Top 11 # Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Là Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì? Dạy Như Thế Nào?

Phương pháp dạy học tích cực là gì? Dạy như thế nào? Nó có phổ biến hay không? Tại Việt Nam thì phương pháp này đang phát triển như nào?

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương dạy học, tất cả đều với mục đích muốn giảng dạy tốt cho học sinh, sinh viên và người đi học một chương trình tốt. Ở bài viết này chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu về phương pháp dạy học tích cực.

A. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

Hay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực không cho phép giảng viên truyền đạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua những dẫn dắt sơ khai sẽ kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến thức đó. Cách dạy này đòi hỏi những giảng viên phải có bản lĩnh, chuyên môn tốt và cả sự nhiệt thành, hoạt động hết công suất trong quá trình giảng dạy.

B. Cách tiến hành phương pháp dạy học tích cực

Những nguyên tắc, hay còn được gọi là đặc trưng cơ bản của phương pháp học tích cực chính là:

1. Dạy học thông qua hoạt động của học sinh là chủ yếu

Tức là trong tiết học, học sinh chính là đối tượng chính để khai phá kiến thức. Chính vì thế, giáo viên phải làm sao đó, với những cách thức gợi mở vấn đề ở một mức độ nhất định sẽ tác động đến tư duy của học sinh, khuyến khích học sinh tìm tòi và cùng bàn luận về vấn đề đó.

2. Chú trọng đến phương pháp tự học

Nếu bạn chủ động áp dụng phương pháp dạy và học tích cực, bạn phải loại bỏ hoàn toàn suy nghĩ cầm tay chỉ việc, đọc – chép… như những cách thức giảng dạy thông thường khác.

Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ chú trọng cho học sinh cách thức rèn luyện và tự học, tự tìm ra phương pháp học tốt nhất để có thể tự nắm bắt kiến thức mới. Tất nhiên, kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định và đảm bảo chắc chắn đấy là kiến thức chuẩn.

3. Ưu tiên phương pháp học nhóm, tập thể Với phương pháp học tích cực, giảng viên phải biết cách chia đội, nhóm và giúp các học sinh phối hợp cùng với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất.

4. Chốt lại kiến thức học

Cuối mỗi buổi học, giảng viên, gia sư sẽ cùng học sinh tổng hợp lại những kiến thức tìm hiểu được, đồng thời giải đáp những vấn đề học còn thắc mắc, cùng trao đổi và chốt lại kiến thức cho cả buổi học.

Chính vì thế, điều quan trọng vấn là giảng viên phải biết cách vận dụng phương pháp dạy học tích cực để có thể giúp học sinh nhanh chóng thích nghi với phương pháp học tích cực, chủ động này.

C. Phương pháp dạy học tích cực tại Việt Nam

Là một phương pháp học lấy sự chủ động của người học làm trọng tâm, phương pháp dạy học tích cực đã và đang được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng và mang lại những thành công nhất định cho nền giáo dục nước nhà. Tại Việt Nam, phương pháp dạy học tích cực cũng đang dần được phổ biến, thay thế cho cách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động như trước đây.

Hiện nay Trung tâm Gia sư Hà Nội hiện đang ứng dụng phương pháp dạy tích cực trong việc dạy thêm, dạy kèm cho học sinh. Nhờ ứng dụng phương pháp học tiên tiến này mà Trung tâm đã gặt hái được nhiều thành công trong việc dạy học, học sinh theo học ở Trung tâm, học sinh được dạy kèm tại nhà tiến bộ từng bước trong suốt quá trình học.

Môn Sinh Học Tiếng Anh Là Gì? Phương Pháp Học Tốt Hiệu Quả Nhất.

Để ghi nhớ hết từ vựng các môn học trong tiếng Anh và sử dụng thành thạo đòi hỏi các bạn phải học tập một cách nghiêm túc và có nền tảng đấy. lấy sách vở ra để cùng ghi chép nào!

Art nghệ thuật

Classics văn hóa cổ điển (thời Hy Lạp và La Mã)

Drama kịch

Fine art mỹ thuật

History lịch sử

History of art lịch sử nghệ thuật

Literature văn học

Ví dụ: French literature, English literature, v.v… Văn học Pháp, văn học Anh, v.v

Modern languages ngôn ngữ hiện đại

Music âm nhạc

Philosophy triết học

Theology thần học

Astronomy thiên văn học

Biology sinh học

Chemistry hóa học

Computer science tin học

Dentistry nha khoa học

Engineering kỹ thuật

Geology địa chất học

Medicine y học

Physics vật lý

Science khoa học

Veterinary medicine thú y học

3. MÔN HỌC TRONG TIẾNG ANH: CÁC MÔN KHOA HỌC không gian

Archaeology khảo cổ học

Economics kinh tế học

Media studies tìm hiểu mạng

Politics chính trị học

Psychology tâm lý học

social studies tìm hiểu thế giới

Sociology không gian học

4. MÔN HỌC TRONG TIẾNG ANH: CÁC MÔN HỌC khác

Hãy tiếp tục bổ sung kiến thức của mình với rất nhiều môn học trong tiếng Anh cực kỳ hữu ích nào!

Accountancy kế toán

Architecture kiến trúc học

business studies kinh doanh học

Geography địa lý

design and technology design và công nghệ

Law luật

Maths (viết tắt của mathematics) môn toán

Nursing môn điều dưỡng

PE (viết tắt của physical education) thể dục (Giáo dục thể chất)

Religious studies tôn giáo học

Sex education dạy bảo giới tính

Foreign language Ngoại ngữ

Information Technology Tin học

Music Nhạc

Technology Công nghệ

Civic Education dạy bảo Công dân

Craft Thủ công

National Defense Education dạy bảo Quốc phòng

5. MÔN HỌC TRONG TIẾNG ANH: CÁC MÔN HỌC VỀ THỂ THAO

Có một số môn học về thể thao thường được dạy trong trường học nhưng một số môn chỉ có ở các trường chuyên về ngành nghề này. Bạn đủ nội lực đọc và tham khảo để sử dụng khi cần:

discus throw ném đĩa

high jump nhảy cao

hurdles chạy vượt rào

javelin throw ném lao

long jump nhảy xa

marathon chạy ma-ra-tông

pole vault nhảy sào

aerobics thể dục thẩm mỹ/thể dục nhịp điệu

athletics điền kinh

badminton cầu lông

baseball bóng chày

basketball bóng rổ

beach volleyball bóng rổ bãi biển

boxing đấm bốc

Ngoài việc ghi nhớ các môn học trong tiếng Anh, bạn đủ sức dùng vốn từ ngữ này để nói chuyện với bạn bè quốc tế về đề tài thể thao mà rất nhiều người yêu thích đấy. Hẳn cuộc nói chuyện của các bạn sẽ rất rôm rả!

climbing leo núi

cycling đua xe đạp

darts trò ném phi tiêu

diving lặn

fishing câu cá

football bóng đá

golf đánh gôn

gymnastics tập thể ảnh

handball bóng ném

hiking đi bộ đường dài

hockey khúc côn cầu

ice hockey khúc côn cầu trên sân băng

ice skating trượt băng

inline skating/rollerblading trượt pa-tanh

jogging chạy bộ

judo võ judo

karate võ karate

kick boxing võ đối kháng

lacrosse bóng vợt

martial arts võ thuật

mountaineering leo núi

netball bóng rổ nữ

rowing chèo thuyền

rugby bóng bầu dục

running chạy đua

sailing chèo thuyền

snooker bi-a

squash bóng quần

swimming bơi lội

table tennis bóng bàn

ten-pin bowling bowling

tennis tennis

volleyball bóng chuyền

walking đi bộ

weightlifting cử tạ

wrestling môn đấu vật

yoga yoga

Ở các trường ĐH chuyên lĩnh vực hoặc ở một số trường không giống vẫn tiến hành dạy một số môn ngoại ngữ. Thường thì chúng ta chỉ chú ý đến môn tiếng Anh, tiếng Trung Quốc hay tiếng Nhật…nhưng rất còn nhiều ngôn ngữ không giống được nhiều người theo học đấy!

Vietnamese: tiếng Việt

Chinese: tiếng Trung

Japanese: tiếng Nhật

Combodian: tiếng Campuchia

Spanish: tiếng TBN

English: tiếng Anh

French: tiếng Pháp

Russian: tiếng Nga

Greek: tiếng Hy Lạp

Danish: tiếng Đan Mạch

Spanish: tiếng Tây Ban Nha

Swedish: tiếng Thụy Điển

German: tiếng Đức

Turkish: tiếng Thổ Nhĩ Kỳ

Portugeese: tiếng Bồ Đào Nha

Italian: tiếng Italia

Korean: tiếng Hàn Quốc

Polish: tiếng Ba Lan

7. MỘT SỐ TỪ VỰNG khác CÓ LIÊN QUAN

professor giáo sư

lecturer giảng viên

researcher nhà nghiên cứu

research nghiên cứu

undergraduate cấp đại học

graduate sau đại học

post-graduate hoặc post-graduate student sau ĐH

Masters student học viên cao học

PhD student tìm hiểu sinh

Master’s degree bằng cao học

Bachelor’s degree bằng cử nhân

degree bằng

thesis luận văn

dissertation lý luận văn

lecture bài giảng

debate buổi tranh luận

higher education giáo dục đại học

semester kỳ học

student union hội sinh viên

tuition fees học phí

university campus khuôn viên trường ĐH

school trường học

nursery school trường mẫu giáo (2-5 tuổi)

primary school trường tiểu học (5-11 tuổi)

secondary school trường trung học (11-16/18 tuổi)

state school trường công

private school hoặc independent school trường tư

boarding school trường nội trú

sixth-form college cao đẳng (tư thục)

technical college trường cao đẳng kỹ thuật

vocational college trường cao đẳng dạy ngành

art college trường cao đẳng nghệ thuật

teacher huấn luyện college trường cao đẳng sư phạm

university ĐH

Với post thống kê tên các môn học trong tiếng Anh đầy đủ, hi vọng bạn vừa mới bổ sung được kho từ vựng của mình thêm nhiều từ mới.

Nguồn: https://www.studytienganh.vn

Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Kiều Bào: Quan Trọng Là Phương Pháp

Sau khi chỉ rõ có trường hợp sau 2 ngày dạy, các em có thể email bằng tiếng Việt về nhà cho bố mẹ, Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam Lê Bá Trình cho rằng, quan trọng là phương pháp giảng dạy.

Là người đã 36 năm công tác tại Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ông Trần Đức Mậu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng, tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu không duy trì được tiếng Việt sẽ không duy trì được bản sắc, văn hóa dân tộc Việt ở nước ngoài, nhất là các thế hệ thứ ba, thứ tư. Giữ gìn phát huy dạy tiếng Việt trong kiều bào là mục tiêu hàng đầu được Ủy ban chú trọng, và cũng là vấn đề được Đảng, nhà nước hết sức quan tâm.

Tuy nhiên theo ông Mậu, quan trọng là làm sao tạo được không gian tiếng Việt vì dạy tiếng mà không có không gian sử dụng thì cũng không phát huy được hiệu quả. “Chương trình đã đi đúng hướng, song vấn đề thế nào là làm phát huy hiệu quả hơn nữa. Hiện nay chúng ta chưa có bộ sách giáo khoa chính thức cho người Việt Nam ở nước ngoài, vì điều kiện ở mỗi nước, chúng ta cũng chưa có cách làm thống nhất vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nơi. Vì vậy làm sao ứng với từng điều kiện đó để có cách dạy, mô hình, sách giáo khoa hiệu quả nhất cho người Việt Nam ở nước ngoài” – ông Mậu đưa ra ý kiến đánh giá.

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn, Vụ Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) hiện nay có khoảng hơn 4 triệu kiều bào đang sinh sống ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc dạy và học tiếng Việt đã có chỉ đạo từ Chính phủ nhưng đến nay chưa được hoàn thiện. Vừa rồi, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Chính phủ đề án đưa tiếng Việt lên mạng internet để nhiều người có thể học tiếng Việt nhiều hơn, nhất là trong điều kiện bà con còn lo làm ăn. “Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam rất quan tâm đến vấn đề này. Thủ tướng vừa phê duyệt đề án tăng cường dạy tiếng Việt trên mạng trực tuyến cho người Việt Nam ở nước ngoài. Mục tiêu của đề án này nhằm xây dựng và duy trì chương trình dạy tiếng Việt trên mạng trực tuyến gồm 6 trình độ căn bản, thiết thực, hiệu quả, phù hợp, dễ tiếp cận cho người Việt Nam ở nước ngoài nhằm giúp cho các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài” – ông Sơn cho hay.

Ông Sơn cũng cho rằng, tài liệu dạy tiếng Việt chỉ mới là bộ khung cơ bản về ngôn ngữ, còn từ đó cần biên soạn lại cho phù hợp hơn vì kiều bào sinh sống ở mỗi nước đều có đặc thù riêng.

Phó Chủ tịch Lê Bá Trình nhấn mạnh rằng, một trong những yếu tố duy trì tình cảm của kiều bào với đất nước, cội nguồn là ngôn ngữ và chữ viết. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc hết sức quan tâm là làm sao để tiếng Việt phổ quát ở cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Chỉ rõ do mỗi nơi có tính đặc thù khác nhau nên chương trình giảng dạy không thể giống nhau, Phó Chủ tịch Lê Bá Trình lưu ý, cần nâng cao phương pháp để việc giảng dạy ngày càng hiệu quả hơn nữa. “Có trường hợp sau 2 hôm giảng dạy, có em học sinh đã tự có thể email được về nhà bằng tiếng Việt. Do đó phương pháp giảng dạy là rất quan trọng”-Phó Chủ tịch Lê Bá Trình nêu rõ.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Phần Âm Môn Tiêng Việt Lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN ÂM MÔN TIÊNG VIỆT LỚP 1 – CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC” A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1/ Lý do chọn đề tài: Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết một cách vững chắc mà HS luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp GV nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ giúp GV đổi mới phương pháp một cách triệt để. Một điểm khác với phương pháp dạy trước đây, khi áp dụng phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1CGD, Giáo viên không phải cầm tay học sinh tập viết, mà mỗi học sinh tự tư duy bài giảng. Quy trình dạy của giáo viên sẽ được tiến hành theo bốn bước đó là: nhận diện ngữ âm, tập viết, đọc và luật chính tả.

Chương trình đã phát huy được khả năng tư duy của học sinh, giúp học sinh nắm chắc được cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt. Qua thời gian nghỉ hè học sinh không quên chữ. Học sinh có thể nắm chắc luật chính tả và kĩ năng nghe để viết chính tả tốt. Từ những lí do trên nên tôi viết sáng kiến về “Phương pháp dạy học phần âm môn Tiếng Việt lớp 1- CGD “. a) Cơ sở lý luận: Những quan điểm giáo dục: Trong nhà trường, trẻ em là nhân vật trung tâm, thầy giáo là nhân vật quyết định”, “Nhà trường là nơi trẻ em đang sống cuộc sống thực của chính mình”, “Thầy thiết kế – trò thi công”… Vậy Công nghệ giáo dục là gì? Công nghệ giáo dục không phải là Công nghệ thông tin trong Giáo dục, và cũng không phải chỉ là phương pháp Giáo dục. Công nghệ thông tin được sử dụng như các phương tiện trong Giáo dục và Công nghệ giáo dục tận dụng tối đa những phương tiện này. Công nghệ giáo dục là quá trình tổ chức và kiểm soát quá trình Giáo dục sao cho ra được sản phẩm tất yếu, theo đúng ý đồ thiết kế của nhà Giáo dục. Công nghệ giáo dục là thiết kế được

những việc làm Giáo dục để học sinh tự mình làm ra sản phẩm học tập cho chính mình. Tiết học vẫn có giáo viên, nhưng không phải để giảng bài, mà để hướng dẫn các em cách tự học. Điều này vừa giúp trẻ hình thành phương pháp tự học, vừa tạo cho trẻ được trải nghiệm thêm kỹ năng làm việc. Nếu học sinh không làm được thì đó là lỗi của người lớn (của thầy cô giáo) chứ không phải của các em. Nhà trường cũng yêu cầu không đem cái chưa đúng của học sinh ra để trừng phạt hay để phân tích trước cả lớp. Em nào đúng thì khen, em nào chưa đúng thì phải giúp để em làm đúng được mới thôi. Trong lớp được phép “ồn” nếu là ồn trong học tập, không nhất thiết phải im lặng mới là ngoan. Làm xong bài trước, ngọ ngoạy… một tí được chấp nhận, miễn là không làm ảnh hưởng đến bạn khác. Cái quan trọng nhất là “Phải dạy trẻ biết suy nghĩ, không phải chỉ biết nghe lời”,”Phải làm sao cho trẻ suy nghĩ bằng cái đầu của mình, không phải của người khác”. Quan hệ thầy – trò trong nhà trường không phải quan hệ bề trên kẻ dưới, mà là thực hiện một sự phân công – hợp tác.

Yêu cầu các em học hết sức, chứ không quá sức, phải thiết kế sao cho “Giáo viên không giảng giải, học sinh không cần cố gắng”, với nghĩa thầy chỉ là người làm mẫu, hướng dẫn và điều chỉnh, trò cần học hết sức mình nhưng không phải cố quá sức, không bị căng thẳng, không bị áp lực, vừa đủ để thấy việc học thích thú, hấp dẫn. Tiếng Việt là công cụ để học tất cả các môn học và hoạt động GD khác. Nếu không học được Tiếng Việt, khó có thể học tốt những môn học khác. Tiếng Việt công nghệ giáo dục thành công không những cho học sinh người Kinh mà còn ở cả những vùng chỉ toàn học sinh dân tộc thiểu số, cha mẹ chỉ nói tiếng thiểu số, không biết tiếng Việt. Trân trọng trẻ em, hiểu trẻ em để dạy trẻ em, dạy trẻ biết tư duy, biết yêu thương và biết cách tự phục vụ là đích đầu tiên, dung dị và nền tảng nhất trong nhân cách con người mà nhà trường đặt ra. b) Cơ sở thực tiễn: Trên thực tế qua nhiều năm ở trường tiểu học Phi Liêng nói chung và ở khối lớp 1 nói riêng. Các em học sinh từ Mầm non lên lớp 1, trong việc học tập cũng như các hoạt động các em còn rụt rè và thích ứng với môi trường còn chậm so với học sinh các vùng thuận lợi khác.

Lần đầu các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng việt 1 – CNGD về phần âm học sinh chưa biết chữ cái dẫn đến khó ghép vần, bên cạnh đó còn có một số học sinh phát âm sai, phân tích lúng túng, đối với luật chính tả không bắt nắm được, phần viết tốc độ viết quá chậm. Vì vậy học sinh nhập tâm và ghi nhớ một cách máy móc. Trong việc học tập của các em còn lúng túng, chưa phát huy hết năng lực học tập. Bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ âm, cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, biết làm những nguyên âm không tròn môi thành nguyên âm tròn môi, biết phân biệt âm đệm và âm chính, âm chính và âm cuối, vần có đủ âm đệm, âm chính và âm cuối, biết nguyên âm đôi, luật chính tả về nguyên âm đôi nên các em còn nhiều b ng và tiếp thu kiến thức thật khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa nắm vững các chữ cái. Với yêu cầu của phần âm, các em phải đọc đúng âm, phải nắm bắt kiến thức một cách vững vàng, để biến kiến thức đó thành kĩ năng, kĩ xảo trong phần âm, vần thì các em mới học tốt được môn tiếng Việt. Để thực hiện tốt chương trình này thì giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu chương trình, giúp các em đọc thông, viết thạo, không tái

mù, các em nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống ngữ âm của Tiếng Việt. Chính vì thế, vấn đề tôi đặt ra làm sao giúp cho học sinh phát triển trí tuệ, tình cảm, yêu thích với mục đích giúp các em: mỗi ngày đến trường là một ngày vui, tập cho các em tính mạnh dạn trong học tập và khả năng sáng tạo để học tốt phần âm, giúp học sinh lớp 1 nắm bắt được âm trong môn Tiếng việt 1- CNGD. 2/ Phạm vi đề tài: – Đối tượng là 59 học sinh khối 1. B. THỰC TRẠNG Qua đợt kiểm tra khảo sát chất lượng tháng 10 năm học 2014 2015, về chất lượng của khối 1, cũng như qua quá trình theo dõi học tập của học sinh, kết quả đạt được như sau: TSHS

59

HS biết

HS biết

âm

ghép

11 HS

23 HS

1. Đối với giáo viên: a. Thuận lợi:

HS biết phân tích, đọc trơn

25 HS

100 % Giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn. Hầu hết giáo viên tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ, cơ bản được dự giờ và học hỏi kinh nghiệm từ chuyên đề trường bạn, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do ngành, nhà trường và cấp trên tổ chức. Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh, luôn tích cực tự học và sáng tạo trong giảng dạy. Cơ sở vật chất thiết bị, sách giáo viên, SGK đầy đủ, phục vụ cho công tác giảng dạy, trường lớp khang trang, thoáng mát, sạch sẽ đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên. Giáo viên không phải soạn bài môn tiếng việt, tiết kiệm được thời gian để giáo viên nghiên cứu bài dạy. Tác phong sư phạm chững chạc, lời nói nhẹ nhàng dễ nghe, luôn gần gũi giúp đ học sinh. Về chương trình mới dạy ƯDCN – TV1 rất tốt cho việc triển khai dạy học chương trình này tại đơn vị cụ thể là: Việc sử dụng ký hiệu thay lời nói của giáo viên đ mất thời gian. Quy trình đọc, đọc phân tích tiếng rất hiệu quả. Quy trình hướng dẫn tập viết và viết chính tả rất kỹ.

b. Khó khăn: Do bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh. Là năm đầu tiên áp dụng chương trình SGK mới nên giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc nghiên cứu nội dung bài dạy và việc truyền đạt kiến thức trên lớp. Giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy học nhằm phát huy tính tích cực lấy học sinh làm trung tâm ở môn Tiếng Việt 1 – CNGD. Hoạt động dạy cho học sinh nhớ máy móc là chủ yếu. Phần lớn giáo viên được phân công phụ trách khối lớp 1 kinh nghiệm công tác còn ít vốn hiểu biết về văn hóa ở địa phương còn hạn chế, trong tổ có một số giáo viên năm đầu tiên được phân công giảng dạy lớp 1. Khi tổ chức dạy học sinh ở phân môn này còn khô khan, lúng túng chưa mang lại hiệu quả cao. Chưa định hướng cách học cho học sinh nên khi tìm hiểu về âm học sinh chưa có cách học chủ động, tích cực và sáng tạo. Từ quá trình triển khai cũng thấy rằng có một số hạn chế của tài liệu TV1- CNGD, theo thiết kế thực hiện, tài liệu có 2 điểm chưa phù hợp: Thứ nhất, theo hướng dẫn thì trong quá trình tổ chức giảng dạy,

giáo viên không sử đụng đồ dùng dạy học. Điều này làm hạn chế kết quả nhận thức của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc. Thứ hai, chưa có nhiều thời gian cho học sinh rèn kỹ năng nói, đọc nhiều … Khó khăn khi dạy luật chính tả: ví dụ như đọc âm c viết âm k hoặc là yêu cầu học sinh làm tròn môi âm l học sinh đọc chưa theo yêu cầu. 2. Đối với học sinh: 1. Thuận lợi: Luôn được sự quan tâm và giúp đ của chính quyền địa phương và các cấp lãnh đạo. Điều kiện cơ sở vật chất: Có đầy đủ bàn ghế đạt chuẩn, phòng học sáng sủa, sạch sẽ thoáng mát, ĐDDH, tủ, SGK, vở viết, được cấp phát và trang bị đầy đủ. Đa số gia đình các em tập trung ở 3 thôn, điểm thôn nào đều học tại điểm đó thuận tiện cho việc đi học của các em. 2. Khó khăn: 93,6% HS đều là con em dân tộc thiểu số. Vốn tiếng việt của các em còn hạn chế.

Bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh nên trong quá trình tiếp thu bài học sinh còn gặp khó khăn. Các em từ trường Mầm non lên nên chưa thuộc hết bảng chữ cái, chưa bắt nhịp được môi trường học tập mới. Các em còn rụt rè, chưa đọc thông viết thạo. Do đổi mới chương trình môn tiếng việt 1 công nghệ giáo dục nên các em còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu chương trình mới, các em chưa nắm bắt được ngữ âm và vần chưa định hình phân tích được đâu là nguyên âm, đâu là phụ âm, không phân biệt được đâu là âm đệm, đâu là âm chính, đâu là âm cuối, chương trình này còn quá sức đối với các em là người dân tộc thiểu số, ngoài ra các em không nắm được luật chính tả nên rất khó khăn trong việc dạy. Khi học sinh thực hiện vẽ mô hình còn lúng túng chưa biết quy tắc vẽ, chưa biết đưa âm đệm, âm chính, âm cuối vào mô hình, chưa xác định rõ đâu là âm chính và đâu là âm cuối, và chưa nắm được vần vì vấn đề nắm âm chưa chắc, học về luật chính tả các em chưa phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đôi, yêu cầu học sinh viết bài vào vở thì bài quá dài mà học sinh còn viết quá chậm, Cách cầm bút học sinh còn run, do đó có phần ảnh hưởng đến quá trình

giảng dạy cũng như học tập của học sinh. Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa biết chữ cái nhưng đã phải viết như dạng chính tả, ngoài ra học sinh không biết chữ khó ghép âm, vần và phát âm sai nhiều dẫn đến sai lỗi chính tả nhiều, lúc thì chữ, âm, tiếng, vần. Trong quá trình học, các em còn phải phân biệt được tiếng có âm đầu, tiếng có âm chính, tiếng có âm đệm, âm chính, tiếng có âm đệm, âm cuối… Trước đây, học hết 9 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép chữ thành âm, tiếng, từ, học sinh chỉ đọc bài dài 15 tiếng. Nay hết 9 tuần, học sinh đã phải đọc những bài dài tới 20 tiếng, mặc dù các em biết tiếng luôn, nhưng chỉ là đọc vẹt theo giáo viên, nên không viết được chữ. Với những lớp có học sinh yếu, giáo viên rất vất vả và nguy cơ các em “mù chữ” luôn nếu chẳng may bị ốm phải nghỉ một vài buổi học. Chưa kể đến việc khi giáo viên giao bài về nhà tập đọc, học sinh thấy bài quá dài, không có bạn bè đọc cùng cho khí thế nên “ngại” không muốn đọc, do đó ngày càng yếu, kém. Đa số gia đình các em hoàn cảnh, cuộc sống còn khó khăn nên ảnh hưởng đến một phần học tập của các em. Hầu hết các em chưa có góc học tập ở nhà.

Trước những tồn tại và thực trạng nêu trên, tôi đã mạnh dặn viết lên skkn của bản thân về ” Phương pháp dạy học phần âm trong môn Tiếng việt 1 – Công nghệ giáo dục”. C. CÁC GIẢI PHÁP: 1. Mục tiêu chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD Học xong chương trình Tiếng Việt lớp 1-CGD học sinh đạt được các mục đích sau: 1. 1. Các em đọc thông, viết thạo, không tái mù. 1.2. Các em nắm chắc luật chính tả. 1.3. Các em nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt. 2. Đối tượng chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp1- CGD chính là cấu trúc ngữ âm của tiếng Việt bao gồm : – Tiếng – Âm và chữ – Vần 3.Nội dung chương trình chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD ( gồm 4 bài) 3.1. Bài 1: Tiếng

3.2. Bài 2: Âm 3.3. Bài 3: Vần 3.4.Bài 4: Nguyên âm đôi 4. Phương pháp dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD 4.1. Phương pháp mẫu: -Lập mẫu, sử dụng mẫu. -Làm mẫu tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có. 4.2. Phương pháp làm việc: – Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy. II.Phần cụ thể – phần âm 1. Mục tiêu phần âm – HS nắm chắc 38 âm vị của Tiếng Việt cũng như cách viết của các âm vị này. – Biết phân biệt nguyên âm, phụ âm qua phát âm dựa vào luồng hơi bị cản hay luồng hơi đi ra tự do.

– Biết ghép phụ âm đầu với nguyên âm tạo thành tiếng có thanh ngang, ghép tiếng có thanh ngang với các dấu thanh tạo thành tiếng khác nhau. – Biết phân tích tiếng thanh ngang thành 2 phần : phần đầu và phần vần, phân tích tiếng có dấu thanh thành tiếng thanh ngang và dấu thanh (cơ chế tách đôi). – Đọc trơn, rõ ràng đoạn văn có độ dài 20 tiếng. Tốc độ đọc tối thiểu là 10 tiếng / phút. – Nghe viết chính tả được tất cả các tiếng có vần chỉ có âm chính. Viết đúng kiểu chữ thường c nh . Tốc độ tối thiểu là 3 phút/ một tiếng. – Nắm chắc cấu tạo của tiếng gồm 3 bộ phận cấu thành: Thanh, âm đầu, vần (vần chỉ có âm chính). – Nắm chắc luật chính tả e,ê,i. 2. Quy trình dạy phần âm: Bài âm gồm hai công đoạn: a) Công đoạn 1: Lập mẫu ( Mẫu /ba/ – Phân biệt nguyên âm, phụ âm) Mục đích, yêu cầu : Làm theo đúng Quy trình 4 việc , thực thi chuẩn xác từng thao tác, làm ra sản phẩn chuẩn xác, xứng đáng là mẫu chuẩn mực cho tất cả các tiết học của bài.

b) Công đoạn 2: Dùng mẫu( Áp dụng cho tất cả các bài còn lại của phần âm) ( Quy trình giống quy trình tiết lập mẫu) . Tuy nhiên cần chú ý : + Mục đích của tiết dùng mẫu là: – Vận dụng quy trình từ tiết lập mẫu. – Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết lập mẫu. +Yêu cầu giáo viên trong tiết dùng mẫu: – Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu. – Chủ động linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao chu phù hợp với học sinh lớp mình. * Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững đƣợc âm trong tiếng việt 1, trƣớc hết giáo viên cần nắm đƣợc: Giúp học sinh nắm vững được từng âm, giáo viên cần chú ý 2 vấn đề then chốt: Yêu cầu đối với học sinh là thuộc bảng chữ cái một cách thành thạo.

Nắm được kĩ năng về các âm trong tiếng việt 1, biết phân biệt nguyên âm và phụ âm, biết cách lập mẫu và dùng mẫu, phân tích âm, tiếng, đọc được theo các mức độ to – nhỏ – nhẩm – thầm theo lệnh và ký hiệu của giáo viên. Biết phân biệt đâu là âm đệm, âm chính và đâu là âm cuối, học về luật chính tả biết phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đôi. Tình trạng các em đọc vẹt nhiều, muốn khắc phục những hạn chế này. Vụ Giáo dục Tiểu học hướng dẫn như sau: giáo viên nên tận dụng đồ dùng dạy học của chương trình hiện hành, làm thêm đồ dùng dạy học và chủ động sắp xếp thời gian rèn luyện kỹ năng nói, đọc cho học sinh. Để giải quyết được hai vấn đề nêu trên, giáo viên phải nắm vững vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu dạy âm….. trong môn tiếng việt 1. Giáo viên phải hiểu rõ khả năng nhận thức cũng như các đặc điểm của quá trình nhận thức của trẻ em. Bởi vì khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng giai đoạn có quy luật riêng, người giáo viên tiểu học cần phải hiểu trẻ em với đầy đủ nghĩa của nó, mới có thể tiến hành dạy phần âm đạt hiệu quả được.

** Dựa vào thực trạng của giáo viên và học sinh để đƣa ra giải pháp phù hợp với đặc trƣng môn TV1- CNGD đƣợc thể hiện qua 2 tiết dạy với 4 việc. Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm. 1a. T giới thiệu âm mới . 1b. Phân tích tiếng . 1c. Vẽ mô hình . Việc 2: Viết chữ ghi âm 2a. Giới thiệu chữ in thường. 2b. Giới thiệu chữ viết thường. 2c. Viết tiếng có âm mới học 2d. Hướng dẫn H viết vở “Em tập viết – CNGD lớp 1” . Việc 3: Đọc. 3a. Đọc chữ trên bảng lớp. 3b. Đọc sách “Tiếng Việt – CNGD lớp 1” Việc 4: Viết chính tả. 4a. Viết bảng con.

4b. Viết vở chính tả. *** Giải pháp: Tác phong lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên cần phải chuẩn mực, thân thiện. Quy trình 4 việc cần phải thực hiện theo trình tự. + Câu lệnh của giáo viên cần phải dứt khoát, rõ ràng. Học sinh thực hiện theo đúng yêu cầu của giáo viên hoạt động giữa GV- HS cần diễn ra nhịp nhàng. + Các hoạt động của lớp cần phải thực hiện theo “ký hiệu” trên bảng hoặc ký hiệu bằng tay của giáo viên. Giáo viên không phải nói nhiều mà phải ưu tiên các hoạt động cho học sinh. + Giáo viên cần phải thuộc các việc cơ bản ở mỗi bài. + Cần phải nhẹ nhàng, thân thiện và linh hoạt trong tổ chức các hoạt động ở từng việc. + Quan tâm tới các em học sinh có nhận thức chậm trong lớp. + Tiết học buổi 2 giáo viên cần phải xác định được nội dung cần ôn tập chú ý về các kỹ năng cần củng cố phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm giúp các em nắm được bài tốt hơn.

+ Dạy đâu chắc đó, học sinh phải nắm được bài, không để học sinh ngoài lề lớp học. Cần dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, phân hóa đối tượng học sinh, cần đạt chuẩn ở mức độ thấp nhất như: học sinh tiếp thu bài kém…. Dạy học không cần viết tên bài trước, lập xong mô hình mới viết ở bảng, cần phải tuân thủ dạy theo sách thiết kế, có thể linh hoạt lồng ghép. Khen học sinh nhiều, không nên chê bai, nhắc nhở cho học sinh tiến bộ. Khi dạy không nên trở về cái cũ, mỗi ngày chỉ thay đổi một thành phần, khi giao việc giáo viên phải đứng trước lớp – học sinh làm việc giáo viên xuống lớp kiểm tra khen học sinh. Dạy lớp 1 dạy tiếng không dạy từ, không nên đưa những gì có sẵn cho học sinh khi đến lớp. Ở sách giáo khoa không nên gọi là kênh hình, kênh chữ. Chương trình này không yêu cầu chấm điểm, mà chỉ nhận xét đánh giá học sinh, động viên, khen thưởng học sinh.

2. Phân loại đối tƣợng học sinh: Chuẩn bị nghiên cứu kỹ phần kế hoạch dạy học là việc làm không thể thiếu đối với bất cứ giáo viên nào khi đứng lớp, tuy nhiên giáo viên cần phải nghiên cứu, nắm vững mục tiêu bài dạy, bám sát vào Phân phối chương trình, lịch báo giảng. Đặt ra các hoạt động hợp lí thể hiện rõ hoạt động của giáo viên – học sinh, có hoạt động cho đối tượng học sinh nắm bài tốt và học sinh chưa nắm được bài. Phân loại đối tượng học sinh theo nhóm và đặt tên nhóm khi tổ chức trò chơi. Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh trong lớp hợp lí. Quan tâm khích lệ học sinh thường xuyên, tạo cơ hội để học sinh được chủ động tích cực thông qua giờ học và thực hành. 3. Giúp học sinh học tốt về âm. Có thể nói môn Tiếng Việt 1 CNGD là một môn học mới giúp học sinh nắm bắt được ngữ âm trong Tiếng Việt, trong phần âm là công cụ hỗ trợ đắc lực và không thể thiếu chiếm tỉ lệ trọng yếu khi học môn Tiếng Việt. Vậy học sinh cần phải thuộc tất cả các chữ cái bảng chữ cái, thì các em mới ghép và đọc được âm, vần, tiếng, từ câu, ngoài ra tạo cơ hội cho học sinh có khẳ năng tư duy sáng tạo trong các tiết