Top 11 # Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Mới Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1

Năm học mới 2014-2015, hơn 19.800 học sinh lớp 1 sẽ học theo chương trình tiếng Việt 1-CGD. Phương pháp này bao gồm 4 nội dung: Học vần, viết, đọc và viết chính tả. Điểm nổi bật của phương pháp này là tính vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội.

Ngay sau khi có công văn của Bộ GD&ĐT về việc đăng ký phương án dạy học theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD, năm học 2013-2014, Sở GD&ĐT đã có kế hoạch chỉ đạo thực hiện dạy học thí điểm tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD tại 3 đơn vị: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Yên Lạc. Tổng số 201 lớp 1 với 7.189 học sinh tham gia học theo chương trình mới.

Sau một năm thử nghiệm, kiến thức và năng lực của giáo viên tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD được nâng lên rõ rệt. Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian nghiên cứu thiết kế bài dạy và quy trình dạy các mẫu, nắm chắc quy trình của từng mẫu nên việc giảng dạy thuận lợi hơn. Giáo viên đã hiểu bản chất của chương trình và kĩ thuật dạy học, phấn khởi khi thấy chất lượng môn Tiếng Việt lớp 1 của mình cao hơn những năm học trước. Càng về cuối năm, giáo viên dạy học và vận dụng sách thiết kế vào dạy học càng linh hoạt, sáng tạo hơn.

Trong khi đó, học sinh được hướng dẫn kỹ các quy định nên các em có nề nếp học tập tốt ngay từ đầu năm và được duy trì trong suốt năm học. Với phương pháp dạy học theo hướng tích cực nên tiến trình giờ dạy diễn ra nhẹ nhàng, giúp học sinh tham gia hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động, sáng tạo. Từ đó, bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng tự học. Học sinh tự làm ra sản phẩm giáo dục nên rất hứng thú, khả năng tư duy của học sinh được phát huy, học sinh nắm chắc cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt, nắm chắc các quy tắc chính tả, học đến đâu chắc đến đó; không bị nhầm lẫn viết sai chính tả, học sinh có kĩ năng nghe để viết chính tả tốt. Đa số các em nghe và hiểu được hiệu lệnh, hiểu được lời nói của giáo viên. Nhiều em trả lời rành mạch, nói đủ câu rõ ràng. Học sinh đọc nhanh, đọc đều, đảm bảo tốc độ đọc theo yêu cầu. Qua đó, các bài tập đọc hiểu cũng được học sinh thực hiện tốt, chữ viết đúng và đẹp hơn. Kết quả học tập của học sinh ổn định, vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Cô Nguyễn Thị Thu Hương là một trong những giáo viên trực tiếp dạy môn Tiếng Việt 1- CGD của trường Tiểu học Minh Tân (Yên Lạc) cho biết: Với phương pháp dạy mới này, học sinh hứng thú hơn trong giờ học. Nhiều em thể hiện được khả năng đọc và viết khá tốt. So với phương pháp dạy truyền thống, chương trình Tiếng Việt 1- CGD có nhiều tính ưu việt. Với phương pháp này, đòi hỏi giáo viên liên tục phải tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, thường xuyên tìm tòi, tham khảo các mẫu giảng. Từ đó, tự thiết kế bài giảng của mình sao cho linh hoạt, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh.

Tuy nhiên, sau một năm thử nghiệm dạy học theo chương trình Tiếng Việt 1-CGD, còn một số cán bộ giáo viên chưa thật yên tâm khi thực hiện dạy học theo chương trình mới. Nhiều giáo viên chưa có thói quen làm việc theo thiết kế, còn “tham lam, ôm đồm” kiến thức. Việc học sinh chuyển từ trường dạy theo chương trình Tiếng Việt cũ đến trường tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD đã tạo ra nhiều khó khăn cho việc tiếp cận kiến thức của học sinh, khiến giáo viên phải dạy lại từ đầu. Phụ huynh rất quan tâm đến việc học Tiếng Việt của con em mình nhưng lại không thể dạy con theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD nên cũng đưa ra những băn khoăn, thắc mắc khiến giáo viên phải giải thích nhiều cho phụ huynh hiểu.

Khắc phục những khó khăn trên, Sở GD&ĐT đã yêu cầu các địa phương họp, tổng kết công tác triển khai dạy học Tiếng Việt 1- CGD, rút kinh nghiệm, đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết của những hạn chế tồn tại. Từ đó, lên kế hoạch triển khai chỉ đạo tổ chức dạy học Tiếng Việt 1 cho 100% học sinh lớp 1 trên địa bàn tỉnh bắt đầu từ năm học 2014-2015.

Thúy Nga

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1

1THAM LUẬN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCPHÂN MÔN HỌC VẦN LỚP 1PHẦN 1

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VẦN LỚP 12I/VAI TRÒ CỦA PHÂN MÔN HỌC VẦN TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Phân môn Học Vần nằm trong hệ thống các phân môn của môn Tiếng Việt, nó đóng vai trò then chốt và nền tảng cho các phân môn khác và kể cả các môn học khác. Nhiệm vụ của phân môn Học Vần là cung cấp cho học sinh kiến thức về ngữ âm và chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và văn học. Về kĩ năng, Học Vần rèn cho HS các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. 3 Với đặc thù về kiến thức và kĩ năng như thế cho nên trong dạy học phân môn Học Vần, người dạy không những trang bị cho mình một kiến thức vững chắc về câu từ, về chữ viết mà còn cả về khả năng xữ lí tình huống trong tiết dạy. Đối với HS lớp 1 mọi hoạt động trong lớp đều mới mẻ đối với các em. Do vậy tính kiên trì và tỉ mỉ của GV sẽ giúp HS nâng cao được hiệu quả học tập.4Những khó khăn trong việc dạy học vần – Tình trạng học sinh chưa qua mẫu giáo nên tiếp thu bài kém. – Phụ huynh lơ là trong việc giúp đỡ con em học ở nhà. – Do đặc thù của HS tiểu học nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em rất ham thích theo dõi bài khi GV sử dụng tranh ảnh hay đồ dùng dạy học khác trong tiết dạy. Ở lớp 1 Đồ dùng dạy học được cấp trên cấp là rất ít so với nhu cầu cần sử dụng của GV dạy lớp 1. Mặc khác, tranh ảnh, trang thiết bị dạy học đã qua nhiều năm sử dụng đã hư hỏng nhiều mà chưa được cấp trên bổ sung.5 – Việc lồng ghép cho HS sử dụng bộ đồ dùng học vần còn gặp nhiều khó khăn, một số GV còn bỏ qua việc thực hành của HS trên đồ dùng. – GV thường sa đà, mất thời gian nhiều ở tiết 1 (dạy không đủ thời gian). – Tổ chức phần luyện nói cho học sinh gặp nhiều khó khăn (Do học sinh ngại nói, các em còn nhút nhát trong những ngày đầu…). Hơn nữa, GV không có tranh ảnh trực quan nên gặp nhiều khó khăn khi cho HS nói trước lớp nhất là ở các tiết ôn tập. – GV gặp khó khăn trong giải nghĩa từ (những từ ở SGV không giải nghĩa).6 – Một số GV chưa nắm vững cấu tạo nét của từng con chữ nên việc hướng dẫn học sinh đôi khi chưa rõ và thiếu chính xác. Mặc khác do chữ viết trên bảng của GV không đẹp nên không tạo được hứng thú cho HS. – Trong tiết dạy GV chưa đa dạng các hình thức tổ chức đọc cho học sinh nên tiết học rất khô khan, HS tham gia trong tiết học rất thụ động. – Tình trạng HS đọc vẹt cũng là điều đáng lo cho các GV chủ nhiệm.7 – Do ảnh hưởng phương ngữ một số GV gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm mẫu để HS đọc theo, đặc biệt là những vần học ở các bài cuối học kì 1 và đầu học kì 2. Về phía học sinh các em thường phát âm sai ở những vần có tr, r, v … ở đầu và t, n … ở cuối nhưng GV chưa quan tâm chỉnh sửa dẫn đến dần dần trở thành thói quen cho HS. – Một số GV chưa có tính mền dẽo đối với HS, hay quát tháo trong giờ học làm cho các em không tự tin, không mạnh dạn phát biểu trong giờ học. 8I/ NỘI DUNG PHÂN MÔN HỌC VẦN – Gồm 103 bài, trong đó : +Tập 1 : 83 bài (Học kì 1 đến bài 76). +Tập 2 : 20 bài (Học kì 2 đến tuần 24).PHẦN 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN LỚP 19 – Từ bài 1 đến bài 27 là các bài học về âm. – Từ bài 29 đến 90 là các bài học về vần. – Từ bài 90 đến bài 103 là các bài ôn về vần có âm đầu là u hoặc o.10II/ Một số phương pháp thường sử dụng trong phân môn học vần lớp 1

14 Đặc biệt nên tránh câu hỏi để trả lời “Có” hoặc “Không”. GV cần dành thời gian cho HS suy nghĩ, trao đổi rồi mới trả lời câu hỏi.5- Phương pháp Trò chơi: Giúp HS hứng thú, tham gia tích cực vào bài học.

15 *Cần chú ý : – GV dễ sa đà vào việc chơi mà không đút kết được nội dung của bài học. – Hình thức chơi cần đa dạng, giúp cho HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. – Luật chơi cần đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thực hiện. – Khi tổng kết trò chơi GV dùng biện pháp tuyên dương và động viên là chủ yếu.16QUY TRÌNH DẠY HỌC VẦN LỚP 1Dạng 1: Làm quen với âm và dấu thanh(6 Bài đầu)1) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/Dạy chữ ghi âm và dấu ghi thanh mới (trọng tâm).17 – Hướng dẫn học sinh ghép chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới để đọc thành tiếng. – Hướng dẫn học sinh tập phát âm âm, dấu thanh, tiếng vừa ghép.NGHỈ GIỮA TIẾT – Giáo viên hướng dẫn học sinh tập viết chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới vào bảng con.TIẾT 2 c/ Luyện tập: Luyện đọc lại nội dung tiết 1.

18 d/ Luyện viết chữ ghi âm , dấu ghi thanh mới (trong vở tập tô). NGHỈ GIỮA TIẾT e/ Luyện nghe – nói (chủ yếu là giúp học sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè, nhút nhát) 3) Củng cố , dặn dò19Dạng 2: Dạy chữ ghi âm, vần mới

TIẾT 11) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/ Dạy âm (vần) mới: – Dạy phát âm hoặc đánh vần vần mới. – Hướng dẫn học sinh ghép âm, vần, đánh vần và đọc trơn tiếng khóa và từ khóa.NGHỈ GIỮA TIẾT20 – Giáo viên viết mẫu, hướng dẫn HS viết bảng con. – Hướng dẫn HS đọc từ (từ ngữ) ứng dụng.TIẾT 2 c/ Luyện tập: – Luyện đọc (Bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, cả lớp, đọc tiếp nối, đọc đồng thanh). + Đọc lại nội dung tiết 1. + Đọc câu ứng dụng.NGHỈ GIỮA TIẾT21 – Luyện viết chữ ghi âm, vần, tiếng mới: Tùy theo đối tượng HS và thời gian cho phép, GV có thể quy định thời gian, dung lượng viết tại lớp từ 1 đến 3 dòng. – Luyện nghe – nói: Không yêu cầu học sinh nói những câu chứa âm, vần mới học để đảm bảo phát triển lời nói tự nhiên, phong phú cho các em. Giáo viên cần chú ý đến những học sinh yếu, rụt rè, nhút nhát. Có thể định hướng bằng những câu hỏi gợi mở để các em nói được những câu đơn giản.22 Căn cứ vào khả năng hoàn thành 2 kĩ năng đọc, viết vần, tiếng, từ ngữ mới của đa số học sinh trong lớp mà giáo viên cân nhắc để dành thời gian cho luyện nói khoảng từ 3 đến 7 phút.3) Củng cố – dặn dò:23Dạng 3: Dạy bài ôn tập

1) Kiểm tra bài cũ: 2) Dạy học bài ôn: (TIẾT 1) a/ Ôn tập theo bảng – sơ đồ trong sách giáo khoa. *Bài ôn về âm 2 bảng. *Bài ôn về vần 1 bảng.Nghỉ giữa tiết b/ Luyện đọc : Đọc từ ứng dụng. c/ Luyện viết bảng con.

24TIẾT 2d)Luyện đọc toàn bài ở tiết 1.e)Đọc câu ứng dụng.Nghỉ giữa tiếtg) Luyện viết ở vở.h) Kể chuyện: Kể theo tranh nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe – nói cho HS, đồng thời giúp cho nội dung học tập thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn. Tên truyện kể gắn với những âm, vần HS đã học.3) Củng cố – dặn dò:

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa)

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁPDẠY HỌC TIỀNG VIỆT LỚP 5Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã tiến hành cải cách đổi mới phương pháp dạy học ” Lấy học sinh làm trung tâm” “Thầy thiết kế, trò chủ đạo”. Vì vậy việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng rất quan trọng. 1.Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt cần chú ý một số điểm cơ bản sau đây – Dạy Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp.– Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy Tiếng Việt , kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hóa và dạy văn .– Tích cực hóa hoạt động học tập , tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của HS.– Nội dung môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS với trọng tâm là các kỹ năng đọc , viết , nghe , nói , trong đó tập trung vào kỹ năng đọc và viết .– Thời lượng dạy học : Mỗi tiết học trung bình 35 phút – Xây dựng thời khóa biểu khoa học , hợp lý .– Giáo viên biết cụ thể hóa được kế hoạch giảng dạy cho mình ở từng phân môn Tiếng Việt , từng lớp học mà mình phụ trách * Để dạy học môn Tiếng Việt có hiệu quả , cần sử dụng những phương pháp

dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS .-Nội dung và phương pháp dạy học có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Mỗi một nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp. Không thể đổi mới nội dung mà không thể đổi mới phương pháp hay ngược lại. Môn Tiếng Việt có đặc thù là môn dạy kĩ năng càng cần đổi mới cách dạy cách học thụ động hơn bao giờ hết. * Đổi mới PPDH thực chất là sự thay đổi về cách dạy và cách học:– Dạy Tiếng Việt không phải chỉ để giúp HS tiếp nhận kiến thức một cách đơn thuần mà thông qua đó còn giúp cho HS thay đổi cả cách nghĩ , cách làm , cách sống . Đặc biệt chú ý vận dụng tốt các tình huống giao tiếp , dạy học qua giao tiếp. – Đổi mới PPDH là phải đổi mới cách dạy, cách truyền đạt hệ thống kiến thức cho học sinh. Đổi mới PPDH, thêm vào đó là ứng dụng CNTT trong dạy học, sẽ là cách hiệu quả nhất để giúp học sinh nắm bắt kiến thức của bài học. – GV vẫn đóng vai trò quan trọng không gì thay thế . Song GV phải biết hướng dẫn HS hoạt động , người học phải là chủ thể của hoạt động .2.Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ yếu :+ Phương pháp :Các phương pháp đặc trưng của môn học là : PP thực hành giao tiếp , PP đóng vai , PP rèn luyện theo mẫu , PP phân tích ngôn ngữ . Các phương pháp có tình huống và giải quyết tình huống ; sử dụng trò chơi ; thuyết minh ; vấn đáp ; sử dụng phương tiện trực quan . vẫn cần được sử dụng trong dạy Tiếng Việt .+ Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ( trong lớp , ngoài lớp ):– Hướng dẫn HS làm việc độc lập.– Làm việc theo nhóm .– Làm việc theo lớp.3.Các bước tiến hành đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt – Lớp 5 : Luyện đọc – Hiểu và cảm thụ bài văn ( thơ) ; rèn đọc lưu loát , diễn cảm .-Các giờ tập đọc ( hoặc tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng ) có kết hợp dạy từ ngữ , ngữ pháp , bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung , nghệ thuật bài văn nhằm nâng cao trình độ đọc và cảm thụ văn học cho HS .*CHÍNH TẢ – Kết hợp chặt chẽ với rèn cách phát âm , hiểu nghĩa của từ nhằm khắc phục lỗi chính tả ở các vùng phương ngữ .– Chú ý đến yêu cầu cung cấp tri thức ( quy tắc chính tả, quy định về cách trình bày văn bản .), đồng thời chú trọng yêu cầu luyện tập thực hành ( viết chính tả , làm bài tập , sửa lỗi viết chưa đúng ).* LUYỆN VIẾT CHỮ ĐẸP– Rèn kỹ năng viết chữ là chủ yếu . Phần lớn thời gian dành cho HS tập viết ( không giảng giải nhiều về lý thuyết ).– GV phải là gương sáng , mẫu mực về chữ viết , cách trình bày và luôn chú ý rèn nền nếp “Vở sạch – Chữ đẹp” cho HS.

Phương Pháp Dạy Con Học Tiếng Việt Lớp 2

Tiếng Việt là một trong những môn học rất quan trọng ở bậc tiểu học, đặc biệt là tiếng Việt lớp 2. Việc giúp trẻ nắm vững kiến thức tiếng Việt lớp 2 có ý nghĩa rất quan trọng, là nền tảng vững chắc đầu đời, tiếp bước cho hành trình ở những bậc học sau này. Do có nhiều thay đổi và khó hơn với tiếng Việt lớp 1, phụ huynh cần chuẩn bị nhiều hơn để trẻ học tốt môn tiếng Việt lớp 2 ngay từ bây giờ. Bài viết sau đây sẽ chia sẻ đến phụ huynh một số phương pháp dạy con học tiếng Việt lớp 2 hiệu quả.

Để giúp con học tốt tiếng Việt lớp 2, trước tiên phụ huynh phải nắm rõ chương trình học. Tiếng Việt lớp 2 gồm 2 quyển (tập 1, tập 2) tương ứng với 02 học kỳ trong năm học. Chương trình tiếng Việt lớp 2 gồm các nội dung chính là tập đọc; luyện từ và câu; chính tả; kể chuyện… với mỗi nội dung đòi hỏi phụ huynh có phương pháp dạy học riêng.

Phương pháp dạy tiếng Việt lớp 2 hiệu quả

Khi dạy trẻ học, phụ huynh nên chia thành nhiều khoảng thời gian, thường dao động từ 40 đến 45 phút, cho nghỉ giải lao 10 – 15 phút. Việc này giúp trẻ không chịu áp lực, thoải mái, có động lực học tốt hơn. Ở độ tuổi học lớp 2, các em có khả năng tiếp thu cái mới rất tốt, việc uốn nắn, rèn luyện đúng cách ngay từ đầu sẽ giúp ích rất lớn cho việc học tập sau này. Phụ huynh có một lợi thế khi dạy kèm con học tiếng Việt lớp 2, do phụ huynh là người gần gũi, hiểu được tâm lý của trẻ thích cái gì, không thích cái gì,… Phụ huynh vừa dạy học, vừa có thể giám sát được việc học của con em.

Động viên tinh thần

Khi dạy, phụ huynh cũng cần động viên tinh thần của con em, thông qua một số lời khen, động viên như: Con hãy cố gắng hơn; Con đã làm rất tốt; Hãy cố gắng, con có thể làm tốt hơn thế này,… Việc khen các cháu trong quá trình dạy học sẽ giúp trẻ bớt căng thẳng, đồng thời có thêm động lực để học thật tốt. Ngoài ra, phụ huynh cũng cần trao đổi với giáo viên về tình hình học tập môn tiếng Việt của con để có phương pháp dạy con phù hợp.

Tóm lại, việc dạy cho trẻ học tiếng Việt lớp 2 cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp với nhau, vì không có phương pháp giảng dạy nào là tối ưu nhất.