Top 8 # Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Học Sinh Tiểu Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Học Sinh Tiểu Học

Tiểu học là giai đoạn quan trọng để bé học tiếng Anh. Bên cạnh việc học ở trường, nhiều bậc phụ huynh đã tìm đến các phương pháp học tại nhà hiệu quả để có thể cùng con học tiếng Anh, giúp bé phát triển toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ.

1. Đầu tư cho con học tiếng Anh từ nhỏ

Ngày nay, nhiều gia đình Việt đã chú trọng cho con học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai từ rất sớm, thậm chí ngay từ giai đoạn mẫu giáo. Bởi họ hiểu rõ được tầm quan trọng của tiếng Anh có ảnh hưởng đến sự phát triển và thành công trong tương lai của con em mình.

Thay vì những bài giảng khô khan, cha mẹ hãy tạo ra một môi trường sử dụng tiếng Anh gần gũi với đời sống của trẻ. Điều này giúp trẻ phát triển toàn diện bốn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết cũng như vận dụng linh hoạt chúng trong cuộc sống.

Khi trẻ còn nhỏ, có thể cho bé nghe những bài hát tiếng Anh, những câu chuyện được kể bằng tiếng Anh. Lớn hơn một chút, cha mẹ có thể cho bé làm quen với tiếng Anh thông qua các trò chơi, hình ảnh,…

3. Tìm cho con phương pháp học phù hợp

Nếu cha mẹ quá bận rộn với công việc, không có nhiều thời gian học tiếng Anh cùng con thì có thể cho bé học ở các trung tâm anh văn, hay tìm gia sư tiếng Anh tại nhà. Trung tâm gia sư Đức Minh cho rằng tìm gia sư riêng cho bé là thích hợp nhất. Bởi lẽ, học ở trung tâm, với số lượng học viên đông, thầy cô không thể để mắt và quan tâm tới tất cả các bé; còn học với gia sư kiểu một thầy – một trò là cách học mang lại hiệu quả tốt nhất cho các em.

– Với đội ngũ gia sư Tiếng Anh là những giáo viên, sinh viên giỏi trên khắp các quận, huyện của Hà Nội, Đức Minh cung cấp gia sư tiếng Anh tiểu học, giúp bé có những bước khởi đầu thuận lợi nhất.

– Chúng tôi nhận dạy kèm tiếng Anh cho học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 ở mọi trình độ, năng lực khác nhau.

– Đội ngũ gia sư tiếng Anh giỏi của Đức Minh sẽ giúp các em lấy lại kiến thức đã mất, bổ sung kiến thức mới và khơi gợi lại hứng thú học tiếng Anh của các em.

Trung tâm gia sư Đức Minh luôn nỗ lực hết mình giúp các em học sinh đạt được kết quả tốt nhất trong môn Tiếng Anh. Khi con cái gặp bất cứ khó khăn gì về học tiếng Anh, quý phụ huynh có thể liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và lựa chọn gia sư phù hợp.

Đầu tư hôm nay, tỏa sáng ngày mai cùng trung tâm gia sư Đức Minh

TRUNG TÂM GIA SƯ ĐỨC MINH – TRUNG TÂM GIA SƯ UY TÍN TẠI HÀ NỘI

Văn phòng: Số 33, Ngõ 86, Chùa Hà, Cầu Giấy, Hà Nội

Phụ huynh liên hệ: 02473022666 – DĐ: 0913876686 – 0965876686

Gia sư liên hệ: 0968042289 – 01234090588

Email: giasusuphamducminh@gmail.com

5 Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Học Sinh Tiểu Học

Với việc 67 quốc gia trên thế giới đang sử dụng Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, trong đó hơn 400 triệu người sử dụng Tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ và hơn 1 tỷ người sử dụng Tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai, có thể thấy Tiếng Anh đang ngày trở nên phổ biến để trở thành ngôn ngữ toàn cầu. Hiểu được tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, rất nhiều các bậc phụ huynh đã không ngại đầu tư cho con em theo học các lớp bồi dưỡng, trung tâm Tiếng Anh với học phí đắt đỏ. Việc đầu tư cho trẻ học Tiếng Anh ngày từ nhỏ là một điều tốt. Tuy nhiên, cha mẹ cũng đừng quên tham khảo những phương pháp học Tiếng Anh hiệu quả cho con ngay từ cấp tiểu học để có thể theo sát và đồng hành hiệu quả cùng con trong quá trình tiếp cận ngôn ngữ toàn cầu này.

1. Đề ra mục tiêu học rõ ràng cho con

Người ta thường nói, sẽ rất khó để đạt được thành công nếu như bạn không định nghĩa được “thành công” của bạn là gì cũng giống như việc rất khó để đạt được kết quả như ý nếu như ngay từ đầu bạn không xác định rõ được mục tiêu của việc làm mà mình hướng đến là gì.

Việc đặt mục tiêu học Tiếng Anh rõ ràng cho con ngay từ đầu là một bước vô cùng quan trọng giúp con xác định được rõ những gì con cần cho việc học tập để bắt tay vào thực hiện và hoàn thành nó. Tuy nhiên, cha mẹ khi đặt mục tiêu cho con cần đặt mục tiêu hợp lý, vừa sức và có thể đo lường được. Cha mẹ không nên đặt những mục tiêu chung chung cho con như: Con cần nghe nói Tiếng Anh tốt. Vậy thì “tốt” ở đây như thế nào? Đây là một mục tiêu rất khó đo lường, vì đỗi với mỗi một giai đoạn, mỗi cá nhân thì khái niệm “tốt” lại khác nhau.

Vậy nên, thay vì những mục tiêu khó đo lường ấy thì cha mẹ có thể đề ra cho con như đạt chứng chỉ Cambridge Starters trong vòng 5 tháng, etc. Việc đặt mục tiêu có thời hạn thể hiện sự cam kết và tạo sức ép về thời gian để cả cha mẹ và con nghiêm túc trong việc xây dựng lộ trình học tập để đạt được mục tiêu đề ra.

2. Tạo cho con điều kiện thẩm thấu ngôn ngữ sớm.

Ở độ tuổi lên 3, trẻ em có thể bắt đầu học Tiếng Anh tại nhà. Một số ý kiến cho rằng, con còn nhỏ như thế, Tiếng Việt còn chưa sõi thì sao tiếp thu Tiếng Anh. Tuy nhiên ở độ tuổi này, trẻ đã bắt bắt đầu phát triển khả năng tiếp nhận mạnh mẽ các thông tin xung quanh qua các giác quan, kể cả ngoại ngữ. Hơn nữa, việc cho các con tiếp xúc với Tiếng Anh thông qua việc nghe các bài hát, câu truyện, hội thoại ngắn ngay từ khi các con còn nhỏ giúp các con hình thành những nhận thức ban đầu về Tiếng Anh, tạo một môi trường phát âm bản ngữ ngấm dần vào não bộ của con.

Cấu tạo của các cơ quan nghe và phát âm khi con còn nhỏ giúp các con dễ dàng thẩm thấu và bắt chước hơn khi con trưởng thành. Dù có thể các con chưa thể nói theo chính xác những gì mà các con nghe được nhưng đây sẽ là bước đầu giúp các con nhận biết được ngữ điệu nói và phát âm chuẩn của Tiếng Anh bản xứ. Như vậy, nếu ngay từ đầu cha mẹ có thể tạo điều kiện cho con thẩm thấu ngôn ngữ sớm chính là trao cho con cơ hội học nghe Tiếng Anh theo một cách tự nhiên nhất.

3. Khai thác các nội dung và kỹ năng phù hợp với sở thích của con.

Nhiều người có suy nghĩ: “Trẻ học ngoại ngữ cần tuân theo đúng trình tự: nghe-nói-đọc-viết”. Tuy nhiên, điều này chưa hẳn đã đúng. Việc chúng ta cho trẻ tiếp cận với một ngôn ngữ mới thông qua việc nghe là một việc hoàn toàn đúng đắn, còn việc phát triển tư duy ngôn ngữ thông qua nói; đọc, viết thì chúng ta nên dựa theo sở thích của con mà khai thác, phát triển. Hãy để cho việc học của con trở nên thoải mái ở bất kì kỹ năng nào mà con muốn.

Nói như thế không có nghĩa là để con chỉ tập trung vào một kỹ năng trong suốt quá trình học. Sau khi con bắt đầu làm quen với Tiếng Anh thông qua kỹ năng mà con yêu thích, dần dần cha mẹ có thể hướng con tới những phương pháp và nội dung học mới giúp con có khả năng sử dụng Tiếng Anh một cách toàn diện thay vì chỉ có thể nói hoặc viết hoặc đọc Tiếng Anh.

5. Cho con học theo chuẩn khảo thí quốc tế

Các bài thi Tiếng Anh theo chuẩn khảo thí quốc tế là những bài thi được tiến hành và cấp chứng chỉ theo những tiêu chuẩn quốc tế với những yêu cầu khắt khe để đánh giá đúng khả năng ngôn ngữ của các em học sinh. Chính vì vậy, việc cho các em học sinh tiếp cận và rèn luyện môn Tiếng Anh theo chuẩn khảo thí quốc tế sẽ tạo điều kiện giúp các em làm quen và phát triển các kĩ năng ngôn ngữ toàn diện. Trong quá trình làm quen với các bài thi đa dạng, các em học sinh sẽ xây dựng được cho mình nguồn kiến thức phong phú, nâng cao khả năng tư duy. Việc học và thi theo chuẩn khảo thí quốc tế là thước đo năng lực ngôn ngữ quốc tế để giúp các em và cha mẹ nhìn vào để biết được chính xác khả năng của mình và con em mình, từ đó có thể điều chỉnh cách học, cách dạy con phù hợp và hiệu quả hơn.

Học Tiếng Anh là cả một quá trình và mỗi đứa trẻ sẽ phát triển theo một cách rất riêng của mình, vì vậy mà cha mẹ trong quá trình đồng hành cùng con không nên đòi hỏi và tạo quá nhiều áp lực đối với con. Hãy cố gắng theo sát và tìm hiểu trình độ nhận thức, khả năng, điểm mạnh, điểm yếu và sở thích của con để tìm ra phương pháp và lộ trình học tập phù hợp cho con em mình.

Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Sinh Viên

1. Học tiếng Anh càng sớm càng tốt

Sớm là khi nào. Đó là từ những năm nhất bạn nên luyện cho mình thói quen học tiếng Anh. Nhưng nhiều sinh viên nghĩ rằng mới vào đại học, mới năm nhất thì chưa cần nhiều đến tiếng Anh mà thay vào đó là phải bổ sung và ưu tiên các môn khác, còn tiếng Anh khi nào ra trường học vẫn chưa muộn.

Đây chính là suy nghĩ sai lâm dẫn đến những đáng tiếc sau này. Sinh viên là đối tượng có nhiều thời gian nhất, đây cũng là thời điểm thuận lợi cho bạn tích lũy khả năng sử dụng tiếng Anh một cách thành thục.

2. Làm quen với các kỳ thi chuẩn quốc tế

Bạn nên quên thói quen học ngữ pháp như ở bậc phổ thông mà thay vào đó là làm quen với cấu trúc của đề thi trong các cuộc thi tiếng Anh quốc tế.

Ở cấp phổ thông bạn sẽ quen với học tiếng Anh trên lớp để vượt qua các kỳ thi trong trường bằng các bài ngữ pháp, đọc trong sách giáo khoa. Tuy nhiên ở bậc đại đại học thì việc áp dụng chuẩn tiếng Anh quốc tế như Toeic, Ielts, Toefl… là những chương trình phổ biến. Trong đó bài thi TOEIC có nội dung thiên về tiếng Anh thương mại để phục vụ cho môi trường giao tiếp trong công sở, còn bài thi IELTS và TOEFL iBT tập trung vào nội dung học thuật để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu trong môi trường tiếng Anh.

Những bài thi chuẩn quốc tế này không tập trung vào kiểm tra ngữ pháp mà sẽ đánh giá các kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết của bạn. Cách thức làm bài và dạng câu hỏi cũng khác nhau, do đó đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp học hoàn toàn mới.

Nếu bạn muốn đạt điểm cao trong kỳ thi Toeic thì phải nắm rõ được cấu trúc, nội dung đề thi. Và trong đó có khoảng 3.500 từ vựng mà bài thi Toeic thường đề cập. Đồng thời bạn phải luyện kỹ năng nghe, cách đọc hiểu tiếng Anh công sở, có như vậy mới có kết quả cao trong các kỳ thi.

Và một điều bạn nên nhớ đó là nên có mục tiêu rõ ràng khi học. Năm thứ nhất bạn nên đặt cho mình mục tiêu Toeic là 650, đến năm thứ ba và thứ tư thì thang điếm sẽ cao hơn là 800 hoặc 900 điểm. Hay Ielts cũng vậy. Phải có mục tiêu rõ ràng cho từng năm, đề ra phương hướng và có phương pháp thực hiện cho từng mục tiêu đó.

Đừng học tiếng Anh theo giáo trình biên soạn trong trường bởi sẽ khiến bạn sớm cảm thấy chán nản. Thay vào đó là nên học nghe trước. Bạn nghe những gì bạn thích trước thì việc học của bạn sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Tham gia các diễn đàn khi học tiếng Anh

Trong quá trình nghe nếu gặp khó khăn bạn có thể nhờ sự giúp đỡ từ bạn bè hoặc từ bất cứ ai giỏi tiếng Anh. Sau đó bạn cần chăm chỉ phát âm lại các từ vựng mới, và tập nói theo các câu bạn thấy hay trích từ bài nghe.

Lúc này bạn nên phát âm thật chuẩn. Để phát âm đúng nên sử dụng từ điển online để đọc theo. Khi bạn chọn phương án học từ phần Listening trở về và tích cực thực hành nói theo bài nghe, bạn sẽ thấy bài đọc và các bài từ vựng trong cuốn giáo trình trở nên dễ học và dễ nhớ hơn rất nhiều. Nhưng quan trọng hơn cả là bạn sẽ có một cảm hứng nói tiếng Anh rất lớn khi lên lớp. Điều đó có nghĩa là bạn sẽ tiến bộ nhanh hơn.

4. Giao tiếp càng nhiều càng tốt

Thành công của bạn do chính bạn làm nên. Vì vậy chẳng ai có thể thay thế bạn học được cả. Vì vậy phải chăm chỉ và kiên trì thực hiện theo đúng mục tiêu đều ra. Và khi đã quyết tâm chinh phục tiếng Anh, bạn sẽ nhận ra một điều thú vị nữa đó là bạn không cần nhiều tới trí thông minh cho lắm để làm chủ tiếng Anh. Tiếng Anh là môn học của chí nhiều hơn trí! Vì thế nó không đòi hỏi tố chất bẩm sinh nào, mà nó cần nỗ lực trong từng ngày của bạn. Bạn chính là người quyết định bao giờ bạn thành thạo tiếng Anh.

Phương Pháp Dạy Ngữ Âm Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học

g phiên âm Tiếng Anh quá mới lạ và phức tạp. Trong Tiếng Việt, chỉ cần học thuộc bảng chữ cái là cơ bản học sinh có thể phát âm được tất cả các từ nhưng trong Tiếng Anh có rất ít mối liên hệ giữa bảng chữ cái và cách phiên âm. Chỉ có 26 chữ cái nhưng trong khi đó lại có tới 44 âm gồm cả nguyên âm và phụ âm. Một chữ cái có thể được đọc bằng 2 âm (th: /θ/hoặc /ð/). Ngược lại nhiều từ có thể phát cùng âm giống nhau (phone / fun / laugh ). Bên cạnh đó, một vài âm trong Tiếng Anh không tồn tại trong tiếng việt nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi phát những âm này. Khi gặp khó khăn, học sinh ngại phát âm vì sợ sai dẫn đến ngại đọc, ngại nói; càng ít đọc, ít nói thì càng đọc sai, nói sai. III. PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM 1. Quy trình của bài dạy ngữ âm Một giờ học ngữ âm sẽ thực sự hiệu quả nếu giáo viên thực hiện theo quy trình dạy rõ ràng, cụ thể làm cho các âm tiết trở nên dễ dàng tiếp nhận đối với học sinh. Bởi vậy, một bài dạy ngữ âm nên chia thành 3 phần như sau: 1.1. Presentation - Giáo viên đọc từ có chứa âm đang học, học sinh lắng nghe. Ví dụ: Dạy âm /ɔ:/ giáo viên đoc : draw (Unit 12 lesson 2, SGK Tiếng Anh 5, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh đọc âm (ví dụ: /ɔ:/) một vài lần cốt để học sinh có thể nghe rõ và quan sát được cử động miệng, môi, răng, lưỡi của giáo viên khi phát âm này. - Giáo viên đọc một vài từ có chứa âm đang học, học sinh đọc theo. Ví dụ: law/ saw/ paw - Giáo viên viết các từ lên bảng. - Giáo viên miêu tả cách phát âm (vị trí của lưỡi, môi, răng). Giáo viên treo sơ đồ biểu thị vị trí của lưỡi, môi, răng khi phát âm và giảng giải cụ thể sao cho học sinh hiểu. - Yêu cầu học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, (ví dụ: law, saw, paw) sau đó gọi từng nhóm nhắc lại. Cuối cùng giáo viên gọi một số học sinh nhắc lại. - Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm thứ hai. Ví dụ: Giáo viên thực hiện theo quy trình trên khi giới thiệu âm /ɑ:/ (Unit 12 lesson 2, Tiếng Anh 5) - So sánh đối chiếu sự khác nhau khi phát âm thứ hai với âm thứ nhất. Ví dụ: giáo viên giải thích sự khác biệt về vị trí lưỡi, môi, răng khi phát âm hai âm /ɔ:/ và /ɑ:/ - Học sinh chia thành các nhóm, nhắc lại hai âm (isolated sounds) theo giáo viên hoặc theo băng. 1.2. Practice Trong phần này học sinh nên được thực hành phát âm mới theo thứ tự từ từ (isolated words) đến cụm từ (short phrases) đến câu (sentences) và đến đoạn hội thoại (dialogue). - Giáo viên đọc các cặp từ và học sinh lắng nghe để nhận diện âm mà giáo viên đọc là âm nào. Sau đó lần lượt cả lớp nhắc lại các cặp từ, rồi nhắc lại theo nhóm và cuối cùng nhắc lại cá nhân. Ví dụ: Khi dạy 2 âm /eʊ/ và /ɒ/ (Unit 18 Lesson 2, SGK Tiếng Anh lớp 5, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) giáo viên đọc các cặp từ: go/ got; no/ not; close/ lot Häc sinh l¾ng nghe vµ ®äc l¹i theo gi¸o viªn. - Học sinh thực hành đọc các cụm từ có chứa âm đang học. Ví dụ: go home /a hot holliday/ lots of ropes - Học sinh thực hành đọc các câu (trong câu có nhiều từ chứa âm đang học). Ví dụ: Well, it's hot. It hasn't got many farms./ How do you go to your hometown? - Học sinh nhìn, nghe và nhắc lại theo giáo viên hoặc theo băng một đoạn hội thoại ngắn trong đó có nhiều từ chứa âm đang học. Các bài hội thoại này thường đã có trong sách giáo khoa. - Học sinh trình bày lại đoạn hội thoại theo cặp (sau khi đã đọc thành thạo nếu còn thời gian học sinh có thể thêm một vài từ có chứa âm đang học vào đoạn hội thoại nhưng các từ đó phải phù hợp nghĩa với bài). - Trong quá trình học sinh thực hành, Giáo viên theo dõi và chưa kịp thời nếu học sinh mắc lỗi. 1.3. Production Giáo viên cung cấp cho học sinh trò chơi hoặc các hoạt động để cũng cố lại kiến thức. Một số trò chơi đơn giản nhưng hiệu quả và dễ thực hiện như: Silent Sounds: Ví du: khi dạy hai âm /e/ và /æ/, giáo viên viết lên bảng: Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên. - Same or Different: Giáo viên viết phiên âm quốc tế lên bảng (ví dụ: /I/) Giáo viên nói một chuỗi các âm tương tự với âm trên bảng (/i:/,/e/,/æ/). Học sinh lắng nghe và cho biết liệu các âm trên giống hay khác với âm trên bảng. - One or Two (or three): Giáo viên viết lên bảng hai (hoặc ba) phiên âm quốc tế (ví dụ: 1 /I/, 2 /i:/, 3 /e/ sau đó lần lượt đọc các từ: fifteen/ fifty/ bit/ beat/ eat/ it/ man/ men) để học sinh nghe và nói "one" (1), "two" (2) hay "three" (3). - Correct or incorrect: Giáo viên viết một hay một chuỗi các từ lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói "correct" (đúng) hay "incorrect" (sai). - Word Elicitation: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và yêu cầu học sinh liệt kê từ mà âm đó đứng đầu, từ mà âm đó đứng giữa, và từ mà âm đó đứng cuối. - Minimal Pairs: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và cho học sinh thoải mái liệt kê các cặp từ gần giống nhau. Ví dụ: /I/ /i:/ Fifty Fifteen It eat Bin bean Ill eel .. - Missing words: Giáo viên đọc một câu hoặc một cụm từ ngắn trong đó có một từ để trống. Học sinh lắng nghe và đoán từ để điền vào chỗ trống, miễn sao từ đó phải chứa âm đang học. Ví dụ: Thực hành âm /3:/ A boy and a (girl) First, second and .... (third) A pigeon is a kind of . (bird) - Sentences Construction: Giáo viên viết lên bảng hai nhóm các từ có chứa âm đang học và yêu cầu học sinh đặt câu có sử dụng ít nhất hai từ trong hai nhóm đó. Ví dụ: Thực hành âm /ɔ:/ và /æ/ (SGK Tiếng Anh lớp 5 tập 1, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam) Unit 8 - Lesson 2 Nhóm 1: tall/small/fall/volleyball/talk. Nhóm 2: bad/bag/dad/Saturday/family. - Picture identification: Giáo viên có thể vẽ hoặc treo một bức tranh có hai sự vật lên bảng,chẳng hạn khi dạy hai âm /i:/ và /I/ giáo viên giới treo bức tranh Sau đó giáo viên nói "point to the ship" (Hãy chỉ vào chiếc thuyền) hay "point to the sheep" (Hãy chỉ vào con cừu), học sinh lắng nghe và thực hiện. Giáo viên chỉ vào từ ship và sheep cho học sinh phát âm chính xác. Sau đó giáo viên xóa từ và chỉ vào bức tranh cho học sinh phát âm đúng. Chú ý: Đối với những âm đôi, phương pháp dạy cũng tương tự, nhưng giáo viên nên phân chia nó thành hai âm đơn cho học sinh thực hành. Sau đó kết hợp hai âm đơn lại thành một âm đôi. Ví dụ: Khi dạy âm: /br/ brick 2/ Bài dạy áp dụng: 2.1. Bài dạy 1 TIẾNG ANH LỚP 4 Unit 11 My Daily Activities Lesson 2: Part 1, 2 Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /i:/ và /I/. Bằng việc áp dụng phương pháp trên, tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau: Presentation - Giáo viên nói từ fifteen, học sinh im lặng lắng nghe. - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /i:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó. - Giáo viên đọc các từ có chứa âm /i:/ như: teen/ eat/ seat, fifteen học sinh nghe và đọc theo giáo viên. - Giáo viên viết các từ lên bảng - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /i:/ và giải thích cách đọc âm này: - Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại. - Theo đúng tiến trình trên giáo viên giới thiệu âm /I/. Giáo viên đọc từ fifty, học sinh lắng nghe. - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /I/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này. - Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /I/ như: ty/ it/ sit/ fifty học sinh đọc theo. - Giáo viên viết các từ lên bảng. - Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /I/ và giảng giải cách phát âm /I/ - Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /i:/ và /I/: khi phát âm /I/, vị trí lưỡi thấp hơn, khoảng cách môi trên và môi dưới rộng hơn và miệng mở rộng sang hai bên nhưng hẹp hơn một chút so với âm /i:/. Âm /i:/ phát dài hơi hơn âm /I/. - Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /i:/ và /I/. Practice - Giáo viên đọc teen/ ty/ eat/ it/ seat/ sit/ fourteen/ forty/ thirteen/ thirty/ eighty/ eighteen theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /I/ hay /i:/ và đồng thanh nhắc lại các từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân. - Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: very happy/ six thirty/ fifteen teams/ eat this meat. - Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: It is six fifteen, Linda is thirsty and hungry. - Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 8; phần 1), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có. It's nine fifteen. It's ten fifteen. Peter's thirsty. Linda's thirsty. It's nine fifty. It's ten fifty. Peter's hungry. Linda's happy. Production Giáo viên có thể áp dụng một trong số những hoạt động sau đây: - Học sinh chơi trò chơi Bingo. Giáo viên chia lớp thành các nhóm trong đó mỗi nhóm gồm 3 người. Một thành viên trong đội đọc lên các số có trong các ô sau theo thứ tự bất kì. Các thành viên còn lại chọn một trong các bảng A, B hoặc C, lắng nghe và gạch các số mình nghe. Người nào nghe đúng và gạch được hết các số trong ô của mình sớm nhất thì nói to: Bingo 13 3 15 7 50 30 17 80 18 5 16 15 70 90 3 17 7 6 5 90 13 20 30 16 14 80 18 A B C - Học sinh chia làm các nhóm gồm 3 đến 5 người, chơi trò one or two. 1 2 /i:/ /I/ Một học sinh đọc một từ chứa một trong hai âm trên (fifeen/ fifty/ hungry), những người còn lại nói one hoặc two. Thay vì nói học sinh có thể dùng ngón tay, nếu cột 1 thì giơ 1 ngón, nếu cột 2 thì giơ 2 ngón. Sau đó lần lượt các học sinh khác nói sao cho tất cả các thành viên trong nhóm đều được nói và được nghe. Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi vòng quanh lớp để giúp đỡ học sinh nếu cần thiết. 2.2. Bài dạy 2 TIẾNG ANH LỚP 5 Unit 8 My Favourite Books Lesson 2: Part 1, 2, 3 Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /ɔ:/ và /æ/. Tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau: Presentation - Giáo viên nói từ Watermelon, học sinh im lặng lắng nghe. - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /ɔ:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó. - Giáo viên đọc các từ có chứa âm /ɔ:/ như: watermelon/ tall/ small học sinh nghe và đọc theo giáo viên. - Giáo viên viết các từ lên bảng. - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /ɔ:/ và giải thích cách đọc âm này: - Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại. - Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm /æ/. Giáo viên đọc từ dragon, học sinh lắng nghe. - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /æ/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này. - Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /æ/ như: dragon/ dad/ bad học sinh đọc theo. - Giáo viên viết các từ lên bảng. - Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /æ/ và giảng giải cách phát âm /æ/. - Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /ɔ:/ và /æ/: khi phát âm /ɔ:/, vị trí phần lưỡi phía sau cao hơn, môi tròn hơn so với khi phát âm âm /æ/. - Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /ɔ:/ và /æ/. Practice - Giáo viên đọc talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /æ/ hay /ɔ:/ và đồng thanh nhắc lại các cặp từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân. - Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: dragon ball / the legend of watermelon. - Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: It's the dragon in Dragon Balls. - Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 64; phần 2), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có. a. Mai: I'm reading a book. Nam: What book are you reading Mai: The Legend of Watermelon. b. Mai: What are you doing? Quân: I'm drawing a dragon. It's the dragon in Dragon Balls. Production Giáo viên có thể áp dụng một trong hai hoạt động sau đây: - Silent sounds: Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng lần lượt hai âm /ɔ:/ và /æ/. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên. - Correct or incorrect: Giáo viên viết một từ hay một chuỗi các từ talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family/ cord/ cad/ bought/ bat/ horse/ has lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói "correct" (đúng) hay "incorrect" (sai). Khi học sinh đã quen với luật chơi, giáo viên chia lớp thành các nhóm từ 4 đến 5 người cùng chơi như trên. - Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi vòng quanh lớp để giúp đỡ học sinh nếu cần thiết. IV. PHÂN TÍCH TỔNG HỢP, RÚT RA KẾT LUẬN KHOA HỌC Sau một năm áp dụng phương pháp này để dạy ngữ âm cho học sinh, tôi thấy rằng khả năng phát âm tiếng anh của các em đã có tiến bộ rõ rệt. Một số em trước đây rất ngại phát âm giờ đã mạnh dạn hơn, sôi nổi trong các phần thực hành và trò chơi. Thêm vào đó, các em đã có ý thức hơn khi phát âm sao cho tốt nhất có thể. Tiếp tục khảo sát năng lực phát âm của các em để theo dõi tôi đã thu được kết quả như sau: Khối Tổng số HS Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % 4 20 5 25 8 40 6 30 1 5 5 27 6 22 10 37 9 33 2 8 - Trong quá trình thực hiện phương pháp này cũng có rất nhiều bài học để lại cho tôi. Mới đầu một số học sinh đã quen với cách học cũ nên rất bỡ ngỡ. Khi trình chiếu và giảng giải các sơ đồ về cử động của lưỡi, răng, môi của một số âm khó và không có trong tiếng Việt, nhiều học sinh không thể làm theo được, dẫn đến các em lại phát âm càng sai hơn. Nếu giáo viên cũng nản chí và chấp nhận cách đọc sai thì kết quả sẽ thất bại. Với phương pháp này tôi xem đối tượng học sinh trung bình và yếu là đối tượng được quan tâm hàng đầu. Sử dụng những hoạt động mang tính tập thể để kích thích các em phát huy điểm mạnh của mình. Từ đó giúp các em dần quen với phương pháp mới. Ví dụ: Có một số âm trong tiếng Anh cũng phát âm giống với tiếng Việt như: /b/, /p/, /n/, /m/, /l/ khi dạy những âm này giáo viên không cần thiết dành nhiều thời gian để giảng giải cách phát âm, nên cho học sinh nghe qua băng đĩa người bản ngữ phát những âm này để học sinh quen. Sau đó dành thời gian cho phần Production nhiều hơn. - Các hoạt động trong phần Production nên được thiết kế ngắn gọn, hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi và trình độ của từng đối tượng học sinh. C. PHẦN KẾT LUẬN Như vậy chúng ta thấy rằng việc phát triển ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học là một vấn đề không hề đơn giản. Nó đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp giảng dạy sáng tạo nhưng dễ hiểu, dễ tiếp nhận đối với học sinh. Qua một năm được đưa vào áp dụng, tôi nhận thấy rằng phương pháp dạy ngữ âm này đã mang đến rất nhiều tác dụng. Trước hết, tạo được niềm yêu thích và hưng phấn cho học sinh trong giờ học ngữ âm, giúp các em không còn cảm thấy khó khăn khi phát âm Tiếng Anh. Từ đó chất lượng học tập ngữ âm của học sinh đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh giỏi tăng hơn 17% , tỉ lệ học sinh khá tăng 20%, trong khi đó tỉ lệ học sinh yếu kém giảm tới 20% so với đầu năm học. Bên cạnh đó, với bản thân tôi việc nghiên cứu phương pháp dạy ngữ âm cho học sinh đã góp phần nâng cao trình độ và năng lực sư phạm của mình, đồng thời góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ âm nói riêng và bộ môn Tiếng Anh nói chung. Trong điều kiện học sinh vùng miền núi, cơ sở vật chất dạy học còn thiếu thốn, cơ hội được tiếp xúc với người bản ngữ là rất khó thì những thành công ban đầu tôi thu được là một điều rất hạnh phúc với bản thân tôi. Phương pháp này có thể áp dụng cho các bài dạy ngữ âm trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 3, lớp 4 lớp 5. Tuy nhiên do đặc thù từng tiết dạy có những âm tiết khác nhau nên các giáo viên cần áp dụng một cách sáng tạo. Như đã đề cập ở trên, dạy ngữ âm không chỉ đơn thuần là dạy cách phát âm (phonology), mà còn phải dạy các phần rất quan trọng như: trọng âm (stress), nhịp điệu (rhythm) và ngữ điệu (intonation). Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi từ các tài liệu, tư liệu, từ bạn bè đồng nghiệp cũng như từ kinh nghiệm thực tế để có phương pháp dạy trọng âm, ngữ điệu và nhịp điệu cho phù hợp với học sinh, đồng thời hoàn thiện phương pháp dạy ngữ âm của mình. D. KIẾN NGHỊ Để đề tài thực sự đem lại kết quả, cá nhân tôi có một vài kiến nghị, đề xuất sau: - Ban giám hiệu nhà trường cùng bộ phận thiết bị cần bổ sung đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy bộ môn tiếng Anh như từ điển, sách báo, băng đĩa, máy cát sét, đèn chiếu v.v . - Các giáo viên nên vận dụng một cách sáng tạo phương pháp này sao cho phù hợp với từng đơn vị bài học và từng đối tượng học sinh cụ thể. Tránh dạy một cách rập khuôn, gây nhàm chán cho học sinh. - Để ứng dụng phương pháp mới này thật hiệu quả, tôi mạnh dạn kiến nghị tổ chuyên môn, Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức chuyên đề giới thiệu đề tài tới tất cả các bạn đồng nghiệp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, rút ra được phương pháp dạy học ngữ âm tích cực cho bộ môn Tiếng Anh tiểu học. Xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO Để tiến hành đề tài này tôi dựa trên một số tài liệu: 1. English Teaching Methodology. Nguyễn Thị Vân Lam, M.A, Ngô Đình Phương, Ph. D, 2007. 2. Tiªng Anh 3, 4, 5 . Nhµ xuÊt b¶n Gi¸o Dôc ViÖt Nam 2. Ship or Sheep? /An intermediate pronunciation course/ Third edition, Ann Baker. 3. How to Teach Pronunciation, Gerald Kelly, Pearson Longman, 2000. 4. Tips for Teaching Pronunciation: A Practical Approach, Linda Lane, Pearson Longman, 2010. 5. English Phonology and Pronunciation Teaching, Pamela Rogerson-Revell, Continuum International Publishing Group, 2011 6. Tài liệu từ các trang web :