Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Thiểu Số:

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • Giáo Án Phụ Đạo Tiếng Anh 6 ( Hot )
  • Người “truyền Lửa” Từ Lớp Phụ Đạo Tiếng Anh
  • Ke Hoach Day Phu Dao Tieng Anh 8 Ky I, Ii
  • hả năng sử dụng tiếng Việt là yếu tố quyết định đến chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh tiểu học, do chương trình phổ thông áp dụng cho toàn quốc, không phân biệt vùng, miền. Hai năm qua, dù ngànhGiáo dục có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được vẫn chưa như mong muốn. Nhiều nỗ lực

    Trong ba bậc học phổ thông, việc dạy tiếng Việt cho học sinh ở bậc tiểu học rất quan trọng, vì đây là bậc học đầu tiên. Một học sinh dân tộc thiểu số vào lớp 1 phải có ngay khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thì mới có thể giao tiếp, hiểu lời thầy cô giảng bài, làm bài tập… Thực tế, trước khi đến trường, các em học sinh dân tộc thiểu số giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ và không biết viết; khi vào lớp 1 phải biết tiếng Việt, chí ít là nói được để giao tiếp và phải viết được tiếng Việt.

    Học sinh dân tộc thiểu số đang cần nhiều sự hỗ trợ để nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt.

    – Trong ảnh: Một lớp học tại xã Đăk Mang, huyện Hoài Ân. Ảnh: H.L

    Bà Hồ Thị Phi Yến, Trưởng Phòng Tiểu học – Mầm non (Sở GD-ĐT), cho biết: “Từ năm học 2010-2011, Sở đã chỉ đạo các Phòng GD-ĐT trong tỉnh tổ chức nhiều hình thức tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như: tổ chức dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 trước khi bước vào năm học mới, lồng ghép việc dạy tăng cường tiếng Việt vào các môn học, các hoạt động giáo dục và tổ chức các trò chơi học tập để tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh, tăng thời lượng môn Tiếng Việt lớp 1 từ 350 tiết/năm thành 500 tiết/năm cho học sinh lớp 1 tại các trường tiểu học học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Các trường chưa có điều kiện tổ chức dạy 2 buổi/ngày thì thực hiện phương án dạy phụ đạo cùng với học sinh yếu vào buổi thứ hai trong ngày và các ngày thứ bảy, chủ nhật (3 tiết/tuần)”.Bậc tiểu học còn phối hợp với bậc học mầm non trong huy động trẻ 4, 5 tuổi ra lớp. Tất cả trẻ 5 tuổi đều qua chương trình Giáo dục mầm non mới, các huyện nằm trong Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) sử dụng tài liệu Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường, nên số trẻ vào học lớp 1 đều học qua chương trình mẫu giáo 5 tuổi và được làm quen với môi trường giao tiếp tiếng Việt…. Những nỗ lực ấy được đền đáp bằng một số kết quả đáng phấn khởi. Bà Phạm Thị Bộ, Phó Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Vân Canh, cho biết: “Năm 2009-2010, sau khi tham dự Dự án PEDC, Phòng đề xuất với huyện thực hiện ngay việc tăng cường tiếng Việt trong trường học. Kết quả ba năm học qua, tỉ lệ học sinh yếu, kém giảm hẳn, số em khá giỏi tăng dần đều. Đặc biệt, khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt của các em, kể cả học sinh lớp 1 cũng được cải thiện nhiều”. Một minh chứng thuyết phục khác là tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số cấp tỉnh năm 2012, những thứ hạng cao của phần thi Viết chữ đẹp và Kỹ năng – Kiến thức tiếng Việt đều thuộc về học sinh huyện Vân Canh.

    Những chương trình gặp gỡ, giao lưu tiếng Việt cần được nhân rộng dưới nhiều hình thức hấp dẫn. – Trong ảnh: Trao thưởng cho học sinh đoạt giải tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cấp tỉnh.

    Chưa thể yên tâm Dù có bước tiến ở một số địa phương, nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều học sinh tiểu học dân tộc thiểu số vất vả “đánh vật” với tiếng Việt. Chuyên viên phòng GD-ĐT một huyện miền núi nhiều năm theo dõi mảng giáo dục miền núi cho rằng, việc xóa rào cản ngôn ngữ còn nhiều trở ngại. Trước hết là nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số của một số chính quyền địa phương, thể hiện ở việc chần chừ áp dụng tăng thời gian dạy tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết, bởi việc này đụng đến “kinh phí”. Tiếp đến là nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Khá đông ông bố bà mẹ trẻ biết nói tiếng Việt, nhưng vẫn giữ thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ ở nhà, xem nhẹ việc hỗ trợ nhà trường, giúp con học tiếng Việt. Vậy là ở trường, các em giao tiếp bằng tiếng Việt, nhưng khi về nhà lại nói tiếng mẹ đẻ, nên rất khó tiến bộ. Phần lớn giáo viên giảng dạy tại các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số là người Kinh, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên gặp khó khăn khi giao tiếp với học sinh. Một số người giảng dạy lâu năm hoặc đã tham gia học các lớp dạy tiếng dân tộc thiểu số do các huyện tổ chức nhưng cũng chỉ có thể nói vài câu thông thường. Có một điều gây băn khoăn là hàng năm, tỉnh đều cử hàng chục con em đồng bào dân tộc thiểu số đi học cử tuyển, nhưng số giáo viên là người dân tộc thiểu số lại rất ít, thậm chí có trường không có người nào. Thiết nghĩ, ở bậc mầm non và tiểu học, giáo viên giảng dạy là người dân tộc thiểu số, hiểu tiếng, hiểu bản sắc, sâu sát tâm tư, tình cảm của học sinh thì kết quả học tập nhất định sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Bà Hồ Thị Phi Yến cho biết: “Thời gian tới, Sở sẽ tiếp tục có những văn bản chỉ đạo để thúc đẩy phong trào học tập tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhất là những vùng cao, vùng sâu bằng những hoạt động phong phú, đa dạng theo kiểu “học mà chơi, chơi mà học” để các em thích thú và thoải mái tham gia. Ngoài ra, sẽ vận động phụ huynh đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện và tiếp sức để con em mình đến gần với tiếng Việt hơn”. Rõ ràng, ở góc độ chuyên môn, ngànhGiáo dục đang cố gắng tạo chuyển biến song chừng ấy vẫn chưa thể yên tâm khi chính quyền địa phương và phụ huynh còn bàng quang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khó Khăn Trong Việc Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Cô Giáo Vùng Cao Miệt Mài Truyền Tiếng Nói, Chữ Viết Dân Tộc Thái
  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Cơ Thể Người
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Cơ Bản Qua Tên Các Bộ Phim Nổi Tiếng Của Hàn Quốc
  • Cách Học Từ Vựng Tiếng Hàn Hiệu Quả Giúp Bạn Nhớ Lâu
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Đầu Cấp Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Thành Lập Trung Tâm Ngoại Ngữ Cho Trẻ Em
  • Category: Dạy Tiếng Anh Mầm Non
  • 10 Trung Tâm Anh Ngữ Dành Cho Trẻ Nhỏ Nên Tới Tại Bình Dương
  • Lớp Tiếng Anh Miễn Phí Cho Trẻ Nghèo
  • Hướng Dẫn Cách Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Từ 0 Tuổi Đến 12 Tuổi
  • Đến thăm một lớp học chuẩn bị cho HS bước vào lớp 1 tại Trường TH Phước Thắng, chúng tôi cảm nhận được sự vất vả của các cô giáo nơi đây. Đa số HS là con em đồng bào Raglai với khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt rất hạn chế, vì ngay từ nhỏ các em đều giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, môi trường giao tiếp tiếng Việt cũng không nhiều. Do đó, các cháu rất khó khăn trong giao tiếp với giáo viên và hạn chế trong tiếp thu kiến thức. Thầy giáo Phan Ngọc Còi, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Đối với các em qua lớp mẫu giáo thì đã nghe, nói và hiểu tiếng Việt cơ bản nên kỹ năng sử dụng tiếng Việt khi vào lớp 1 sẽ dễ dàng hơn. Còn đối với các em chưa qua lớp mẫu giáo thì rất khó khăn trong tiếp thu bài học, nhiều em không hiểu hết lời của giáo viên, ngại giao tiếp, chính vì thế đòi hỏi sự kiên trì của giáo viên. Nhà trường cũng chỉ đạo giáo viên tăng cường tổ chức các hoạt động dạy tiếng Việt qua các trò chơi, giao lưu văn nghệ và dùng các tài liệu, đồ dùng dạy học trực quan để giúp các em tự tin hơn trong việc sử dụng tiếng Việt.

    Giáo viên Trường Tiểu học Phước Đại A dạy tiếng Việt cho HS chuẩn bị bước vào lớp 1.

    Tương tự, tại Trường TH Phước Đại A, việc dạy tiếng Việt cho HS chuẩn bị bước vào lớp 1 cũng đang được triển khai tích cực. Cô giáo Nguyễn Thị Kim Uyên, Hiệu trưởng nhà trường, chia sẻ: Đối với HS DTTS khi học tiếng Việt, các em thường dùng tiếng mẹ đẻ xen vào. Do môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt bị hạn hẹp chính là rào cản lớn nhất để rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt của HS DTTS. Nhà trường đã chỉ đạo giáo viên tăng cường dạy tiếng Việt với nhiều hình thức phong phú, phù hợp như các kỹ năng giao tiếp, ứng xử… Trong quá trình dạy chú ý đến việc phân loại khả năng tiếng Việt của từng em để có phương pháp, nội dung dạy tiếng Việt cho phù hợp.

    Bác Ái là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, với trên 90% là đồng bào DTTS; toàn huyện có 11 trường mẫu giáo, 16 trường TH và 9 trường THCS. Những năm qua, kinh phí và nguồn lực hỗ trợ cho các hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ em DTTS còn eo hẹp; chưa có chế độ, chính sách cho giáo viên dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS trước khi vào lớp 1 trong hè.

    HS tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp do không biết hoặc biết rất ít tiếng Việt nên gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, đặc biệt là những trẻ không qua lớp Mẫu giáo. Do không biết tiếng Việt nên những HS này còn khó khăn trong giao tiếp, thiếu mạnh dạn trong các hoạt động, hạn chế trong tiếp thu kiến thức. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều HS DTTS lưu ban, bỏ học ở cấp TH.

    Ông Đặng Ngọc Hải, Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bác Ái cho biết: Với học sinh người DTTS, khi đến trường các em phải làm quen với một ngôn ngữ khác hoàn toàn tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình học tập cũng bị ảnh hưởng không ít. Để trang bị tiếng Việt cho HS DTTS bước vào lớp 1, trong năm học mới này, Phòng đã chỉ đạo các trường khắc phục những hạn chế từ các năm học trước, xác định được vấn đề trọng tâm, lựa chọn các nội dung, kiến thức dạy tiếng Việt phù hợp để các em bước vào năm học mới khỏi bỡ ngỡ; có phương pháp rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt cho các em, qua đó góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng dạy và học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tắm Ngôn Ngữ Tiếng Anh Cho Trẻ: Bố Mẹ Cần Nắm Được Nguyên Tắc Nào?
  • Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Qua Bài Hát Đơn Giản Mà Hiệu Quả
  • Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Ba Lan Uy Tín, Chất Lượng
  • 3 Trung Tâm Dạy Tiếng Ba Lan Tại Hà Nội
  • Cẩm Nang Tiếng Ba Lan (1) Bảng Chữ Cái Và Phát Âm
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Những năm qua, Sở GD&ĐT luôn chú trọng tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non là người dân tộc thiểu số. Thông qua nhiều hoạt động thiết thực, học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số hứng thú hơn khi tới trường, đồng thời, việc giao tiếp của các em cũng tự tin, dễ dàng hơn.

    Tiết học tiếng Việt của học sinh lớp 5, Trường TH&THCS Đại Dực, xã Đại Dực, huyện Tiên Yên.

    Tại huyện Tiên Yên, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non được thực hiện rất tích cực. Phòng GD&ĐT huyện đã chỉ đạo cho các trường tiểu học, mầm non trên địa bàn tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi tự tạo, tận dụng các nguyên vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền phù hợp với địa phương làm học liệu, phương tiện dạy học. Đồng thời chỉ đạo xây dựng môi trường tiếng Việt phong phú, hấp dẫn học sinh tham gia học tập, đặc biệt phát huy hiệu quả góc sách, truyện.

    Ông Nguyễn Văn Ty, Trưởng Phòng GD&ĐT huyện Tiên Yên, cho biết: “Phòng GD&ĐT huyện còn quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dạy học sinh vùng dân tộc thiểu số về các phương pháp, kỹ thuật dạy lớp có học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số. Từ đó, các thầy, cô phải xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình phù hợp với đối tượng trẻ. Mặt khác, Phòng còn động viên khuyến khích giáo viên học tiếng dân tộc của học sinh, trẻ mầm non.

    Cụ thể, đối với cấp học mầm non, huyện Tiên Yên đã xây dựng, tổ chức thực hiện chuyên đề “Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số”, xây dựng các tiết mẫu, trao đổi, chia sẻ về phương pháp tăng cường tiếng Việt, triển khai Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”. Đối với cấp tiểu học, với sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT huyện, 100% trường đã thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số đảm bảo đạt chuẩn năng lực tiếng Việt của mỗi lớp, như: Giãn thời lượng trong môn Tiếng Việt lớp 1; tổ chức trò chơi học tập, hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, làm truyện tranh, cây từ vựng; sử dụng hiệu quả phương tiện hỗ trợ kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, thư viện thân thiện; tổ chức ngày hội văn hoá đọc, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em dành cho học sinh dân tộc thiểu số”…

    Học sinh Trường TH&THCS Hà Lâu tập thể dục giữa giờ.

    Không riêng huyện Tiên Yên, qua tìm hiểu chúng tôi được biết, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số còn được thực hiện ở nhiều địa phương, như: Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hoành Bồ, Hải Hà… Các địa phương này đã đẩy mạnh xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số theo các tiêu chí, trong đó quan tâm xây dựng thư viện thân thiện, phù hợp để khuyến khích các bậc cha mẹ cùng đọc sách với trẻ tại trường, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho trẻ. Cùng với đó, nhiều địa phương cũng chú trọng đến công tác xã hội hóa để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số; quan tâm phát triển mô hình nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ làm cầu nối ngôn ngữ cho trẻ tại các điểm trường vùng khó khăn, hẻo lánh.

    Mặt khác, một số địa phương còn tích cực triển khai thực hiện chuyên đề: Tăng cường nghe, nói tiếng Việt cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non có đông trẻ em người dân tộc thiểu số. Không chỉ vậy, nhiều địa phương còn quan tâm đến việc bố trí giáo viên là người dân tộc thiểu số tại địa phương, giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục vùng dân tộc thiểu số…

    Theo đồng chí Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD&ĐT, hiện nay, nhận thức của cộng đồng và phụ huynh về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số đã được nâng lên đáng kể. Với trẻ mầm non, cơ bản các em đều có khả năng nắm bắt ngôn ngữ tiếng Việt, thường xuyên giao tiếp bằng tiếng Việt, mạnh dạn, tự tin, có kiến thức cơ bản để bước vào lớp 1. Đối với bậc tiểu học, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh từ lớp 2 đến lớp 5 có nhiều tiến bộ hơn, đa số các em có khả năng nghe, nói tốt, đáp ứng giao tiếp trong sinh hoạt và yêu cầu học tập.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC TIẾP

    Định nghĩa

    Phương pháp dạy học trực tiếp còn gọi là phương pháp tự nhiên . Nguyên tắc chính của phương pháp này là: dạy ngôn ngữ thứ hai không thông qua ngôn ngữ mẹ đẻ nhằm rút ngắn được thời gian học tiếng và tránh được những lẫn lộn ngôn ngữ khi sử dụng.

    Các yêu cầu sư phạm của phương pháp trực tiếp

    Khi dùng phương pháp dạy học trực tiếp, cần phải nắm roc 5 yêu cầu sau đây:

    Dạy từ ngữ thông qua người thật, việc thật, tranh hoặc mẫu minh họa; tránh giải thích từ ngữ mới bằng ngôn ngữ thứ hai. Khi gặp câu, đoạn khó, không được giải thích bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà phải giải thích bằng ngôn ngữ 2.

    ( Từ mới không giải thích bằng ngôn ngữ 2, câu khó không giải thích bằng ngôn ngữ1).

    2.2 . Dạy ngư phap thông qua hệ thống bài tập. Không đưa ra bất kì một qui tắc nào khi giải thích các hiện tượng ngữ pháp; Chỉ khi học sinh thật thành thục ngôn ngữ nói mới thận trọng đưa ra những ghi nhớ đơn giản về hiện tượng ngữ pháp và cách dùng một số từ ngữ đặc biệt.

    2.3. Mở đầu một bài đàm thoại theo phương pháp trực tiếp luôn cần có một mẩu chuyện ngắn hoặc có một cuộc đàm thoại giữa thầy và trò theo lối nói hàng ngày.

    2.4. Dạng luyện tập là hệ thống bài tập luyện theo câu hỏi hoặc tập nghe hiểu những mẫu chuyện ngắn dễ hiểu.Thông thường đó là những mẩu chuyện vui, giai thoại có trong đời thường.

    2.5. Bài học luôn gắn với việc giới thiệu và làm quen với văn hóa. Văn hóa cảu ngôn ngữ hai là mặt được phương pháp dạy học trực tiếp đặc biệt chú trọng vì cho rằng các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cuẩ một cộng đồng, suy cho cùng , chính là sự thể hiện các đặc diểm văn hóa.

    3. Những ưu điêm và hạn chế của phương pháp trực tiếp

    3.1. Những ưu điểm của phương pháp trực tiếp là:

    – Không khí học tập trong lớp luôn vui vẻ và hòn nhiên.

    – Học sinh phản ứng nhanh trong giao tiếp hàng ngày

    – Vốn từ và mẫu ngữ pháp tăng lên nhanh chóng vì ít bị rơi rụng và được thực hành trực tiếp hàng ngày.

    – Là cơ sở chắc chắn để học sinh học ngôn ngữ viết, ngôn ngữ học tập trong các tài liệu một cách nhẹ nhàng, tự tin.

    3.2 Những nhược điểm, hạn chế

    – Môi trường học không phải là chinh smôi trường giao tiếp thực cho học sinh sử dụng ngôn ngữ hai. Nó chỉ mang tính mô hình nên học sinh nắm từ ngưc và cách giao tiếp không thể chuẩn xác.

    – Ngôn ngữ 2 học theo phương pháp trực tiếp là khẩu ngữ, dùng trong giao tiếp hàng ngày. Dạng ngôn ngữ này có phần khác với ngôn ngữ viết. Chẳng hạn trong khẩu ngữ, câu thươgnf tỉnh lược, từ ngữ ít chính xác và thiên về cảm xúc. Do vậy, nếu không có biện pháp kịp thời, học sinh sẽ gặp khó khăn ở những lớp cao, nơi thường phảo tiếp xúc với phong cách ngôn ngữ viết.

    4 Sử dụng phương pháp trực tiếp trong dạy học các môn ở Tiểu học

    Trong dạy học ngôn ngữ 2, không phải tất cả các môn và các phan môn đều thích hợp với phương pháp dạy học trực tiếp. Việc quyết định sử dụng phương pháp dạy học trực tiếp cho việc dạy học một môn hay phân môn nào còn tùy thuộc vào trình độ tiếng Việt của học sinh và mưc độ trừu tượng của môn học.

    Ví dụ ở môn Tiếng Việt, những phân môn như Học vần, Kể chuyện, Tập Làm Văn miệng thì có thể dùng phương pháp trực tiếp, nhưng khi học tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu hay tập làm văn viết thì khó hơn, hoặc chỉ áp dụng được với từng phần trong nội dung bài học. Tương tự, nếu ở các môn như Đạo Đức, Khoa học dễ sử dụng phương pháp trực tiếp thì ở môn Toán, do tính trừu tượng của nó, cũng khó dùng được phương pháp này một cách tuyệt đối, cần phải phối hợp với các phương pháp khác.

    Ngoài ra, trình độ tiếng Việt của học sinh quyết định khá lớn đến khả năng có dùng phương pháp trực tiếp hay không. Nếu vốn từ của các em còn quá hạn chế thì việc dùng phương pháp trực tiếp sẽ không đem lại kết quả như mong muốn, bởi vì bài học sẽ luôn luôn bị ngắt quãng ra để bổ túc hoặc luyện từ mới, mẫu câu mới trong bài ; Như vậy, yêu cầu về tiêngd đã choán hết thời gian truyền thụ kiến thức nên phương pháp trực tiếp sẽ không mang lại kết quả như mong đợi.

    PHƯƠNG PHÁP DẠY NGÔN NGỮ GIAO TIẾP

    1. Định nghĩa

    Phương pháp dạy ngôn ngữ giao tiếp hiện đang được dùng phổ biến, đặc biệt ở Châu Âu. Nguyên tắc chủ yếu của phương pháp này là : Dạy cho người học các phương thức xử lí hoàn cảnh dựa vào giao tiếp. Qua thực hành, người học có được kĩ năng và chủ động trong giao tiếp. Người thầy tốt nhất phải là người sử dụng thành thạo ngôn ngữ 2. Trong quá trình dạy ngôn ngữ 2, người thầy phải có ý thức không can thiệp quá sâu và chi tiết vào thực hành nói năng của học sinh. Người thầy chỉ tư vấn và chỉ can thiệp khi học sinh thật sự gặp khó khăn, có yêu cần được tư vấn.

    Các yêu cầu sư phạm chính của phương pháp

    Phương pháp này khi sử dụng cần tuân thủ 5 nguyên tắc sư phạm sau đây:

    Ngôn ngữ được dùng khi dạy học là ngôn ngữ nói khi giao tiếp.

    Học sinh thực hành giao tiếp không được nói các cụm từ rời rạc mà buộc phải nói ra thành các cụm từ hoặc câu để có dạng lời nói liên tục.

    Khi trao đổi hoặc có nhu cầu giúp đỡ, học sinh chỉ dùng ngôn ngữ 2, không dùng tiếng mẹ đẻ. Luôn hướng tới cách giao tiếp tay đôi, theo cặp : giữa trò và thậy hoặc giữa trò và trò.

    Giáo viên có nhiệm vụ thiết kế :+ Các tình huống giao tiếp ( giao tiếp với bạn bè, giao tiếp trong gia đình; giao tiếp trong đời sống với người bán hàng, người phụ trách thư viện,… ).

    + Các mục đích giao tiếp.

    Khi nhóm học tập gặp khó khăn nào đó trong xử lí tình huống giao tiếp, đại diện nhóm đến trao đổi trực tiếp với giáo viên. Sau đó cả nhóm bàn bạc tìm ra cách khắc phục.Toàn bộ các công đoạn này đều phải dùng ngôn ngữ 2.

    Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy giao tiếp

    4.1 Ưu điểm

    – Không khí học tập trong lớp dễ sôi nổi.

    – Tạo nền tảng quan trọng cho việc học kiến thức thông qua ngôn ngữ 2.

    – Học sinh sớm quen với giao tiếp vì bắt buộc phải dùng cụm từ và câu.

    4.2 Nhược điểm

    – Dạng ngôn ngữ được thực hành là ngôn ngữ nói nên sẽ gây bất lợi cho việc học ngôn ngữ chuẩn mực, thường có trong các bài học kiến thức.

    – người học có năng lực giao tiếp nhưng không có nhiều kiến thức về chính ngôn ngữ đang học vì thời gian chủ yếu dành cho các kĩ năng nói và nghe.

    – Trong một số trường hợp, cần nhiều vật liệu thiết kế các khung cảnh cho thực hành giao tiếp.

    Các yêu cầu của giáo viên :

    Có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ 2 hoặc hiểu biết về ngôn ngữ 2 một cách chắc chắn.

    Ứng xư mềm mỏng và linh hoạt.

    Có khả năng hòa nhập cao.

    Luôn bình tĩnh trước mọi tình huống.

    Sử dụng phương pháp dạy giao tiếp trong các môn học ở Tiểu học

    Phương pháp dạy giao tiếp thích hợp với nhiều phân môn Tiếng Việt và nhiều môn khác so với phương pháp trực tiếp.Chẳng hạn như với môn Tiếng Việt, các phân môn sau đây sử dụng khá tự nhiên phương pháp này:

    -Tập đọc

    – Kể chuyện

    – Tập làm văn miệng

    – Luyện từ vầ câu.

    Đây là những phân môn ít nhiều sử dụng dạng nói của ngôn ngữ 2 trong dạy học. Phương pháp này tỏ ra rất thích hợp với:

    Tiết luyện tập toán

    Đạo đức

    Tự nhiên xã hội

    Mĩ thuật

    Âm nhạc

    Đương nhiên, việc áp dụng thành công phương pháp này vào viêc dạy học còn phụ thuộc khá nhiều vào khả năng thiết kế của giáo viên, năng lực tiếng việt của học sinh và các điều kiện cụ thể về môi trường học tập( đồ dùng, điều kiện sống của gia đình, cộng đồng…)

    SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

    Qua trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ

    Giai đoạn thứ nhất: Trẻ lắng nghe ngôn ngữ nói – Đây là giai đoạn này trẻ bắt đầu chú ý đến âm thanh lời nói.

    Giai đoạn thứ 2: trẻ quan sat sự liên kết giữa âm thanh và lời nói với vật, hành động, màu sắc ,… giai đoạn này trẻ bắt đầu hiểu nghĩa của câu nói.

    Giai đoạn thứ ba: trẻ lắng nghe và nhớ các từ ngữ, các câu nói được lặp lại hàng ngày. Đây là giai đoạn trẻ cố gắng nhập tâm và thu thập vốn từ.

    Giai đoạn thứ tư: Trẻ thực hành nói bằng cách mô phỏng theo âm thanh mà chúng nghe thấy- Đây là giai đoạn trẻ nói thụ động/ bắt chước/nói theo.

    Giai đoạn thứ năm: Trẻ chủ động tạo ra âm thanh lời nói, chủ động giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ.

    Như vậy, để học được tiếng mẹ đẻ, trẻ phải trải qua 5 giai đoạn bao gồm: nghe – hiểu- tích lũy vốn từ – bắt chước- nói được.

    Để trẻ có thể nói được một thứ tiếng nào đó, cần dạy trẻ nói theo từng bước thích hợp với lứa tuổi vàphải đặt trẻ trong môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ đó thường xuyên, liê tục.

    Cách học TMĐ của trẻ.

    Học qua quá trình giao tiếp hàng ngày, qua việc thực hành các kĩ năng nghe – nói- đọc- viết.

    Học thông qua các trò chơi phát triển ngôn ngữ;

    Học thông qua các hoạt động trong gia đình, ngoài xã hội

    Học thông qua các môn học trong nhà trường.

    Sử dụng kiến thức -kĩ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ để dạy học tiếng Việt

    Việc dạy học ngôn ngữ 2 đối với học sinh dân tộc thiểu số cần dựa trên ki

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh còn nhiều khó khăn.

    Tỉnh Gia Lai hiện có gần 400.000 học sinh, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, chủ yếu là học sinh người dân tộc Jrai, Bahnar. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tổ chức triển khai chương trình dạy tiếng Jrai, Bahnar và coi đây là một môn học tự chọn trong các trường học từ năm 2006 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Tuy nhiên, vì nhiều lý do, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn, số học sinh theo học tiếng dân tộc thiểu số ngày một giảm.

    Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng Jrai là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng Bahnar là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2022-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

    Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa cho biết: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

    Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh.

    Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2022-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường.

    Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải pho to sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

    Ngoài ra, từ năm học 2022-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

    Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Việt Cho Tây
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1
  • Phạm Xuân Nguyên: Tôi Dạy Tiếng Việt Cho Bộ Đội Campuchia
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Những năm qua, ngành giáo dục Yên Bái đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm tăng cường tiếng Việt cho học sinh mầm non, tiểu học. Qua đó, tỷ lệ học sinh mầm non ra lớp theo đúng độ tuổi đạt gần 100%, học sinh tiểu học dân tộc thiểu số đã mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

    Trường Mầm non xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn có 26 giáo viên phụ trách 322 trẻ (trong đó có 320 trẻ là người Mông), hầu hết các trẻ đều chưa nói sõi tiếng Việt. Cô giáo Nguyễn Thị Thương, Hiệu trưởng Trường Mầm non xã Suối Giàng cho biết, để học sinh có thể nói được tiếng Việt ngay từ nhỏ, nhà trường thường xuyên lồng ghép, tổ chức hoạt động sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt kết hợp với văn hóa dân tộc, nghe kể chuyện dân gian, đọc thơ, ca dao. Đặc biệt, nhà trường còn tổ chức hội thi, ngày hội đọc sách, tổ chức hoạt động vui chơi gắn với tiếng Việt, trong đó tập trung vào việc luyện phát âm ngọng cho trẻ…

    Cùng với đó, nhà trường chỉ đạo giáo viên viết bằng chữ in thường lên các khu vui chơi của trẻ, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời, cây xanh, cây hoa để trẻ có thể luyện phát âm; khuyến khích trẻ giao tiếp với cô giáo và các bạn bằng tiếng Việt. Trong quá trình dạy – học và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo viên rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, mở rộng vốn từ tiếng Việt, sửa lỗi phát âm, dùng từ, đặt câu cho trẻ. Nhờ vậy, hàng năm, nhà trường đều huy động tối đa trẻ 5 tuổi ra lớp và hoàn thành chương trình giáo dục mầm non. Trẻ đã nhận biết, phát âm tương đối đúng theo bộ chữ cái tiếng Việt, có kỹ năng cơ bản khi vào lớp 1.

    Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Nậm Lành, huyện Văn Chấn có 441 học sinh, trong đó 438 học sinh dân tộc thiểu số. Vì vậy, nhà trường đã triển khai nhiều biện pháp để tăng cường tiếng Việt cho các em, tạo thuận lợi cho việc giảng dạy, tiếp thu của giáo viên, học sinh.

    Đặc biệt, từ khi dự án nâng cao khả năng tiếp cận tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số (thuộc tổ chức KOICA, Hàn Quốc) được triển khai tại trường, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh thuận lợi hơn. Theo dự án, đối với lớp 1, 2, mỗi lớp sẽ có thêm một trợ giảng, trợ giảng là người tại địa phương và được hỗ trợ gần hai triệu đồng/tháng. Mỗi trợ giảng có vai trò là cầu nối, người truyền tải thông tin giữa giáo viên và học sinh.

    Trợ giảng Lò Thị Oanh chia sẻ, khi được đứng trên lớp cùng giáo viên và học sinh, cô thấy giữa học sinh – giáo viên có khoảng cách lớn bởi không cùng tiếng nói chung. Giáo viên khó khăn trong việc truyền tải tri thức cho các em, còn học sinh muốn học nhưng không hiểu thầy cô đang nói gì. Từ khi cô làm trợ giảng, việc học tập của học sinh cũng thuận lợi hơn.

    Cô giáo Trần Thị Thu Hằng cho biết, trước đây, khi chưa có trợ giảng, mỗi tiết học sẽ kéo dài hơn bởi nhiều câu hỏi các em giáo viên không hiểu. Nhờ có trợ giảng mà hoạt động dạy và học mang lại hiệu quả cao, các em đã tự tin hơn trong giao tiếp.

    Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Nậm Lành, huyện Văn Chấn Trịnh Văn Toán cho biết, do các em chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên khó khăn lớn nhất của học sinh khi đến trường là khả năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, học tập. Từ khi tỉnh triển khai đề án tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và dự án nâng cao khả năng tiếp cận tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường với nhiều hỗ trợ và hoạt động thực tế đã giúp các em tự tin giao tiếp.

    Ông Lê Quang Minh, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Chấn cho biết, trên địa bàn huyện có nhiều xã ở vùng sâu, vùng xa, chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Để các em có thể nói thành thạo tiếng Việt ngay từ nhỏ, phòng đã chỉ đạo các trường xây dựng mô hình thư viện tại trường; tổ chức ngày hội đọc sách, hội thi giao lưu tiếng Việt giúp học sinh dân tộc thiểu số tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Đến nay, 100% trẻ em dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện được tăng cường tiếng Việt; hơn 90% trẻ trên 5 tuổi có thể nghe, hiểu và trả lời bằng tiếng Việt.

    Bên cạnh đó, Phòng luôn cụ thể hóa đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022 – 2022, định hướng đến năm 2025” của tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp học, với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú. Ngoài ra, nhiều chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số trong quá trình học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương.

    Thời gian tới, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Chấn chỉ đạo các trường học tiếp tục duy trì mô hình thư viện tại trường, ngày hội đọc sách và hội thi giao lưu tiếng Việt; khuyến khích các thầy cô giáo đề xuất ý tưởng, cách làm mới về tăng cường tiếng Việt cho học sinh; tăng cường thời gian luyện nói cho học sinh trong các giờ học chính khóa, sinh hoạt đội, sao nhi đồng. Các trường lồng ghép hoạt động vui chơi gắn với học tiếng Việt cho học sinh để các em thành thạo tiếng Việt, tự tin tham gia hoạt động chung của trường…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái
  • Một Số Cách Dạy Tiếng Anh Trẻ Em Mà Phụ Huynh Nên Áp Dụng Tại Nhà
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Mới Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc: Thách Thức Lớn
  • Tài Liệu Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Cô giáo Nguyễn Thị Điềm-Trường Tiểu học Kông Lơng Khơng (huyện Kbang) ôn tập hè cho học sinh lên lớp 2. Ảnh: N.G

    Sự nhiệt tình của các giáo viên còn thể hiện ở chỗ nắm rõ danh sách học sinh, kịp thời phát hiện những em vắng mặt để vào tận nhà đón các em ra lớp. Ghi nhận tâm huyết của các thầy-cô giáo, chị Đinh Thị Khanh-một phụ huynh ở làng Bờ-nói: “Năm nay con tôi lên lớp 2, hè ở nhà không có ai giúp cháu học nên trường tổ chức dạy hè thế này rất bổ ích. Có hôm vợ chồng tôi vội đi làm không chở cháu đến trường được thì các cô vào tận nhà đón cháu đi. Sau này, tôi thấy các thầy cô vất vả quá nên ngày nào cũng cố gắng chở con đến trường rồi mới đi làm”. Cũng theo chị Khanh, dù con đi học hè nhưng gia đình chị không phải tốn kém gì vì sách, vở, bút đều được nhà trường hỗ trợ đầy đủ.

    Trao đổi thêm về việc tổ chức ôn tập hè cho học sinh, thầy Phạm Xuân Trường-Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Kông Lơng Khơng-cho biết: “Nhà trường thống nhất ôn tập cho các em trước 1 tháng. Trong đó, chúng tôi ưu tiên cho học sinh lớp 1, lớp 2 để củng cố vững chắc vốn tiếng Việt, làm tiền đề cho các em học tập các môn văn hóa khác”.

    Được biết, theo chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), 100% trường học vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã tổ chức ôn tập hè cho học sinh 2-3 tuần trước khi bước vào năm học mới.

    Đẩy nhanh đề án tăng cường tiếng Việt

    Năm 2022, UBND tỉnh ban hành đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2025”. Sở GD-ĐT đã tổ chức việc thực hiện đề án với mục tiêu: đảm bảo trẻ mầm non và học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số có đủ kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục; tạo tiền đề để các em học tập, lĩnh hội tri thức các cấp học tiếp theo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo sự phát triển bền vững cho vùng dân tộc thiểu số. Theo đó, toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2022 có ít nhất 35% trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi nhà trẻ, 90% trẻ 5 tuổi được tập trung tăng cường tiếng Việt phù hợp theo độ tuổi.

    Ngành GD-ĐT cũng đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể địa phương xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt tại gia đình, cộng đồng thôn, làng để tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kỹ năng nói. Trong năm học này, Sở GD-ĐT cũng đã có kế hoạch bồi dưỡng, tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án ở các địa phương, đồng thời xây dựng bản đồ ngôn ngữ tại những vùng có nhiều dân tộc thiểu số.

    Trao đổi thêm về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Đông-Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học (Sở GD-ĐT) cho biết: “Ngành giáo dục phấn đấu hàng năm có 100% học sinh dân tộc thiểu số được tăng cường tiếng Việt; 95% học sinh dân tộc thiểu số hoàn thành chương trình, đạt chuẩn kiến thức kỹ năng môn Tiếng Việt cấp tiểu học. Phấn đấu đến năm 2025, 100% học sinh dân tộc thiểu số đảm bảo chuẩn về chất lượng để học tốt chương trình THCS. Để đẩy nhanh tiến độ, chúng tôi đã chỉ đạo các đơn vị tăng cường tiếng Việt trong hè cho học sinh trước 2-3 tuần để các em sẵn sàng cho năm học mới. Đối với học sinh lên lớp 1, sự chuyển tiếp từ bậc mầm non lên tiểu học được coi là giai đoạn rất quan trọng khi các em bước vào môi trường học kiến thức thực sự sau khi kết thúc bậc mầm non mang tính chất học mà chơi, chơi mà học. Do đó, các trường cần ưu tiên để giúp các em không gặp nhiều khó khăn khi bước vào chương trình học mới”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dtts
  • Bảo Tàng Dân Tộc Học Ưu Đãi Hè
  • Múa Rối Nước Bảo Tàng Dân Tộc Học Có Điều Gì Thú Vị?
  • Giá Vé Vào Cửa Của Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
  • Làm Sao Để Đến Bảo Tàng Dân Tộc Học Ở Hà Nội Bằng Xe Buýt
  • Ngày Hội Giao Lưu Tiếng Việt Hs Dân Tộc Thiểu Số Cấp Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tình Hình Sử Dụng Ngôn Ngữ Của Học Sinh Dân Tộc Pako Ở Huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế (The Use Of Language Of Pako Pupils In A Luoi District, Thua Thien Hue Province)
  • Vấn Đề Chữ Viết Của Các Ngôn Ngữ Dân Tộc Ít Người Ở Việt Nam
  • Dạy Học Tiếng Dân Tộc Trong Trường Phổ Thông
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Tổng Quan Dân Tộc Thổ (Vi Đức Hồi)
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Thổ (Vi Đức Hồi)
  • Để nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh người dân tộc thiểu số, trong những năm qua, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều giải pháp hữu hiệu như: Tổ chức cho trẻ mầm non đến lớp làm quen với tiếng Việt, chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1, tập trung dạy học tăng cường tiếng Việt bằng nhiều giải pháp thích hợp khác nhau, tổ chức mô hình nội trú dân nuôi, tổ chức các sân chơi giao lưu tiếng Việt…

    Thực hiện qui trình chỉ đạo năm học 2014-2015, ngày 20/3/2015, tại Thị trấn KRông -KLang, huyện ĐaKRông, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức “Ngày hội giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” cấp tiểu học nhằm:

    – Tạo sân chơi để học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội được giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về cách thức, phương pháp, đặc biệt là kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập, giao tiếp.

    – Tạo môi trường giáo dục tích cực, thân thiện; góp phần thực hiện các chính sách dành cho người dân tộc thiểu số. Trong đó chú trọng hoạt động tăng cường tiếng Việt cho các em học sinh người dân tộc.

    – Từng bước thực hiện các nội dung điểm “nhấn” của Ngành “Tăng cường xây dựng văn hoá học đường và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”; khuyến khích, động viên ý thức tự học tập, tự rèn luyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

    Đến tham dự ngày hội có đại diện: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Ban Dân tộc miền núi Tỉnh, Lãnh đạo Sở và đại diện các phòng, ban thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện ĐKRông, các phòng, ban thuộc huyện Đakrông, lãnh đạo và chuyên viên các phòng Giáo dục và Đào tạo Hướng Hoá, Đakrông, Gio Linh, Vĩnh Linh và tổ chức PLan tại Quảng trị. Đặc biệt là sự có mặt của 6 đội tuyển tham gia: Hướng Hoá: 2 đội, Đakrông: 2 đội, Gio Linh: 1 đội, Vĩnh Linh: 1 đội với 72 học sinh người dân tộc thiểu số PaKô – Vân Kiều.

    Cô giáo Nguyễn Thị Thu Thủy-Phó Giám đốc sở GD&ĐT Quảng Trị – Phát biểu khai mạc Ngày hội

    Ngày hội diễn ra trong không khí đầy hào hứng sôi nổi; đem lại nhiều niềm vui, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đến dự. Sự chân thành, mộc mạc và đầy ngây thơ của các em với những phong cách khác nhau đã đem đến cho ngày hội những sắc thái riêng, hấp dẫn.

    Chương trình giao lưu Tiếng Việt với những nội dung và hình thức sinh động, phong phú gắn với bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số.

    Phần giao lưu văn nghệ tại Ngày hội

    Phần chào hỏi và giao lưu văn nghệ: mỗi đội xây dựng chương trình và nội dung để tự giới thiệu về những nét văn hóa cơ bản, đặc trưng của dân tộc mình, giới thiệu về mái trường thân yêu của mình, các thành viên của đội mình; thông qua phần này các em đã thể hiện tốt các kỹ năng nghe, nói tiếng Việt và thể hiện tinh thần hợp tác, gây ấn tượng tốt trong lòng khán giả. Nhiều tiết mục văn nghệ hấp dẫn với phong cách và trang phục biểu diễn đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Vân Kiều, PaKô như tiết mục: “Cô giáo em là hoa Ê Ban” của đội Đakrông 2, “Hren lên rẫy” của đội Hướng Hoá 2, “Hồn núi” của đội Hướng Hoá 1 đã mang đến sự hấp dẫn riêng của ngày hội.

    Phần đọc hiểu văn bản: các em bước đầu đã thể hiện được giọng đọc phù bợp với nội dung của văn bản, ngôn ngữ diễn đạt trôi chảy, rõ ràng, mạch lạc, diễn cảm và trả lời một số câu hỏi nhằm thể hiện kỹ năng đọc hiểu và cảm nghĩ của mình.

    Phần trò chơi tăng cường Tiếng Việt: đã tạo ra sân chơi hấp dẫn, lý thú; các em đã biết hợp tác để tìm ra câu trả lời đúng; trò chơi này đã kích thích các em say mê và yêu quý tiếng Việt, tạo ra môi trường giao lưu thân thiện, giúp các em tích cực học tập.

    Kết quả giao lưu, đội Hướng Hoá 1 đạt giải nhất, đội Đakrông 2 đạt giải nhì, đội Vĩnh Linh đạt giải ba, các đội Hướng Hoá 2, Đakrông 1 và Gio Linh đạt giải khuyến khích. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao các giải cho từng phần thi.

    Ngày hội giao lưu Tiếng Việt đã thể hiện tinh thần đoàn kết, thân ái, hợp tác và trao đổi học tập, giúp các em học sinh dân tộc thiểu số học tập và rèn luyện ngày càng tốt hơn.

    Ngày hội giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lần thứ nhất đã khép lại trong niềm vui, lưu luyến của mọi người. Những kết quả mà ngày hội đem lại có ý nghĩa to lớn đối với giáo dục dân tộc. Ngày hội đã tiếp thêm sức mạnh giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ để đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng môn tỉếng Việt và tự tin trong học tập, giao tiếp

    Đạt giải Nhất phần Giao lưu văn nghệ

    Trần Đức Nam @ 14:26 14/08/2015

    Số lượt xem: 916

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô
  • Trang Tin Điện Tử Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Hướng Dẫn Kiểm Tra Và Cấp Chứng Chỉ Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Học Tiếng Và Chữ Dân Tộc Mông
  • Dạy Và Học Tiếng Khmer Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Dạy Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tọc Day Tang Cuong Tieng Viet Cho Hoc Sinh Dan Toc Doc
  • Đề cập đến học sinh DTTS, tại một hội thảo cấp tỉnh bàn về việc xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu trong vùng DTTS tổ chức năm 2022, một thầy giáo người DTTS (đã nghỉ hưu) đề xuất lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng nên nghiên cứu đưa việc dạy chữ DTTS vào chương trình giáo dục dành cho các trường học vùng DTTS của tỉnh. Thầy giáo này lý giải, hiện nay trẻ em các DTTS bản địa (Mạ, Kơ Ho, Churu) không viết được chữ viết của dân tộc mình, chỉ nói thạo tiếng dân tộc (nhờ bắt chước người thân trong gia đình và cộng đồng) và “mù” tiếng Việt!

    Tình trạng học sinh DTTS tại hầu hết các trường mầm non (thậm chí tiểu học) ở Lâm Đồng chỉ biết nói “độc” tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt đa số ngọng nghịu, phát âm không chuẩn. Đây là thực trạng hết sức khó khăn khi trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, chuẩn bị bước vào lớp 1. Không giao tiếp được bằng tiếng Việt, cộng với tính cách thụ động, khả năng tiếp thu chậm… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của chính học sinh DTTS và chất lượng giáo dục chung của các trường. Để khắc phục thực trạng này, đồng thời thực hiện Quyết định số 1008 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2022 đến nay, UBND tỉnh Lâm Đồng đã triển khai Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh. Cụ thể hóa đề án trên, 3 năm qua, Sở GD-ĐT tỉnh đã tích cực triển khai “Chương trình tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người DTTS vừa hoàn thành chương trình giáo dục mầm non chuẩn bị vào lớp 1” tại tất cả các trường tiểu học có học sinh DTTS trong toàn tỉnh. Ông Nguyễn Duy Hải (Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học, Sở GD-ĐT tỉnh Lâm Đồng) cho biết việc dạy tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi nhằm kịp thời trang bị cho các em vốn tiếng Việt cơ bản, tối thiểu nhất để các em có khả năng sử dụng tiếng Việt (nghe – hiểu, nói) trong học tập và giao tiếp với thầy cô, bạn bè; giúp trẻ mạnh dạn hòa nhập trong môi trường giáo dục, hình thành một số kỹ năng để thích ứng và theo kịp yêu cầu trong công tác GD-ĐT chung của tỉnh. Theo đó, các em theo học lớp tiếng Việt trong hè hoàn toàn miễn phí. Nội dung là tài liệu “Em nói tiếng Việt” dành cho học sinh lớp 1 vùng DTTS do Bộ GD-ĐT hướng dẫn. Tất cả giáo viên tham gia chương trình này đều được tập huấn về nội dung, phương pháp tổ chức dạy học và được thanh toán theo chế độ làm thêm giờ.

    Ngoài sự quan tâm của ngành giáo dục, trong chiến dịch Tình nguyện hè năm nay, 20 sinh viên Trường CĐ Sư phạm Đà Lạt đã về công tác (một tháng) tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng. Tại đây, các sinh viên Khoa Sư phạm tiểu học phối hợp với giáo viên Trường Tiểu học Đăng Srõn dạy các em học sinh DTTS của trường kỹ năng đọc, viết tiếng Việt. Cô Võ Thị Hồng (Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đăng Srõn) cho biết năm học 2022-2019, toàn trường có 80 học sinh TDTS lớp 1 lên lớp 2. Do số lượng học sinh quá đông nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên gặp nhiều khó khăn do khả năng phát âm, đọc, viết tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế. Nhờ có sinh viên tình nguyện giúp, chất lượng học tập của học sinh cải thiện rõ rệt. Phạm Thị Hồng Vân (sinh viên năm 3 Khoa Sư phạm tiểu học) chia sẻ: “Đa phần học sinh DTTS ngoan và biết nghe lời; những ngày đầu còn thụ động, nhưng sau 2 tuần học tập các em tỏ ra thích thú và tiến bộ. Được trực tiếp dạy các em biết đọc, biết viết, nói được tiếng Việt, chúng em rất vui và cảm thấy việc làm của mình có ý nghĩa”.

    Trao đổi về chủ trương tăng cường tiếng Việt trong hè cho học sinh DTTS, ông Nguyễn Duy Hải cho biết đến nay các địa phương trong tỉnh đã triển khai chương trình đến tất cả các trường tiểu học. Hè năm nay, toàn tỉnh có 6.639/7.317 học sinh DTTS tham gia chương trình (đạt 90%); có 133 trường triển khai với 269 lớp…

    Có thể khẳng định việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS là mục tiêu, sự quyết tâm của địa phương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập giáo dục của tỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Du Hoc Trung Quốc: Đại Học Dân Tộc Quảng Tây ” Amec
  • Trường Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • 10. Phần 9: Tình Duyên
  • ‘tôi Đang Trong Quá Trình Tầm Sư Học Đạo’
  • Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    MỤC LỤC

    Trang

    I. PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………..2

    1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………2

    2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài …………………………………………..3

    3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………3

    4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………….3

    5. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………….3

    II. PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………….3

    1. Cơ sở lý luận …………………………………………………………… 3

    2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu…………………………………………..4

    3. Nội dung và hình thức của giải pháp……………………………………………… .5

    a. Mục tiêu giải pháp…………………………………………………………5

    b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp……………………………..5

    c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.

    ……………………….. 16

    d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi

    và hiệu quả ứng dụng………………………………………………. ……..17

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ …………………………………………18

    1. Kết luận ……………………………………………………………….18

    2. Kiến nghị ……………………………………………………………..19

    Người viết: Lê Thị Liên

    -1-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Như chúng ta đã biết, tất cả các trường tiểu học ở Việt Nam đều học

    chung một chương trình, một bộ sách giáo khoa các môn học, đều đánh giá

    kết quả học tập của học sinh trên một chuẩn thống nhất về kiến thức, kĩ năng

    và đều dạy học trực tiếp bằng tiếng Việt. Trong khi, điều kiện dạy học ở các

    vùng miền rất khác nhau và không phải tất cả học sinh tiểu học đều biết tiếng

    Việt trước tuổi đến trường. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất đối với học sinh

    người dân tộc Kinh nhưng lại là ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh người dân

    tộc thiểu số.

    Trong những năm học vừa qua, công tác tăng cường tiếng Việt cho học

    sinh dân tộc thiểu số luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp, ban

    ngành vì vậy chất lượng học tập tiếng Việt của các em đã có nhiều chuyển

    biến tích cực. Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá

    trình dạy học nên công tác giáo dục học sinh vùng dân tộc thiểu số vẫn còn

    nhiều khó khăn hạn chế, chất lượng học tập của học sinh vẫn còn thấp so với

    mặt bằng chung.

    Thực tế cho thấy, ở các vùng khó khăn có nhiều học sinh dân tộc thiểu

    số nói chung và trường tiểu học Y Ngông nói riêng, cha mẹ học sinh phần lớn

    nằm trong diện lao động nghèo lại đông con, điều kiện kinh tế gia đình còn

    khó khăn, nên chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con em mình ở

    trường cũng như ở nhà. Đa số học sinh dân tộc thiểu số trước tuổi đến trường

    chưa nói, giao tiếp thành thạo bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, các em lại ít nhận

    được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng. Hơn nữa, tiếng mẹ đẻ còn

    có thể là rào cản đối với việc học tiếng Việt của các em. Hầu hết giáo viên

    không biết nói tiếng nói tiếng dân tộc nên công tác phối hợp với cha học sinh

    để nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế.

    Làm thế nào để học sinh dân tộc thiểu số khắc phục được rào cản ngôn

    ngữ, học tốt các môn học trong chương trình tiểu học và đạt chuẩn kiến thức

    kĩ năng chung là vấn đề tôi luôn băn khoăn, trăn trở để tìm giải pháp hữu hiệu

    nhất. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tăng cường

    tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số”.

    Người viết: Lê Thị Liên

    -2-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    Người viết: Lê Thị Liên

    -3-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Quốc gia, được sử dụng trong

    nhà trường. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt có vai trò đặc biệt

    quan trọng. Việc không thông thạo tiếng Việt sẽ là rào cản rất lớn trong quá

    trình nắm bắt tri thức của học sinh.

    Tăng cường tiếng Việt là một trong những giải pháp nhằm giúp học

    sinh dân tộc thiểu số có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn

    thành chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức

    của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh

    dân tộc thiểu số trong nhà trường.

    2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

    Trong những năm học vừa qua, công tác tăng cường tiếng Việt cho học

    sinh dân tộc thiểu số luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo

    dục và Đào tạo, chính quyền địa phương. Lãnh đạo nhà trường luôn xác định

    đúng tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc

    thiểu số vì vậy đã xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, đưa ra một số

    biện pháp phù hợp để tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Hàng năm, 100%

    số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn trường được tăng cường tiếng Việt. Đa

    số giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm trong công tác, có ý thức tự học, tự rèn,

    khắc phục hạn chế, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Trường Tiểu học Y Ngông được thành lập năm 2008 với ba điểm

    trường đóng trên ba buôn đặc biệt khó khăn của xã Dur Kmăl. Tỉ lệ học sinh

    dân tộc thiểu số hàng năm chiếm trên 98% tổng số học sinh toàn trường. Hầu

    hết các em thuộc diện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ dân trí thấp,

    nhận thức về giáo dục và chăm lo việc học hành của cha mẹ học sinh đối với

    con em còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc phối hợp với cha mẹ học sinh để nâng

    cao chất lượng học tập cho các em gặp không ít khó khăn.

    Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người dân tộc kinh từ vùng thuận lợi

    chuyển vào công tác tại đơn vị. Hầu hết giáo viên không biết nói tiếng dân tộc

    cũng như không hiểu biết nhiều về phong tục tập quán của đồng bào nên công

    tác vận động học sinh ra lớp, phối hợp với cha mẹ học sinh để tăng cường

    tiếng Việt, nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. Một số giáo viên

    mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm về chuyên môn nên còn gặp những

    Người viết: Lê Thị Liên

    -4-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    -5-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    công tác bồi dưỡng đội ngũ muốn đạt hiệu quả cao cần phải thực hiện một

    cách có kế hoạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của nhà trường và nhu cầu

    của đội ngũ giáo viên.

    Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng

    Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp

    giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học

    sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng

    bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau:

    – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc

    biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử

    dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có

    nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách

    khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với

    đối tượng học sinh.

    – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan

    quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với

    học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng

    ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể:

    + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi

    đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ

    hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng

    đồng.

    + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư

    duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không

    hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh

    và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia

    đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ.

    – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp

    các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm

    mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ

    dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các

    em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng

    Người viết: Lê Thị Liên

    -6-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi

    cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng

    học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập.

    Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số

    khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình

    thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa

    phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ

    trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường).

    b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước

    tuổi đến trường

    Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị

    tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể

    nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện

    được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số

    bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và

    thực hiện các hoạt động giáo dục.

    Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được

    tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để

    thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng

    kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một;

    phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên

    trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận

    động học ra lớp.

    Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt

    cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho

    trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu được cấp phát cho giáo viên

    tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của

    từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở

    tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ.

    Ví dụ:

    – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng,

    Người viết: Lê Thị Liên

    -7-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    -8-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,…

    – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng

    cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy

    học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập

    để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh.

    – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ

    của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song

    ngữ để giải nghĩa từ,…)

    – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ

    tiếng Việt 1,2,3″ để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ

    hai.

    – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn

    để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ

    nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên

    bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường

    tiếng Việt cho học sinh).

    – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời

    lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện

    hành ( trong những năm học trước và năm học 2022-2017).

    Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả

    các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu

    số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học

    sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà

    còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt

    là môn tiếng Việt.

    Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng

    Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng

    giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh

    đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn

    trong quá trình thực hiện.

    Người viết: Lê Thị Liên

    -9-

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    – 10 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    – 11 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 12 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần

    Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp

    cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước

    hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ

    sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ

    sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân

    trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng

    học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí

    lớp học thân thiện.

    Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối

    quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp

    bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm

    việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng

    ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội… vì vậy, trong những năm học gần đây,

    không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong

    giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà

    trường.

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 13 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần

    Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc

    nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường

    tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em

    lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để

    làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một

    số biện pháp sau:

    b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

    Bác Hồ đã chỉ rõ: ” Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà

    trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách,

    trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm

    quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công

    tác giáo dục học sinh.

    Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực

    sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc

    gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa

    phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường,

    xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.

    Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống

    kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối

    hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng

    ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày

    toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào

    lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên

    dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến

    trường nhập học.

    Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến

    lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại

    diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp

    với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến

    trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm

    phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 14 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên

    nhân và vận động.

    Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia

    đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo

    điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học

    của con em mình.

    Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm

    chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động

    các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ

    học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được

    đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập…

    b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm

    Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường

    thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số.

    Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết

    cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt

    công tác duy trì sĩ số học sinh.

    Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số,

    đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh,

    chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo

    viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi

    đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi

    học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai

    ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các

    em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận

    động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp

    ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động

    học sinh đi học lại.

    Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để

    giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến

    khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc

    tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 15 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều

    hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và

    từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình.

    b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

    Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết

    sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên

    cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách

    nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên

    bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số

    học sinh.

    Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh

    gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập.

    Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì

    vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên

    bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập

    tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn.

    Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm

    sẽ nắm được số lượng của học sinh nghỉ học qua từng buổi học, tiết học, kịp

    thời tìm hiểu nguyên nhân để có pháp phù hợp vận động học sinh đi học

    chuyên cần.

    b.5.4.Nâng cao chất lượng học tập của học sinh

    Tiếp thu bài chậm là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh dễ

    chán học và bỏ học. Để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh ở vùng đặc

    biệt khó khăn, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, người giáo viên không chỉ

    cần có chuyên môn tốt mà còn phải có sự kiên trì, tận tụy, hiểu tâm lý học

    sinh. Nếu người giáo viên yêu cầu ở các em quá cao hay phương pháp dạy

    học không phù hợp có thể khiến các em nẩy sinh tâm lý “sợ học” dẫn đến

    chán học và bỏ học. Vì vậy, bài giảng cần phải vừa sức với học sinh nhưng

    vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức và thu hút được các em trong học tập.

    Để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, ngay từ

    đầu năm học, chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên tổ chức khảo sát chất lượng học

    sinh. Thông qua khảo sát, giáo viên nắm bắt trình độ nhận thức của từng em,

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 16 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    phân loại các đối tượng học sinh trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học

    phù hợp.

    Khuyến khích giáo viên tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học,

    tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh dân

    tộc thiểu số theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học

    sinh. Tổ chức các tiết học vui tươi, nhẹ nhàng, hiệu quả, kích thích được sự

    khám phá, tìm tòi, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Tạo nhiều cơ hội để

    học sinh được giao tiếp bằng tiếng Việt trong các hoạt động học, cần tránh sự

    căng thẳng, khô cứng trong các tiết học làm cho các em chán học dẫn tới bỏ

    học.

    Thường xuyên liên hệ, Phối hợp với cha mẹ học sinh để hướng dẫn học

    sinh chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Tuyên dương, khen thưởng kịp thời

    những học sinh có tiến bộ, đạt thành tích cao trong học tập. Từ đó, nhân rộng

    điển hình trong toàn trường. Gắn trách nhiệm cho từng giáo viên trong việc

    nâng cao chất lượng học tập của học sinh, lấy chất lượng giáo dục học sinh

    làm tiêu chí để đánh giá giáo viên cuối năm học.

    c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

    Các giải pháp, biện pháp trong đề tài có mối quan hệ chặt chẽ, lôgic với

    nhau. Đội ngũ giáo viên trong nhà trường thực sự yêu nghề, mến trẻ, có tinh

    thần trách nhiệm cao trong công việc, có năng lực chuyên môn là một trong

    những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng

    cường tiếng Việt cho học sinh. Bên cạnh đó, làm tốt công tác duy trì sĩ số,

    đảm bảo chuyên cần sẽ là nền tảng quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu

    quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số góp phần

    nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong nhà trường.

    Giáo viên cần linh hoạt khi thực hiện các giải pháp, biện pháp trên để đạt

    được hiệu quả cao nhất.

    d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,

    phạm vi và hiệu quả ứng dụng

    Đề tài thực hiện đã góp phần thiết thực trong công tác tăng cường tiếng

    Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại đơn vị. Các giải pháp tăng cường tiếng

    Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được triển khai và thực hiện hiệu quả trong

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 17 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    nhà trường. Kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh được nâng lên; các em

    mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp; tích cực, tự giác hơn trong học học tập;

    chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường được nâng lên.

    Các giải pháp trên tiếp tục được áp dụng hiệu quả tại đơn vị trong năm học

    2016-2017.

    Kết quả khảo nghiệm về kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh dân

    tộc thiểu số năm học 2022-2016 cụ thể như sau:

    Tổng

    số

    học

    sinh

    dân

    tộc

    thiểu

    số

    276

    Trước khi thực hiện đề tài

    (đầu năm học)

    Có kĩ năng cơ

    bản trong việc

    sử dụng tiếng

    Việt, đáp ứng

    được yêu cầu

    học tập.

    Sau khi thực hiện đề tài

    (cuối năm học)

    Có kĩ năng cơ

    bản trong việc

    sử dụng tiếng

    Việt, đáp ứng

    được yêu cầu

    học tập.

    TS

    %

    TS

    %

    TS

    %

    TS

    %

    185

    67.0

    91

    33.0

    262

    96.3

    10

    3.7

    Kết quả tham gia các hội thi các cấp năm học 2022-2016 đạt được như

    sau: Thi học sinh giỏi toán, Tiếng Anh qua mạng cấp huyện đạt 02 em; Tham

    gia Hội khỏe Phù Đổng cấp huyện 01 học sinh đạt giải ba môn điền kinh;

    Giao lưu tiếng Việt học sinh dân tộc thiểu số cấp huyện – phần thi năng

    lực đạt công nhận 06/06 học sinh tham gia, trong đó 02 em đạt giải ba.

    Thông qua khảo nghiệm, giúp bản thân nắm bắt được một cách chính

    xác thực trạng của vấn đề mà đề tài nghiên cứu. Từ đó đưa ra các giải pháp

    hợp lý nhất nhằm giải quyết vấn đề; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các

    giải pháp để có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình thực hiện.

    Đề tài thực hiện đã có tác động tích cực đến ý thức của đội ngũ giáo

    viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và

    trang bị cho mình các kỹ năng, kiến thức cần thiết để đảm nhiệm công việc

    một cách tự tin hơn.

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 18 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    Các giải pháp, biện pháp trong đề tài dễ thực hiện, có thể áp dụng cho

    các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số và đã được chia sẻ tại chuyên

    đề cấp huyện năm học 2022-2016.

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    Tăng cường tiếng Việt là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo

    dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Đây là việc làm xuyên suốt trong hoạt động

    giáo dục. Muốn thực hiện tốt các giải pháp trên, nhà trường cần thực hiện tốt

    một số vấn đề sau:

    Định hướng cho giáo viên lựa chọn các nội dung bồi dưỡng thường

    xuyên phù hợp với nhiệm vụ năm học, tình hình thực tế của đơn vị, địa

    phương và nhu cầu cần bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên. Nâng cao chất lượng

    các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề trong nhà trường theo hướng lấy

    học sinh làm trung tâm, đặc biệt chú trọng đến các giải pháp tăng cường tiếng

    Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện cho giáo viên dự giờ, thăm

    lớp, trao đổi kinh nghiệm trong trường, cụm chuyên môn cũng như các trường

    bạn trong huyện để nâng cao năng lực chuyên môn.

    Tổ chức hiệu quả lớp Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường.

    Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công văn số 8114/BGDĐT ngày 15/9/2009,

    công văn số 145/TB-BGDĐT ngày 2/7/2010 về việc Thông báo Kết luận của

    Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển tại hội nghị giao ban dạy học tiếng Việt cho

    học sinh dân tộc thiểu số. Công tác tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc

    thiểu số phải được thực hiện thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi.

    Phối kết hợp tốt với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và cha mẹ

    học sinh trong việc quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của

    địa phương nói chung và của nhà trường nói riêng. Từ đó, huy động các

    nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học chuyên cần, làm

    tốt công tác duy trì sĩ số.

    2. Kiến nghị

    – Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tổ chức các chuyên đề về tăng

    cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 19 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

    Lê Thị Liên

    NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

    …………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………

    CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

    Hiệu trưởng

    Người viết: Lê Thị Liên

    – 20 –

    Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc: Thách Thức Lớn
  • Phương Pháp Mới Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Các Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dtts
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100