phút giây thư thả đầu óc, những vẫn có thể tiếp thu được lượng kiến thức nhất định. Tuy nhiên không phải cứ xem phim Hàn là có thể học được tiếng Hàn, rất nhiều bạn đã thử và thất bại, cho rằng chưa rành tiếng Hàn mà học qua phim cũng chỉ giống như vịt nghe sấm mà thôi, chẳng giỏi hơn tí nào.

Học tiếng Hàn qua phim ảnh – tại sao lại không thể?

Học tiếng Hàn qua phim ảnh là một cách học hiệu quả, vì không gây nhàm chán cũng như tạo hứng thú để người học tiếp thu nội dung hiệu quả nhất. Mặc dù học tiếng Hàn các bạn có thể theo học theo những giáo trình được biên soạn sẵn, nhưng khi bạn áp dụng cách học tiếng Hàn qua phim có phụ đề này thì sẽ giúp việc học tiếng Hàn thú vị và hiệu quả hơn nhiều

Học tiếng Hàn nhanh chóng với phim

Khi học tiếng Hàn bằng cách coi phim có phụ đề thì bạn không chỉ luyện nghe, luyện cách phát âm, ngắt nghỉ, ngữ điệu mà còn tìm hiểu được văn hóa Hàn Quốc, cũng như cách giao tiếp thực tế cực kỳ hiệu quả.

1. Xem phim Hàn Quốc có phụ đề tiếng Hàn

Như đã biết thì xem phim có phụ đề tiếng Hàn là một cách khá hiệu quả để cải thiện khả năng nghe của người học. Phần lớn các bạn tự học tiếng Hàn chia sẻ rằng thường gặp khá nhiều khó khăn khi nghe tiếng Hàn từ người Hàn Quốc vì họ thường nói nhanh và dùng ngôn ngữ nói trong khi giao tiếp, và thay vì dùng các mẫu câu ngôn ngữ viết chính thống. Trên thực tế cũng như tiếng Việt, thì tiếng Hàn cũng có nhiều cách diễn đạt và người Hàn thì thường phải sử dụng đa dạng các loại mẫu câu rút gọn. Vì vậy mà đôi khi bạn có thể hiểu nhưng bạn vẫn không hình dung được hoàn toàn những điều gì họ đang nói, đang sử dụng cấu trúc ngữ pháp nào.

2. Xem phim Hàn Quốc có phụ đề tiếng Việt

Tags: học tiếng hàn cơ bản tại nhà, học tiếng hàn nhập môn, học tiếng hàn miễn phí, học tiếng hàn online miễn phí, học tiếng Hàn qua phim ảnh, cách học tiếng Hàn thú vị, tiếng Hàn cho người bận rộn, phim tiếng Hàn có phụ đề