Top 1 # Phương Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Lớp 6 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Skkn: Một Số Phương Pháp Dạy Học Từ Vựng Tiếng Anh Lớp 6

I.PHẦN MỞ ĐẦU: I.1. Lý do chọn đề tài : Hiện nay giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội và là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Đặc biệt trong thời đại ngày nay khoa học công nghệ đang phát triển rất nhanh, trong khi đó nước ta đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Để lĩnh hội được những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển đòi hỏi chúng ta phải có trình độ ngoại ngữ nhất định. Trong khi đó tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế, là phương tiện giao lưu quốc tế hữu hiệu nhất. Vì thế tiếng Anh là môn học không kém phần quan trọng đối với thế hệ trẻ đặc biệt là thế hệ học sinh.Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong họat động học tập. Áp dụng trong việc day học ngoại ngữ những định hướng đổi mới ngày càng đúng. Vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình. Giao tiếp là mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học ngoại ngữ ở trường phổ thông. Thông thường trong tiếng Anh có 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vì thế giáo viên phải kết hợp 4 kỹ năng đó. Nhưng để thực hành bất kỳ kỹ năng nào đòi hỏi các em phải có vốn từ vựng cần thiết.

b.2 Những phương pháp làm rõ nghĩa từ Quá trình nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm giảng dạy trên lớp,bản thân đã rút ra được một số phương pháp làm rõ nghĩa từ như sau: *Dùng trực quan như : đồ vật thật,tranh ảnh,hình vẽ minh họa cắt dán từ tạp chí,cử chỉ điệu bộ có tác dụng mạnh mẻ đến hứng thú học tập của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ từ nhanh hơn,lâu hơn.Vd1: Bài 2-C2/trang 28:giáo viên sử dụng vật thật có trong lớp học và vật thật chuwnj bị ở nhà để giới thiệu những từ sau: a door, a window, a board, a clock, a waste basket, a pencil, Vd2: Bài 3-A1/trang 30:giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh photo để giới thiệu các từ sau: a telephone, a lamp, a couch, a bookshelf, an armchair, a stereo, Vd3: Bài 9-B1/trang 100 giáo viên phác họa các chi tiết trên khuôn mặt để giới thiệu các từ sau: face, hair, eye, ear, nose, lips, mouth 10FaceHairEye(s)nosefamilyfathermotherrr brothersisterVd4: Bài 10-A1/trang 104 giáo viên dùng điệu bộ cử chỉ để giới thiệu các từ sau: hungry, cold Vd5: Bài 15-A1/trang 154 giáo viên dùng tranh sưu tầm để giới thiệu các quốc gia : Canada, France, China, the U.S.A, Japan… * Dùng ngôn ngữ đã học: Định nghĩa ,miêu tả: học sinh sẽ dựa vào từ đã họ và hiểu biết cơ bản đời thường để đoán ra nghĩa của từ qua định nghĩa của giáo viên bằng tiếng Anh.Phương pháp này tạo cho học sinh sự tò mò và có nhu cầu tham gia vào quá trình học tập ,đồng thời rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh.Vd1: Bài-B1/trang 65 để dạy từ bookstore, giáo viên định nghĩa như sau:Bookstore is a place where there are many books, pens, pencils, rulers, You can buy books in the bookstore.Vd2: Bài 2-C2/trang 129 để dạy từ school, giáo viên định nghĩa như sau:School is a place where there are teachers, classrooms, and many students.Vd3: Bài 15-C1/trang 163 để dạy từ forest và từ desert, giáo viên miêu tả như sau:A forest is a place where you can see many green tall trees and animals like tigers, birds, Do you know Cuc Phuong forest?In a desert it’s very hot, there are only some trees, water, no house… Do you know Sahara desert? Lưu ý : Khi sử dụng phương pháp định nghĩa miêu tả để làm rõ nghĩa của từ, chúng ta có thể kết hợp thêm ví dụ thực tế để giúp học sinh nhận biết nghĩa dễ dàng hơn.* Dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa: ta sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa để làm rõ nghĩa của từ khi học sinh đã biết nghĩa của một từ trong cặp từ dồng nghĩa, trái nghĩa.11Vd: Bài 7-B1/trang 77-Paddy field = rice paddy.-Noisy ≠ quiet Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ: học sinh đoán nghĩa của từ mới được hình thành qua từ gốc. Với quy tắc này giáo viên không những giúp học sinh nắm vững lại kiến thức mà còn giúp các em phát huy tính tích cực từ học, biết mở rộng vốn từ cho mình. Vd: work  worker; drive  driver.Tạo tình huống: giáo viên thiết lập tình huống đơn giản, dễ hiểu bằng tiếng Anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống và có thể bắt chước, sử dụng từ vào ngữ cảnh giao tiếp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe.Vd: Bài 4-C4/trang 50, giáo viên dạy từ”late”The class starts at 7 o’clock. You go to school at 7:15. You are late for school. Đoán nghĩa trong ngữ cảnh:Vd1: bài 7-C4/trang 80, dạy từ start, end.Học sinh đoán nghĩa của hai từ này trong ngữ cảnh sau: Classes start at 7:00 and end at 11:15.Vd2: Bài 4-A1/trang 44, học sinh đoán nghĩa từ”small”, “big” trong ngữ cảnh sau:Phong’s school is small, there are 200 students in his school. But Thu’s school is big, there are 1.200 students in her school. * Dich sang tiếng mẹ đẻ: – Giáo viên chỉ nên sử dụng phương pháp này khi dạy từ bị động hoặc những từ trừu tượng khó áp dụng những phương pháp trên, vì nếu giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp này sẽ trở về phương pháp cũ và sẽ gây cho học sinh cảm giác đơn điệu, nhàm chán, không phát huy được tính tư duy sáng tạo của các em.12* Lưu ý: Để đảm bảo hiệu quả của việc vận dụng những phương pháp nêu trên, giáo viên nên linh động vận dụng thay đổi những thủ thuật này một cách thích hợp, tùy theo nội dung bài và đối tượng học sinh. Ngoài ra giáo viên có thể kết hợp cùng lúc các phương pháp trên để làm rõ nghĩa của một từ nếu cần thiết. b.3 Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới: Như đã đề cập điểm nổi bật ở phương pháp dạy học mới là tạo cho học sinh được tham gia và quá trình học tập. Vậy tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới là cần thiết. Nếu giáo viên tạo được điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình dạy từ mới thì kết quả tiếp thu bài của học sinh sẽ tốt hơn nhiều các em sẽ ghi nhớ từ tại lớp. Để làm được điều đó giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật phát huy sự chủ động suy đoán, tự phát hiện của học sinh. Vd: Đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa của từ bằng vốn từ có sẵn. b.4 Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu từ mới:Trong quá trình giới thiệu từ mới giáo viên nên phối hợp các kỹ năng với nghe và đoán từ; giáo viên cho ngữ cảnh học sinh đọc và đoán từ; hoặc sau khi vừa dạy xong một từ nào đó giáo viên hỏi học sinh vài câu hỏi sử dụng từ mới đó, học sinh trả lời(luyện kỹ năng đó).Vd1: Sau khi dạy từ market, giáo viên hỏi học sinh như sauDo you live near a market?Does your mother go to the market?Vd2: Sau khi dạy từ “bike” giáo viên hỏi học sinh như sauDo you have a bike?Do you go to school by bike?Vd3: Sau khi dạy từ “read” giáo viên hỏi học sinh như sau Do you read after school? Does your father read a book?13c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp: – Điều kiện để thực hiện đề tài cần phải có sự thống nhất giữa học sinh và giáo viên, giáo viên muốn hoàn thành giải pháp một cách suôn sẻ và thành công thì điều kiện đầu tiên phải tiếp thu được những ý kiến của các đồng nghiệp, từ những học sinh mình trực tiếp giảng dạy từ đó mới đúc kết ra những giải pháp, biện pháp hay và có hiệu quả. – Sự quan tâm từ phía lãnh đạo nhà trường, sự giúp đỡ của đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm từ đó sẽ thúc đẩy được ý chí và lòng quyết tâm hoàn thành đề tài. – Sự nhiệt huyết yêu nghề luôn cháy bỏng trong lòng, luôn mong muốn có nhiều phương pháp mới trong giảng dạy giúp các em học sinh tiếp thu bài giảng nhanh và nhớ lâu hơn.d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp: – Các giải pháp luôn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau từ những cơ sở nhỏ nhất, luôn kết hợp chặt chẽ các phương pháp trong bộ môn đặc biệt là 4 phương pháp nghe, nói, đọc, viết. – Sự kết hợp từ tranh ảnh, các thiết bị dạy học tạo cho bài giảng thêm sinh động và không gây nhàm chán cho học sinh. Vì vậy một tiết học sẽ không thành công nếu như không có sự góp mặt của các thiết bị hỗ trợ dạy học. – Các biện pháp, giải pháp được thông qua luôn có tính thống nhất với nhau, các phương pháp giới thiệu ngữ liệu mới luôn được thông qua các hình thức sáng tạo từ giáo viên và cơ sở tiếp nhận là chính các em học sinh. II.4) Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứuSau một thời gian vận dụng các phương pháp nêu trên trong quá trình giảng dạy từ vựng tiếng Anh lớp 6, tôi nhận thấy tiết học ngày càng sinh động hơn, học sinh dần có thói quen chủ động tham gia vào quá trình học từ vựng và sử dụng vốn từ vào giao tiếp thực tế và có phần chuyển biến tốt hơn và đem lại kết quả khả quan. 14Kết quả đạt được của khối lớp 6 như sau:Thời gianTSHSĐiểm dưới 5 Điểm trên 50 – 23 – 4Cộng5-6 7-8 9-10CộngSL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TLGiữa HKI110 8 7,2% 22 20 % 30 27,2% 30 27,2% 29 26,4% 21 19,3% 80 72,8%HKI 110 4 3,6% 14 12,7% 18 16,3% 31 28,2% 32 29,1% 29 26,4% 92 83,7%

So với kết quả khảo sát chất lượng giữa HKI thì kết quả HKI tăng 10,9 % học sinh trên 5 điểm.Mặc dù tỉ lệ học sinh trên trung bình tăng không đáng kể nhưng đây là một kết quả đáng khích lệ sau một thời gian ngắn vận dụng sáng kiến kinh nghiệm của mình.tôi tin rằng nếu tiếp tục vận dụng sáng kiến kinh nghiệm trên một cách nghiêm túc trong quá trình dạy học thì chất lượng học tập bộ môn Tiếng Anh 6 sẽ cao hơn.III.KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ III.1: Bài học kinh nghiệm Qua quá trình nghiên cứu và sử dụng một số phương pháp dạy học từ vựng vào hầu hết mỗi tiết dạy tiếng Anh 6 năm học 2012-2013.Bản thân tôi đã đúc kết ra bài học kinh nghiệm như sau: – Dạy từ vựng chỉ là một phần của tiết học tuy nhiên nó đóng vai trò cực kì quan trọng trong sự thành công của cả tiết học bởi vì việc thực hành mẫu câu, rèn luyện kỹ năng giao tiếp có lưu loát trôi chảy thuận lợi hay không tùy thuộc vào việc học sinh có đọc được từ, nắm được nghĩa và cách sử dụng vốn từ mới hay không.15 – Với việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong quá trình dạy từ vựng cho học sinh lớp 6, tôi nhận thấy đa số học sinh hứng thú hơn tham gia vào quá trình học tập nhiều hơn, các em cảm thấy tự tin hơn trong thự hành và giao tiếp .tôi tin rằng bất cứ giáo viên nào sự dụng những giải pháp ở sáng kiến kinh nghiệm này cũng sẽ thu được nhiều thành công trong kết quả học từ vựng của học sinh nói riêng và chất lượng học bộ môn nói chung. III.2: Kiến nghị. Nếu đề tài này đạt kết quả tốt tôi xin thông qua tổ chuyên môn của trường,trình hội đồng khoa học của trường để xây dựng tốt hơn. Nếu được chấp thuận tôi xin được triển khai đề tài nghiên cứu này đến các bạn đồng nghiệp để cùng nhau thực hiện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trọng tổ bộ môn. Tôi xin chân thành cảm ơn!16

6 Phương Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Tốt Nhất Cho Trẻ

1. Nguyên tắc Goldilocks: thử thách nhưng có giới hạn

Với con người nói chung và trẻ em nói riêng, thử thách để tiến bộ là điều cần thiết song phải có giới hạn cụ thể. Với việc học từ vựng tiếng Anh của trẻ, nguyên tắc Goldilocks đồng nghĩa rằng bạn không nên ép trẻ học quá nhiều từ vựng một lúc, nhưng cũng không nên quá ít. Con số lí tưởng nhất là 5 từ mới một tuần.

2. Sử dụng từ vựng đang học trong các ngữ cảnh khác nhau càng nhiều càng tốt

Thông thường, trẻ phải nghe một từ vựng nào đó trong khoảng 4-12 lần thì não bộ của chúng mới tiếp nhận được vào kho lưu trữ của mình. Khi bạn dạy trẻ một từ vựng, hãy cố gắng đưa từ vựng đó vào cuộc sống càng nhiều càng tốt. phụ huynh có thể tìm cách sử dụng những từ vựng mà bạn đang dạy trẻ vào các cuộc hội thoại hàng ngày, vào các trò chơi cùng với trẻ để trẻ tiếp nhận một cách tự nhiên nhất. Việc sử dụng từ vựng đang học trong các ngữ cảnh khác nhau, ở bất kì thời điểm nào có thể, là cách tốt nhất giúp trẻ thực sự thông thạo từ vựng tiếng Anh.

Học từ vựng tiếng Anh cần cả một quá trình bền bỉ

3. Giải thích nghĩa rõ ràng của một từ vựng

Trong quá trình dạy trẻ từ vựng tiếng Anh, việc giải thích rõ nghĩa một cách cụ thể nhất của từ vựng đó là điều bắt buộc. Chẳng hạn với các danh từ, bạn có thể sử dụng các hình ảnh online, các hình ảnh trong sách, tạp chí để giúp trẻ hiểu rõ danh từ đó thực tế nghĩa là gì, ám chỉ cái gì. Với danh từ, hãy cố tìm cách giải thích nghĩa bằng các cách diễn đạt hoặc bằng biểu cảm. Ví dụ với từ “sad”, bạn có thể giải thích cho trẻ bằng cách diễn đạt rằng: “Khi bố không kịp về nhà ăn tối cùng mẹ con mình, bố cảm thấy rất “sad”. Hoặc đơn giản, bạn có thể giải thích từ “sad” đó bằng biểu cảm khuôn mặt buồn. Với động từ, bạn có thể dễ dàng giúp bé hiểu nghĩa bằng các hành động, cử chỉ. Chẳng hạn với từ “run”, bạn chỉ cần chạy một chỗ mà thôi.

4. Đọc, nói và viết

Trẻ chỉ thực sự thông thạo một từ vựng nào đó khi chúng có thể đọc, nói, và viết từ vựng đó. Khi trẻ bắt gặp một từ mới khi đang đọc sách và hỏi bạn cách phát âm của từ vựng đó, bạn hãy yêu cầu trẻ lặp lại cách phát âm theobạn. Tương tự, khi trẻ nghe được một từ mới từ một cuộc hội thoại nào đó, hoặc từ một chương trình trên ti vi, bạn hãy đọc to từ đó lên và yêu cầu trẻ viết lại từ đó lên giấy.

5. Đọc sách tiếng Anh hàng ngày

Sách chính là công cụ tuyệt vời nhất để giúp trẻ mở rộng vốn từ vựng của mình. Việc của bạn là cùng trẻ đọc sách tiếng Anh với tần suất thường xuyên nhất có thể. Khi trẻ thấy một từ mới, bạn hãy giải thích ý nghĩa một cách gần gũi nhất và tiếp tục đọc. Đừng dừng lại quá lâu để cố gắng giải thích ý nghĩa của từ mới đó. Bạn cần hoàn thành hết câu chuyện rồi quay trở lại với từ vựng nói trên, xác định xem bé có còn nhớ ý nghĩa mà bạn từng giải thích cho bé hay không và đi sâu hơn vào từng chi tiết.

6. Học từ vựng tiếng Anh ở mọi nơi

Đăng kí học thử tiếng Anh giao tiếp 1 thầy 1 trò

Phương Pháp Dạy Từ Vựng – Windy Bui’S System Training

nội dung trọng tâm sau:

Lý do tại sao từ vựng lại quan trọng?

Tại sao từ vựng tiếng Anh khó học?

Một số kỹ thuật giúp người học nhớ từ vựng.

Cách lựa chọn từ vựng phù hợp.

Người học cần nắm được các yếu tố nào khi học một từ vựng?

Kĩ thuật dạy từ vựng hiệu quả.

Tại sao cần dạy và học từ vựng?

Lý do đủ lớn thì hành động mới mạnh mẽ!

(Big WHY = Big ACTION).

Từ vựng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với người học, đặc biệt là với NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU. Khi đã có một lượng từ vựng nhất định, người học sẽ tự tin để “đắm” trong ngôn ngữ đó.

Và từ vựng đại diện cho một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần thiết cho việc dạy và học ngoại ngữ. Nó là cơ sở cho sự phát triển của tất cả các kỹ năng khác: đọc hiểu, nghe hiểu, nói, viết, đánh vần và phát âm. Từ vựng là công cụ chính giúp người học sử dụng tiếng Anh hiệu quả.

Khi đối mặt với người nói tiếng Anh bản địa, khi xem phim không có phụ đề hoặc khi nghe một bài hát tiếng Anh yêu thích, khi đọc văn bản hoặc khi viết thư cho bạn bè, người học sẽ luôn cần phải tư duy bằng từ.

Nói về tầm quan trọng của từ vựng, nhà ngôn ngữ học David Wilkins lập luận rằng: “Không có ngữ pháp, người ta vẫn có thể truyền đạt được một chút thông tin, không có từ vựng, không có một thông tin nào có thể được truyền tải.”. Thật vậy, mọi người cần sử dụng từ ngữ để diễn đạt nhu cầu và ý tưởng của mình.

Theo kinh nghiệm làm giáo viên, tôi nhận thấy thực tế là học sinh thường gặp khó khăn khi nói tiếng Anh trôi chảy. Đa số học sinh thường cảm thấy căng thẳng khi phải giao tiếp, cảm thấy mệt mỏi khi phải viết  vì họ “bí từ” nên thường sử dụng cùng một cách diễn đạt và từ ngữ. Do đó, cuộc trò chuyện của họ bị gián đoạn đột ngột rất nhanh. Và lý do chính cho các vấn đề giao tiếp như vậy là thiếu từ vựng.

Một số học sinh khác đang phải đối mặt với vấn đề quên từ ngay sau khi giáo viên dạy hoặc sau khi xem trong từ điển. Lý do học sinh dễ quên như vậy cũng là vì yếu từ vựng. Sự thật là càng biết nhiều từ, người học càng dễ dàng nhớ từ vựng mới!

Giáo viên đóng vai trò thiết yếu trong việc giúp học sinh cải thiện vốn từ vựng. Để làm được điều này, là giáo viên tiếng Anh thế kỉ 21, chúng ta cần loại bỏ phương pháp giảng dạy theo “Chủ Nghĩa Nghe Nhìn”, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của việc dạy cấu trúc ngữ pháp. Thay vào đó, hãy tạo ra thật nhiều hoạt động giảng dạy để học sinh được tiếp xúc, ứng dụng từ vựng một cách đa dạng, đặc biệt trong các hoạt động giao tiếp.

2. Tại sao từ vựng tiếng Anh khó học?

Trên thực tế, nếu bạn nhìn vào từ vựng của tiếng Anh, 26% tiếng Anh là tiếng Đức có nguồn gốc, gần 30% là tiếng Pháp và gần 30% gốc Latin.

điều này có nghĩa là người nói tiếng Pháp có thể học tiếng Anh tương đối dễ dàng, vì có nhiều từ vựng giống tiếng mẹ đẻ của họ. Tương tự với người nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan. Nếu ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta giống với tiếng Anh thì việc học ngôn ngữ này sẽ dễ dàng hơn một chút.

Một lý do khiến tiếng Anh khó học nữa là tiếng Anh có một hệ thống đánh vần khó hiểu, ngay cả đối với người bản ngữ hoặc trẻ em đi học.

Ví dụ: “dough”, “tough” và “bough” – tất cả đều có cùng một cách viết, nhưng được phát âm hoàn toàn khác nhau.

Hiện tượng biến nghĩa: Một lý do khác là tiếng Anh có một đặc thù: hiện tượng cụm động từ (phrasal verb) – một động từ có nghĩa được thay đổi bởi một từ nhỏ đi cùng nó.

Ví dụ: với động từ “look”, chúng ta có thể tạo ra nhiều cụm từ có nghĩa khác với từ gốc chỉ bằng cách thêm giới từ vào – “look for”, “look after”, “look up”,…

Thành ngữ là yếu tô làm cho tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ khó học. Tất cả các ngôn ngữ đều có thành ngữ nhưng thành ngữ trong tiếng Anh rất đa dạng và không đoán trước được. Ví dụ: ‘she kicked the bucket’, có nghĩa là ‘she died’. 

3. Một số thủ thuật không thể thiếu giúp học sinh nhớ từ vựng.

Luôn dạy từ vựng trong ngữ cảnh, trong câu.

Để giúp học sinh nhớ từ và sử dụng được từ vựng, giáo viên luôn nhớ KHÔNG BAO GIỜ chỉ dạy trong ngữ cảnh như trong các câu chuyện, các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, hay các hoạt động quen thuộc với người học.

Ví dụ, các đám mây, mưa, nắng,..hoặc có thể sử dụng Biểu đồ thời tiết để nói về tình hình thời tiết trong 3 ngày hay 1 tuần.

Ngay sau khi giới thiệu từ vựng mới, giáo viên cần có hoạt động giúp học sinh thực hành. Và đảm bảo những từ vựng đó sẽ được lặp lại ở các buổi tiếp theo, học sinh có cơ hội sử dụng lại các từ đó thì mới có thể đưa chúng vào bộ nhớ dài hạn.

Ví dụ: giáo viên có thể sử dụng trò chơi để luyện tập từ vựng ngay sau khi dạy. Sau đó chuyển sang một hoạt động khác rồi có một phần ôn tập nhanh các từ vựng đã học vào cuối buổi học. Các từ vựng này, tiếp tục được củng cố lại vào buổi học sau đó. Và nên cân nhắc tạo cơ

Não bộ của chúng ta chia làm 2 bán cầu – bán cầu não trái và bán cầu não phải. Bán cầu não trái điều khiển chức năng ngôn ngữ, bán cầu não phải điều kiển chức năng ghi nhớ bằng hình ảnh. Khi chúng ta nói – lời nói có thể dễ dàng theo gió bay và biến mất trong một vài giây. Nhưng khi chúng ta được nhìn hình ảnh, não bộ của chúng ta lại xử lý thông tin theo một cách hoàn toàn khác – hình ảnh sẽ được lưu lại trong bộ não lâu hơn cho dù người học có thuộc phong cách học tập này hay không.

Vì vậy, khi dạy, chúng ta hãy cố gắng sử dụng hình ảnh, các bức vẽ, áp phích nhiều nhất có thể và nên sử dụng các hình ảnh khác nhau để thể hiện cùng một từ vựng để kiểm tra khả năng ghi nhớ từ vựng đã được học của học sinh.

Làm cho các từ vựng thật “đáng nhớ”

Khoa học não bộ chỉ ra rằng, bộ não của chúng ta có thể dễ dàng ghi nhớ nếu từ vựng/thông tin đó được giới thiệu trong các hoàn cảnh đặc biệt như hình ảnh độc đáo, ngôn từ hài hước, hành động “dị” lạ,…

Ví dụ: khi dạy từ vựng về cảm xúc, hãy sử dụng khuôn mặt của bạn để thể hiện các trạng thái cảm xúc đó, có thể xen chút hài hước khi bạn mô tả từ. Biểu cảm và hành động dị lạ như vậy sẽ làm cho học sinh cười và khả năng ghi nhớ từ sẽ cao hơn nhiều.

Tương tự, bạn cũng có thể vẽ những hình ảnh thật ngộ nghĩnh lên bảng để thể hiện từ mà bạn muốn học sinh ghi nhớ rồi tô màu.

Sử dụng từ trọng cụm/sơ đồ

Việc sắp xếp các từ thành cụm sẽ giúp tạo liên kết giữa các từ với nhau và giúp hệ thống hóa kiến thức được học. Đây là phương pháp giúp người học ghi nhớ bài học một cách khoa học và dễ dàng.

Ví dụ số 1:

Ví dụ số 2:

Trong ví dụ số 2: giáo viên đã thêm màu sắc để làm nổi bật sơ đồ từ vựng cần ghi nhớ. Bằng việc sử dụng mã màu, học sinh dễ dàng phân biệt được các loại từ giúp cho việc học trở nên thuận lợi hơn. Đối với ví dụ này, học sinh được củng cố kiến thức rất đa dạng như – từ đồng nghĩa (màu xanh lá), từ trái nghĩa (màu đỏ) và “collocations” từ thường đi kèm để tạo nên một từ mới có nghĩa.

Ví dụ số 3:

*Lưu ý:

Bạn có thể gợi ý cho học sinh tìm kiếm từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong website:

Synonyms and Antonyms (green and red connections): http://www.thesaurus.com/

Và Collocations (blue connections) trong website:

http://www.freecollocation.com/

*Một số cách thức áp dụng Word Webs trong lớp học

Cách số 1: Củng

 Chia lớp thành các nhóm nhỏ, cho mỗi nhóm 3-4 phút và yêu cầu các thành viên trong nhóm làm việc cùng nhau để tạo ra một “Word web” cho một từ cụ thể. Giáo viên hướng dẫn các thành viên liệt kê ra nhiều hỏi lẫn nhau rất tuyệt vời. Sau khi hoàn thành, yêu cầu các trưởng nhóm chia sẻ nội dung của nhóm mình. Và hãy khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, đánh giá chéo, bổ sung ý kiến để rèn các kĩ năng cần thiết khác.

Cách số 2:

Tạo nhóm nhỏ hoặc cả lớp cùng chơi. này bao gồm cả từ trung tâm. Yêu cầu học sinh điền vào Word Web các từ đã cho. Hoạt động này giúp học sinh tư duy đúng, phân biệt được từ loại, từ khóa và các từ vựng

Cách số 3:

thật lớn, dán lên tường trong phòng học. Sau mỗi một bài học, bạn dành thời gian cho học sinh điền từ vựng mới được học vào poster đó, có thể đi kèm ví dụ, học sinh có thể củng cố toàn bộ kiến thức được học một cách dễ dàng, đầy đủ.

Bên cạnh đó, sau mỗi buổi học, bạn cũng có thể yêu cầu học sinh lựa chọn 1 từ vựng trong số đó để nghiên cứu tại nhà (bài tập về nhà) và chia sẻ lên poster vào buổi học tiếp theo. Bạn nên giao nhiệm vụ cần làm cho học sinh sau khi đã chọn từ như – đặt câu với từ đã chọn, viết nghĩa của từ, các từ đi kèm, loại từ,…

Cách số 4:

Ý tưởng tuyệt vời này phù hợp với các bài đọc, câu chuyện có nhân vật. Thay vì bắt đầu web với tên của một từ vựng, bạn cần bắt đầu với tên của một nhân vật xuất hiện trong câu chuyện hay bài đọc mà bạn các suy nghĩ của học sinh về nhân vật được đọc, nghe trong bài.

Cách thực hiện hoạt động này như sau:

Bạn chia học sinh theo nhóm nhỏ, cho mỗi nhóm chọn nhân vật của mình hoặc bốc thăm chọn nhân vật. Sau khi hoàn thành web thể hiện nhân vật của nhóm. Bạn có thể cho từng nhóm thuyết trình về nhân vật của mình.

Sử dụng từ trọng cụm (Phrases/Collocations)

Để sử dụng được ngôn ngữ, học sinh không thể chỉ biết từ đơn lẻ, mà phải học từ trong cụm, nắm được những kết hợp từ hợp lý.

Ví dụ : khi dạy từ  «appoitment », giáo viên nên dạy cả cụm « make an appoitment », học từ “meeting” thì có thể dạy luôn cụm “cancel a meeting”.

Đọc to từ vựng khi luyện tập

Khi đọc thành tiếng thì khả năng ghi nhớ từ tốt hơn, phát âm cũng tốt hơn so với việc đọc thầm. Giáo viên nên kết hợp các hoạt động bao gồm đọc to thành tiếng trong lớp học để đạt hiệu quả hơn.

Huấn luyện học sinh

Giáo viên cần nâng cao nhận thức của học sinh về việc ghi nhớ thông tin mới, gợi ý một số cách thức giúp kiến thức có thể lưu lại trong bộ nhớ dài hạn của học sinh được dễ dàng. Giáo viên có thể áp dụng một vài cách bên dưới :

+ Cố gắng sử dụng thật nhiều các từ mới học cả trên lớp lẫn ở nhà. Trong lúc nghe, đọc tiếng Anh, xem phim,…hãy tìm ra những từ mới học, những câu thành ngữ có chứa từ đó và chú ý cách các từ này được sử dụng trong nhiều bối cảnh, nội dung khác nhau.

+ Viết thành những mẩu truyện ngắn, đoạn văn ngắn, sử dụng tất cả các từ vựng học sinh đang cần học. Đây là cách xâu chuỗi từ ngữ, tạo sự liên kết để ghi nhớ dễ dàng.

+ Sử dụng mình.

+ Viết các từ mới muốn học cùng với câu mẫu vào một cuốn sổ tay nhỏ và mang nó theo người. Bạn có thể đọc nó, tự kiểm tra bất cứ khi nào như khi đợi xe buýt, xếp hàng,…Giáo viên nên gợi ý học sinh sử dụng các kĩ thuật viết «notes » như sử dụng sơ đồ cây, mạng nhện, sơ đồ bong bóng, hình ảnh,…để việc việc ghi chép thú vị và kích thích ghi nhớ.

4. Lựa chọn từ vựng như thế nào cho phù hợp.

Lựa chọn từ vựng phù hợp đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giảng dạy của một giáo viên và ảnh hưởng lớn tới sự hiệu quả học tập của học sinh. Khi lựa chọn từ để dạy, giáo viên luôn tự đặt cho mình một số câu hỏi sau :

+ Những từ vựng sẽ dạy có phù hợp với học sinh hay không ? Tùy từng độ tuổi và trình độ của người học mà giáo viên lựa chọn từ vựng phù hợp. Đối với học sinh quanh học sinh. Đối với người đã có một lượng kiến thức cơ bản, từ vựng phù hợp là từ mới với người học.

+ Từ vựng sẽ dạy có phổ biến hay có tính ứng dụng vào cuộc sống thực tế không ?

+ Từ vựng lựa chọn có khả thi để dạy không ? Tức là giáo viên cần cân nhắc xem từ vựng muốn dạy có phù hợp với khả năng, năng lực nhận thức của học sinh hay không ? Đặc biệt đối với học sinh mới bắt đầu, từ vựng khả thi phải là những từ vựng có thể sử dụng mô hình, vật thật, hình ảnh mình họa rõ ràng dễ nhận biết.

5. Người học cần nắm được các yếu tố nào khi học một từ vựng?

Khi học/dạy một từ vựng mới, giáo viên cần đảm bảo học sinh của mình nắm được các kiến thức

Nghĩa của từ vựng

Hiểu nghĩa của từ được học là một trong những yếu tố quan trọng  giúp người học có thể sử dụng được từ. Khi dạy, giáo viên cần lưu ý làm rõ nghĩa của từ, đồng thời kiểm tra xem học sinh đã hiểu chính xác hay chưa bằng cách đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời.

Cấu tạo của từ :

Khi học từ mới, học sinh cũng cần nắm được từ được học thuộc loại từ loại nào tính từ, động từ, danh từ,…để có thể sử dụng từ đó một cách hiệu quả.

Từ vựng mới được phát âm như thế nào ?

Đối với mỗi từ mới, giáo viên nên viết cả phiên âm, đánh dấu trọng âm của từ để học sinh dễ dàng phát âm chuẩn xác. Giáo viên cũng cần chú ý phát âm mẫu vài lần, hoặc sử dụng loa phát âm mẫu để học sinh được nghe và bắt chước cách phát âm và nhấn trọng âm. Bên cạnh đó, đối với từ có chứa âm khó, giáo viên có thể bôi màu, đánh dấu, và cùng học sinh luyện phát âm nếu cần.

Từ vựng mới được viết như thế nào ?

Giáo viên nên hướng dẫn học sinh phát âm từ mới một cách chính xác trước khi giới thiệu dạng viết của từ.

Từ vựng đó được sử dụng như thế nào ?

Ví dụ từ « major » là tính từ nhưng chỉ đứng trước danh từ.

Các từ đồng nghĩa và trái nghĩa phổ biến với nó là những từ nào ?

Những từ vựng nào đi thường đi cùng để tạo ra một cụm từ có nghĩa.

Ví dụ, chúng ta thường dùng « raise you hand » chứ không nói “lift your hand” hay khi mô tả sự vật, người ta thường dùng “in great detail” chứ không dùng « in big detail ».

Từ đó có phụ tố (tiền tố hay hậu tố) gì không ?

Từ vựng đó có bao gồm những yếu tố ngữ pháp bất thường hay không ?

Ví dụ : woman è women, là từ không đếm được, hay thường đi với một giới từ cụ thể (believe in, depend on).

6. Kĩ thuật dạy từ vựng hiệu quả.

Kĩ thuật giúp giáo viên truyền tải nghĩa của từ tới học sinh sinh động, hiệu quả tuyệt vời !

Đây là kĩ thuật phổ biến, đơn giản và hiệu quả cực cao đối với học sinh, đặc biệt là những học sinh thuộc nhóm học theo phong cách học tập thông qua hình ảnh. Những từ vựng là danh từ, động từ thường dễ áp dụng hình ảnh nhất, nhưng không phải từ

+ Sử dụng hành động, động tác mô tả từ (TPR)

Kĩ thuật này đặc biệt tốt trong khi dạy các từ vựng là các động từ chỉ hành động. Áp dụng kĩ thuật này sẽ làm cho bài học trở nên thú vị và đáng nhớ.

+ Gợi ý từ đồng nghĩa/trái nghĩa mà học sinh đã biết để làm rõ nghĩa cho từ mới.

+ Giải thích nghĩa :

Giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng những từ ngữ, câu đơn giản để giải thích nghĩa. Sau đó, đặt câu hỏi ngược lại để kiểm tra xem học sinh đã hiểu chính xác nghĩa của từ mới hay chưa.

+ Đặt từ vào trong câu/đoạn/bối cảnh

Có thể sử dụng một đoạn trong bài hát, câu chuyện có chứa từ vựng mới, cùng học sinh đọc câu mẫu với từ vừa học.

+ Dịch sang tiếng mẹ đẻ :

Là cách nhanh nhất giúp học sinh hiểu nghĩa của từ mới. Nhưng đây không phải là cách được khuyến khích vì một số lý do như khiến cho học sinh lười suy nghĩ và ỉ lại, không phải từ vựng nào cũng có thể dịch chính xác, phản xạ của học sinh bị chậm đi vì phải tư duy cùng lúc hai ngôn ngữ khác nhau.

+ Hiện thực hóa từ vựng

Sử dụng mẫu vật thật là một trong các kĩ thuật tuyệt vời nhất giúp học sinh ghi nhớ từ vựng mới nhanh và đầy hào hứng. Kĩ thuật này kết hợp cả 3 phong cách học tập của người học nên sẽ phù hợp với tất cả các lứa tuổi, trình độ. Cách làm: giáo viên cho cả lớp được nhìn vật thật, giáo viên đọc/phát âm/giới thiệu tên gọi của đồ vật đó trước lớp, viết từ đó lên bảng, sau đó cho học sinh truyền tay nhau đồ vật, đồng thời đọc to tên gọi của đồ vật đó. Bằng cách này, giáo viên đã kích thích hầu hết các giác quan của người học và là lý do để người học khắc sâu từ mới vào bộ nhớ của mình.

+ Hát to từ vựng

 Sử dụng âm nhạc trong giảng dạy là công cụ vô cùng độc đáo để tạo không khí lớp học sôi động và vui vẻ. Ngôn ngữ thuộc về não trái, âm nhạc thuộc não phải do đó, khi giáo viên biết kết hợp âm nhạc vào trong việc học ngôn ngữ đồng nghĩa với người giáo viên đã cùng lúc giúp kích hoạt 2 bán cầu não của người học. Ví dụ, giáo viên có thể sử dụng những giai điệu quen thuộc trong các bài hát như Twinkle, Twinkle little star hay Happy birthday…để tạo ra một bài hát mới bao gồm các từ vựng vừa dạy.

+ Kĩ thuật đặt câu hỏi

Bên cạnh việc giảng nghĩa của từ, tuyệt vời để học sinh thực hành, luyện phản xạ, củng cố kiến thức đã học. Ví dụ khi bạn dạy từ vựng “run”, bạn có thể đặt một số câu hỏi như:

Can you run?

What animals can run?

What other words do you know that are similar to this word “run”?

+ Nói ra nghĩa của từ thông qua các ví dụ cụ thể

Để dạy từ “overeat” – giáo viên có thể một câu thể hiện được nghĩa của từ này như “I eat too much food. I overeat.”

“undercook/rare” – “The steak I ordered last night was not cooked enough. It was undercooked/rare.”

dành cho học sinh đã có nền tảng tiếng Anh cơ bản:

+ Bạn chia học sinh theo nhóm nhỏ, giao cho mỗi nhóm 1 “set” bao gồm 3-5 từ vựng bạn muốn học sinh học (các từ này được viết trên các mẩu giấy màu khác nhau), nghĩa của các từ này (cũng được viết trên các mẩu giấy), cách phát âm của mỗi từ. Các vựng, cách phát âm và nghĩa. Sau khi các nhóm hoàn thành, giáo viên sẽ cho từng nhóm chia sẻ và tự điều chỉnh, so sánh với đáp án của giáo viên. Lúc này, giáo viên sẽ phát âm mẫu, cả lớp đọc đồng thanh, gọi một vài bạn phát âm lại, rồi trong nhóm tự luyện phát âm và sửa lỗi cho nhau.

Hoạt động thực hành: giáo viên tiếp tục giao nhiệm vụ cho nhóm đặt câu với mỗi từ vựng đó. Khi hoàn thành, giáo viên sẽ gọi ngẫu nhiên một thành viên của mỗi nhóm lên kết quả cuối cùng.

+ Giáo viên chia theo 2 cột, 1 cột là từ vựng và cách phát âm, 1 cột là nghĩa của từ và sắp xếp ngẫu nhiên. Giao cho mỗi học sinh 1 bài, giới hạn thời gian và yêu cầu học sinh nối từ với nghĩa của nó ở cột đối diện. Sau đó, giáo viên gọi ngẫu nhiên (sử dụng random name pickers hoặc xoay bút, bốc thăm, bốc số lá bài…) để gọi một vài học sinh lên chia sẻ đáp án của mình trước lớp. Nếu học sinh nào đồng ý với đáp án của bạn lên chia sẻ thì giơ tay để giáo viên nắm được kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Cuối cùng, giáo viên sẽ là người chốt đúng sai và đưa ra hoạt động thực hành.

+ Bạn muốn sinh phân loại từ vựng theo nhánh “sea/land/air”.

+ Giao viên giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh tìm từ vựng mới trong bài đọc trong sách giáo khoa/trong bài hát…. Sau đó, tự tra từ điển để biết cách đọc, biết nghĩa, và đặt câu với các từ mới đó. Buổi học tiếp theo, giáo viên sẽ gọi trên tinh thần xung phong hoặc ngẫu nhiên, để học sinh lên dạy lại cho cả lớp các từ mình đã tự nghiên cứu. Giáo viên sẽ giám sát, hỗ trợ giải thích và điều chỉnh nếu cần.

***Luôn nhớ rằng, dù bằng bất cứ kĩ thuật nào, bạn cần phải dạy từ trong câu, trong ngữ cảnh và luôn tạo cơ hội để học sinh được thực hành nhiều nhất!

Là giáo viên, bạn cũng là người truyền cảm hứng, luôn khuyến khích học sinh chủ động trong học tập, tự giác học. Bạn hãy hướng học sinh cách học chủ động thông qua đọc sách, xem phim, nghe các bài hát tiếng anh,…và viết lại những câu, từ, cụm từ mới hoặc hữu ích.

Nếu bạn dùng bảng, hãy cố gắng sử dụng bút nhiều màu để kích thích thì giác và khả năng ghi nhớ của não bộ của học sinh. Dùng bút màu khác nhau cho loại từ khác nhau, phát âm,…

Hãy kết hợp dạy từ, với cách đọc phiên âm của từ và nghĩa của chúng. Luôn mang theo mình một cuốn từ điển hoặc tải từ điển về máy để dùng khi học sinh hỏi mà bạn lại không

Trong trường hợp bạn bạn. Bạn đừng ngại vì không ai là hoàn hảo phải không nào?

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Dạy Từ Vựng Môn Tiếng Anh Lớp 7

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7 A. Mục đích, sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến Như chúng ta đã biết, từ nhiều năm nay Tiếng Anh đang được coi là ngôn ngữ chung , phổ biến nhất trên toàn thế giới. Việc học ngoại ngữ ngày càng được phổ biến rộng rãi và môn học này đang trở thành môn học bắt buộc trong các nhà trường. Bởi vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để có được những giờ dạy ngoại ngữ đạt hiệu quả và chất lượng cao? Để đáp ứng được yêu cầu này người giáo viên phải luôn hoàn thiện mình không chỉ về trình độ chuyên môn mà còn cần phải thay đổi phương pháp dạy học .Theo quan điểm đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo được khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Và trong dạy học ngoại ngữ, những định hướng đổi mới này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm bắt các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình. Giao tiếp là mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường phổ thông. Nhưng để thực hành giao tiếp được bằng tiếng anh, ngoài các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết đòi hỏi các em phải có vốn từ vựng cần thiết. Tuy nhiên, việc học từ vựng tiếng anh đối với học sinh THCS hoàn toàn không đơn giản. Đa số các em cảm thấy việc học từ vựng rất khó và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác tiếng mẹ đẻ. Từ đó, dẫn đến việc học từ vựng của các em trở nên căng thẳng. Vậy làm thế nào để giúp các em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có thể sử dụng vốn từ đã học được vào thực hành giao tiếp. Chính do nhận thấy được sự cần thiết của việc học và ghi nhớ từ vựng nên ngay từ đầu năm học 2014-2015, khi được phân công giảng dạy môn Tiếng Anh 7 tôi đã tiến hành chọn nghiên cứu và áp dụng thực tế đề tài "MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7" nhằm nâng cao hơn chất lượng dạy và học đáp ứng được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học. B. Phạm vi triển khai thực hiện Phạm vi của đề tài là nghiên cứu về thực trạng học tập của học sinh lớp 7 từ đó đưa ra một số phương pháp dạy từ vựng cho học sinh hai lớp 7 (7A1,7A2) trường THCS Rạng Đông - xã Rạng Đông - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên trong năm học 2014-2015. C. Nội dung 1.Lí do chọn đề tài Giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội và là tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Vì giáo dục cung cấp nhân tài và nhân lực cho xã hội. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, công nghệ, koa học, kỹ thuật đang phát triển rất nhanh. Để lĩnh hội được những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển đòi hỏi chúng ta phải có trình độ ngoại ngữ nhất định. Mà tiếng anh đang là ngôn ngữ quốc tế, là phương tiện giao lưu quốc tế hữu hiệu nhất. Vì thế, tiếng anh là môn học không kém phần quan trọng trong các nhà trường phổ thông. Nó giúp chúng ta có thể hội nhập cùng sự phát triển nhanh chóng của thế giới, về mọi mặt. Về bản thân, tôi nhận thấy việc học ngôn ngữ ngoài việc nắm vững kiến thức về hệ thống ngữ pháp, điều không thể thiếu để học tốt ngoại ngữ đó là vốn từ vựng. Nhưng để dạy và học từ vựng như thế nào cho thật hiệu quả, đó là lí do tôi chọn nghiên cứu đề tài này. 2. Mục đích đề tài. Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng ý kiến, đóng góp vào tiếng nói chung của công tác giảng dạy Tiếng Anh tại trường THCS, thông qua đó đưa ra một số phương háp dạy từ vựng môn tiếng anh lớp 7 giúp các em học sinh thật sự có hứng thú trong việc học tập môn Tiếng Anh. 3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương pháp dạy từ vựng phù hợp với từng nội dung đơn vị bài học của chương trình Tiếng Anh 7, cụ thể là nghiên cứu về khả năng tiếp thu và diễn biến học tập của các em học sinh lớp 7A1, 7A2. 4. Phạm vi nghiên cứu. - Về không gian: Các em học sinh lớp 7A1, 7A2 trường THCS Rạng Đông. -Về thời gian nghiên cứu được thực hiện theo 4 giai đoạn của năm học. Giai đoạn 1:Từ đầu năm đến giữa HKI. Giai đoạn 2:Từ giữa HKI đến hết HKI. Giai đoạn 3:Từ đầu HKII đến giữa HKII. Giai đoạn 4:Từ giữa HKII đến cuối năm học. 5.Phương pháp nghiên cứu. a.Phương pháp đọc tài liệu. b.Phương pháp điều tra. Tiến hành thực nghiệm, kiểm tra và so sánh kết quả đánh giá học sinh qua từng giai đoạn để kiểm chứng các phương pháp đã nghiên cứu có phù hợp chưa và có mang lại kết quả tốt không. c.Phương pháp đàm thoại. Thường xuyên trao đổi các kinh nghiệm hay từ các đồng nghiệp trong nhóm ngoại ngữ để tìm ra thêm các phương pháp dạy từ vựng hay. Trao đổi với các đồng nghiệp trong các buổi họp tổ để được đóng góp ý kiến. d. Phương pháp thực nghiệm. Đăng kí dạy chuyên đề, dạy rút kinh nghiệm, dự giờ thường xuyên để rút kinh nghiệm từ các phương pháp dạy từ đã dùng. II. PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lý luận Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp lên lớp nói riêng là việc làm quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện hành đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Để làm được điều đó mỗi người giáo viên cần phải tìm tòi, sáng tạo trong từng hoạt động dạy học. " Lý luận dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố co ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của trẻ. Hứng thú là yếu tố dẫn tới tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực độc lập sáng tạo trong học tập. Ngược lại phong cách học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác. F.Bruno cho rằng hứng thú nhận thức được hình thành qua việc tổ chức học tập như những hành động khám phá. Theo E.P.Brounovt, "Một niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành các công tác độc lập dài hơn.". Nếu học sinh được độc lập quan sát, so sánh, phân tích khái quát hóa các sự kiện hiện tượng thì các em sẽ hiểu sâu sắc và hứng thú bộc lộ rõ" ( Trích: Mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức - Quyển Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS của Bộ giáo dục và đào tạo). 2. Cơ sở thực tiễn. Như chúng ta đã biết Tiếng Anh là một môn học tương đối khó với học sinh, nhất là học sinh vùng cao thậm chí nói tiếng phổ thông còn chưa rõ thì việc làm thế nào để gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học ngoại ngữ luôn là câu hỏi mà các giáo viên dạy ngoại ngữ đều muốn tìm ra câu trả lời. Thực tế cho thấy, hầu hết các em học sinh là người dân tộc ít người, mới tiếp xúc với bộ môn Tiếng Anh nên còn nhiều e dè, ngại ngùng khi giao tiếp. Một số em biết nhưng không dám giơ tay, không dám nói vì ngại, một số em khác không dám phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn chê, cô giáo cười. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. 3. Thực trạng của đề tài nghiên cứu. * Thực trạng học sinh. Học sinh lớp 7A1 và 7A2 có tổng số là 64 em, trong đó bao gồm đủ các học sinh từ trung bình, khá, giỏi đến yếu, kém. Số học sinh khá, giỏi của lớp rất năng động, sáng tạo, tích cực học tập, tiếp thu bài tốt, tham gia tích cực vào các hoạt động của bài học. Ngược lại số học sinh yếu, kém lại rất lười học tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có khả năng tham gia vào các hoạt động của bài học. Có những phương pháp dạy từ vựng tạo được nhiều hứng thú cho học sinh khá, giỏi nhưng số học sinh yếu, kém lại không đủ khả năng tham gia tích cực, ngược lại có nhiều hình thức được sự hưởng ứng nhiệt tình của những học sinh yếu, kém nhưng lại gây nhàm chán cho số học sinh khá, giỏi. *Thực trạng cơ sở vật chất-đồ dùng dạy học. Trường THCS Rạng Đông vừa được xây dựng hoàn chỉnh, trường lớp khang trang, sạch đẹp. Nhà trường có phòng trình chiếu riêng nên giáo viên có thể sử dụng máy chiếu và dạy giáo án điện tử. Có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc đổi mới thực hiện nhiều hình thức, phương pháp dạy học. Trường được trang cấp bảng từ ở các lớp rất thuận tiện cho việc sử dụng đồ dùng dạy học và các thiết bị hỗ trợ khác. Dựa trên những điều kiện thuận lợi đó nhà trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn Tiếng Anh theo đúng quy định của chương trình. Tuy nhiên thực tế của việc dạy và học môn Tiếng Anh của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả còn thấp, chất lượng học tập chưa cao, số học sinh đạt điểm dưới trung bình còn nhiều. *Chất lượng khảo sát đầu năm của 2 lớp 7 như sau: TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém 64 4. Nguyên nhân của thực trạng. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chính như sau: - Mức độ tiếp thu bài của các em không đồng đều gây khó khăn cho việc chọn lựa các phương pháp thật phù hợp. - Trăm phần trăm học sinh là con em các dân tộc ít người, nói tiếng phổ thông còn chưa rõ, môi trường giao tiếp ngoại ngữ của các em chưa có, các em không có điều kiện thực hành giao tiếp thường xuyên dẫn đến các em e dè, ngại nói, ngại thể hiện ý tưởng của mình bằng ngoại ngữ . 5. Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài. Để giúp học sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú học từ vựng, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn, có thể sử dụng vốn từ mới học vào thực hành ở lớp trôi chảy và chủ động huy động vốn từ đã tích lũy được để bắt chước, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng sử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp. Thì vấn đề đặt ra đối với các giáo viên trong quá trình soạn giảng và dạy từ vựng là: Chọn từ để dạy. Sử dụng các thủ thuật phù hợp để làm rõ nghĩa của từ. Tăng cuờng sự tham gia của học sinh ở các buớc giới thiệu từ mới. Sử dụng phối hợp các kỹ năng ở các bước giới thiệu từ mới. Chọn từ để dạy. Thông thường trong mỗi bài học sẽ luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng đều đưa vào giảng dạy như nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét những câu hỏi sau: * Từ chủ động hay từ bị động? - Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là ngững từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được trong giao tiếp nói và viết. - Từ bi động (passive/ receptive vocabulary) là những từ mà học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc Ex 1: Unit 12 Let's eat ! - tiết 73 (A1) trang114, từ mới cần dạy là: pork, stall, spinach, cucumber, papaya, durian, neither, either. Từ chủ động: pork, spinach, cucumber, papaya, durian Từ bị động: stall, neither, either Ex 2: Unit13 Activities tiết 80(A1) trang 129, Từ mới cần dạy: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, result, choice, eventhough, surprisingly. Từ chủ động: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, choice Từ bị động: result, eventhough, surprisingly *Học sinh đã biết từ này chưa? Giáo viên cần xác định rõ từ mình caanfdayj có thực sự là từ cần dạy hay không. Để tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết, và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ này chưa. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật như: eliciting, brainstorming, net work, thước khi giới thiệu từ mới. Ex: Unit 13 Activities Period 80 (A1) trang 129, giáo viên ôn lại từ đã học bằng thủ thuật: network. sports basketball badminton tennis football volleyball table tennis 2. Những thủ thuật làm rõ nghĩa của từ, Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm giảng dạy trên lớp, tôi đã rút ra đuợc một số thủ thuật làm rõ nghĩa từ như sau: *Dùng trực quan: Đồ vật thật (realia), tranh ảnh(picture), hình vẽ phác họa (hình que), hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ, điệu bộ (mime) có tác dụng mạnh mẽ đến hứng thú học tập của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ từ nhanh hơn và lâu hơn Ex 1: Unit 5 Work and play- B1 trang 56: giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh photo để giới thiệu các từ sau: play blindman's buff Play catch play marbles Chat (v) Ex 2: Unit 7 The world of work - B2 trang 72: giáo viên sử dụng tranh để giới thiệu các từ sau: Buffalo(n) Chicken coop Chicken coop (n) Buffallo shed(n) Feed (v) Feed (v) Pig (n) Ex 3: Unit 9 At home and away A 2 trang 87, 88: Giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh sưu tầm từ sách, báo, tạp chí Shark(n) dolphin (n) turtle (n) crab (n) Ex 4: Unit 12Let's eat! A 3 trang 116: Giáo viên sử dụng đồ vaath thật hoặc vật mẫu để giới thiệu các từ sau: a plate, a pan, chopsticks, a spoon, soy sauce, salt, pepper. Ex 5: Unit 12 Let's eat! B 1 trang 119: Giáo viên dạy từ "dirty". Giáo viên giơ đồ lau bảng sạch lên và nói "It is clean". Sau Sau đó lấy đi lau bảng làm cho bẩn và nói "Now it is dirty" Ex 6: Giáo viên dùng cử chỉ điệu bộ để dạy các từ sau: to cut (Unit 9 - B1 trang 92), to comb (Unit 10 - A 3 trang 101) b) Dùng từ đã học b1. Định nghĩa (definition), miêu tả, giả ithích (explanation): Học sinh sẽ dựa vào từ đã học và hiểu biết cơ bản dời thường để đoán ra nghĩa của từ. thủ thuật này tạo cho học sinh sự tò mò và có nhu cầu tham gia vào quá trình học tập đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe cho học sinh. Ex 1: Unit 6 After school - B2 trang 65 để dạy từ: teenager giáo viên định nghĩa như sau; A teenager who is a person aged between 13 and 19 years old. Ex 2: Unit 7 The world of work - B1 trang 76 để dạy từ: homeless people, a mechanic giáo viên định nghĩa như sau: Homeless people are people who have no house to live. A mechanic is a person whose job is to repair and work with machines. Ex 3: Unit 3 At home - A 1 trang 29 để dạy từ: a bathroom giáo viên miêu tả như sau: A bathroom is a room where there is a shower to take a shower, a toilet, a place to wash your hands, etc. ¯Lưu ý: Khi sử dụng định nghĩa, miêu tả để làm rõ nghĩa của từ, chúng ta có thể kết hợp thêm ví dụ thực tế để giúp học sinh nhận biết nghĩa dễ dàng hơn. Ex: Để dạy từ: forest, giáo viên mô tả và cho ví dụ như sau: A forest is a place where you can see many green tall trees and animals like tigers, birds, . Do you know Cuc Phương forest? b2. Dùng từ trái nghĩa (antonym), đồng nghĩa (synonym): ta sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa để làm rõ nghĩa khi học sinh đã biết được 1 từ trong cặp từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ex 1: Unit 8 Places- B5 trang 85 à sell (v)≠ buy (v) Ex 2: Unit 10 Health and hygiene - B1 trang 103 àhate (v)≠ like (v) Ex 3: Unit 9 At home and away - A 4 trang 89 à receive (v) ≠ give (v) Ex 4: Unit 10 Health and hygiene - B4 trang 105 à nervous (adj) = worried ( adj) b3. Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ: học sinh đoán nghĩa cảu từ mới được hình thành qua từ gốc. Với quy tắc này giáo viên không những giúp học sinh nắm vững lại kiến thức mà còn giúp các em phát huy tính tích cực, tự học, biết mở rộng vốn từ cho mình. Ex : Unit 13 Activities - A 3 trang 131, Giáo viên dạy các từ sau: swimmer, player swim à swimmer (A swimmer is a person who can swim) play à player (A soccer player is a person who plays soccer) b4. Tạo tình huống (situation), ví dụ (example): giáo viên thiết lập tình huống cho ví dụ dễ hiểu bằng tiếng anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống và có thể bắt chước, sư dụng vào ngữ cảnh giao tiếp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe Ex 1: Unit 7 The world of work - A 1 trang 72, giáo viên thiết lập tình huống để dạy cụm từ: be late for school như sau: Your classes start at one o'clock. You come to school at a quarter past one. You are late for school. Ex 2: Unit 9 At home and away - B1 trang 92, giáo viên thiết lập tình huống để dạy từ: clever như sau: Mrs. Mai always makes beautiful dress. She is very clever. Ex 3: Unit11 Keep fit, stay healthy- A 1 trang 107, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: weight, height như sau: My weight is 46 kilos. My height is 1 meter 57 centimeters. Ex 4: Unit 14Freetime Fun - B1 trang 144, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: cartoon như sau: I like cartoons such as: Tom and Jerry, Doremon, b5. Đoán nghĩa qua ngữ cảnh (context): học sinh đoán nghĩa của từ qua ngữ cảnh do giáo viên trích dẫn hoặc thiết kế. Ex: Unit12 Let's eat! - B1 trang 119, học sinh đoán nghĩa của từ: terrible, to make qua các ngữ cảnh sau: Ba has a stomachache. He feels terrible. Dirty vegetables can make people sick. *Dịch sang tiếng mẹ đẻ(translation): giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi dạy từ bị động hoặc các từ trừu tượng khó áp dụng những thủ thật trên. *Lưu ý: Để đảm bảo vận dụng hiệu quả những thủ thuật nêu trêngiáo viên nên linh động thay đổi những thủ thuật này một cách thích hợp tùy theo nội dung bài và đối tượng học sinh. c. Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới: Như đã đề cập điểm nổi bật ở phương pháp dạy học mới là tạo cho học sinh được tham gia vào quá trình học tập. Vậy tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới là cần thiết