Học Nói Tiếng Việt Nên Học Người Miền Bắc Hay Người Miền Nam?

--- Bài mới hơn ---

  • Học Giỏi Văn, Tiếng Việt
  • Dạy Bé Học Tiếng Việt Thông Qua Hoạt Động Tô Màu Và Điền Từ
  • Tại Sao Cần Học Tiếng Việt?
  • Tầm Quan Trọng Của Môn Tiếng Việt Ở Bậc Tiểu Học
  • Cách Học Tiếng Việt Nhanh Và Dễ Dàng
  • Đánh giá

    Điều đầu tiên giúp người nước ngoài hòa nhập nhanh chóng với cuộc sống ở một nước đang phát triển như Việt Nam đó là học nói tiếng Việt. Học nói tiếng Việt giúp người nước ngoài có thể giao lưu nói chuyện cùng bất cứ người Việt nào đồng thời qua đó họ có thể hiểu thêm về văn hóa Việt Nam. Nước ta có ba miền Bắc, Trung, Nam với mỗi miền là mỗi đặc trưng văn hóa và giọng nói khác nhau. Vậy học nói tiếng Việt nên học người miền Bắc hay người miền Nam?

    Việt Nam ngày càng trở nên nổi tiếng như một điểm đến của người nước ngoài trong những năm gần đây và hiện nay đã được công nhận là một trong những nơi có điều kiện tốt cho người nước ngoài sống và làm việc…

    Âm, từ vựng và ngữ pháp

    Tiếng Việt hiện đại có khoảng 200 vần, tiếng là một âm thanh được ghi lại gọi là chữ, gồm năm yếu tố: Phụ âm đầu, Âm đệm, Âm chính, Âm cuối, và thanh điệu. Vần hay còn gọi âm vần nên không có phụ âm đầu và có thể vắng mặt nhiều yếu tố trên, nhưng âm chính và thanh điệu luôn luôn phải có.

    Để học nói tiếng Việt, trước tiên người nước ngoài cần nắm chắc được bảng chữ cái tiếng Việt, vốn từ cơ bản và ngữ pháp cơ bản trong tiếng Việt. Điều này, bất cứ một giáo viên người miền Bắc, Trung hay Nam đều có thể cung cấp kiến thức tốt cho bạn.

    Phát âm

    Trước hết, học viên cần nắm được rằng tiếng Việt được cấu tạo từ các đơn âm nên việc học phát âm sẽ theo trình tự từ phát âm âm tiết đến chuỗi âm tiết, từ chuỗi âm tiết đến phát âm câu.

    Điều quan trọng khi học phát âm mỗi âm tiết là học viên cần nắm được tiêu chí phát âm và cấu hình miệng khi phát âm âm đó. Ví dụ: phát âm ngắn gọn hay kéo dài, chuyển động của lưìi từ khi bắt đầu đến khi kết thúc âm ra sao, bật hơi hay không bật hơi,…

    Người nước ngoài học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai thường bị áp lực từ tiếng mẹ đẻ. Do đó thường không nhận ra những nét khác biệt và thường qui âm nhận được thành âm tương tự có sẵn trong tiếng mẹ đẻ.

    Đối với trường hợp này, cần thiết phải có giáo viên hướng dẫn để người học có thể phân biệt và sửa lỗi ngay lập tức. Việc phát âm đòi hỏi phải có sự luyện tập chăm chỉ trong thời gian dài để có thể phát âm tiếng Việt chuẩn.

    Đối với vấn đề phát âm, bạn không cần phải băn khoăn với câu hỏi “Học nói tiếng Việt nên học người miền Bắc hay người miền Nam?” Bởi lẽ, quan trọng nhất của phát âm đó là nắm chắc kiến thức và luyện tập lâu dài.

    Thanh điệu

    Thanh điệu là sức mạnh, là đặc trưng trong tiếng Việt và cũng là khó khăn lớn nhất đối với người nước ngoài khi học tiếng Việt.

    Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có nhiều thanh điệu nhất thế giới (6 thanh điệu) gồm: thanh ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng. Khi phát âm sai thanh điệu sẽ đưa đến những nghĩa khác nhau như bàn, bán, bản, bạn…

    Đối với cách nhận biết thanh điệu phải vẽ sơ đồ để học sinh hình dung với dấu sắc giọng như thế nào, dấu huyền giọng như thế nào, giọng cao hay thấp, dài hay ngắn, thẳng hay gẫy… Đây là chìa khóa để phát âm tiếng Việt tốt và nói tiếng Việt như người Việt.

    Giáo viên nên nói chậm và dùng tay ra dấu lên, xuống, ngang và thường xuyên rèn luyện cho học sinh trong suốt quá trình học để học sinh ghi nhớ và cố gắng nói dấu chính xác. Việc luyện tập này cần kết hợp với luyện viết .

    Ví dụ điền thanh điệu vào các từ trong đoạn văn hoặc đọc cho học sinh viết những câu, đoạn đơn giản để học sinh viết đúng. Khi đó học viên nhớ đúng dấu, nghĩa là họ sẽ có ý thức nói đúng thanh điệu đó.

    Thường thì người miền Bắc sẽ phát âm chuẩn thanh điệu và dễ phân biệt nhất tuy nhiên đó là đặc trưng giọng nói sẵn có của từng vùng miền. Về mặt khách quan, tiêu chuẩn đặt ra cho một giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài luôn cần có phát ẩm chuẩn và đúng ngữ điệu.

    Tin rằng, qua một số thông tin về phương pháp học tiếng Việt nêu trên, các bạn đã có được câu trả lời cho bản thân về vấn đề “Học nói tiếng Việt nên học người miền Bắc hay người miền Nam?”

    Bùi Hà Quí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Học Tiếng Việt Dành Cho Người Trung Quốc Ebook Pdf
  • Dạy Bé Học Các Con Vật Bằng Tiếng Việt Theo Phương Pháp Glenn Doman
  • Top 10 Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Trung Uy Tín Nhất Tp Hcm
  • Top 10 Ngôn Ngữ Dễ Học Nhất Thế Giới Với Người Việt
  • Tiếng Việt / Tiếng Na Uy
  • Tìm Từ Địa Phương Miền Trung, Miền Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mưa Lũ Gây Nhiều Thiệt Hại Tại Các Địa Phương Miền Trung
  • Cách Học Tiếng Nhật Cho Người Mới Bắt Đầu Tốt Nhất
  • Học Tiếng Trung Qua Bài Hát “học Mèo Kêu” Lời Việt
  • Ngôi Trường Có Gần 90% Học Sinh Tốt Nghiệp Thpt Ở Sơn La
  • Mường Động Kim Bôi, Hướng Phát Triển Toàn Diện, Bền Vững
    • Tìm các từ ngữ có cùng nghĩa nhưng được sử dụng ở các vùng , miền khác nhau :

      Ví dụ :

      Miền Bắc

      Miền Nam

      bố

      ba

      củ sắn

      củ mì

      đá bóng

      đá banh

      Càng nhiều càng tốt nha

    • Tìm các từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội và diễn đạt lại = các từ toàn dân tương ứng

      a) Con ra tiền tuyến xa sôi

      Yêu bầm yêu nước cả đôi mẹ hiền

      b) Chuối đầu vườn đã lổ

      Cam đầu ngõ đã vàng

      Em nhớ ruộng nhớ vườn

      Không nhớ anh răng được

      c) Nó cây con xe đến giã hời

      d) Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà

    • Bài tập 3. Sưu tầm một sô thơ ca có sử dụng từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt, thân thích ở Hưng Yên.

    • Liệt kê từ ngữ xưng hô ở địa phương em hoặc địa phương khác cũng thuộc tỉnh Hưng Yên mà em biết theo mẫu sau:

      Ngôi thứ nhất

      Ngôi thứ hai

      Ngôi thứ ba

      Help me!!! Mk cần gấp lắm!!!

    • Tìm các từ ngữ địa phương về cây cối,con vật,hoa quả,đồ vật ( mỗi loại 20 từ , thiếu cũng k sao nhưng thiếu ít thôi nha )

      từ ngữ địa phương

      Từ ngữ toàn dân

      Con vật

      Cây cối

      Đồ vật

      Hoa quả

    • 2.Tìm hiểu biệt ngữ xã hội

      A) trong đoạn văn sau, vì sao có chỗ tác giả dùng từ mẹ, có chỗ lại dùm mợ:

      Nhưng đời nào tình yêu thương và lòng kính mến mẹ tôi lại…….. Cháu cũng về

      B) Trước cách mạng tháng Tám 1945, trong tầng lớp xã hội nào ở nước ta, mẹ được gọi bằng mợ, cha được gọi bằng cậu?

    • Tìm các từ ngữ địa phương miền trung, bắc, nam theo có các yếu tố sau:

      + Từ địa phương(từ loại, vùng miền hoặc địa phương sử dụng)

      + Từ toàn dân (nếu có)

      + Những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ, hò, vè có sử dung từ ngữ đó vs độ dài phù hợp(nếu có)

      VD: Bông(danh từ, miền nam): hoa (Muốn ăn bông súng mắm kho

      Thì vô Đồng Táp ăn no đã thèm)

    • Hướng dẫn soạn bai từ ngữ địa phương và biệt ngữ xa hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Trở Lại Trường: Nhiều Địa Phương Cho Học Sinh Đi Học Từ Đầu Tháng 5
  • Thời Gian Đi Du Học Nhật Bản Và Thời Gian Học Ở Nhật Bao Lâu
  • Học Sinh Tiểu Học Đi Quyên Góp Từng Đồng Cứu Trợ Miền Trung
  • Gặp Gỡ Cô Gái Miền Trung 28 Tuổi, Tân Sinh Viên Đại Học Quốc Gia Seoul
  • Lý Do Chính Khiến Người Miền Trung Khó Đi Du Học Hàn Quốc Được Korea.net.vn
  • Tiếng Việt Gốc Khmer Trong Ngôn Ngữ Của Miền Tây Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Tùng Hiếu. Tiếng Việt Nam Bộ: Lịch Sử Hình Thành Và Các Đặc Trưng Ngữ Âm
  • Lai Rai Cùng Phương Ngữ Nam Bộ
  • Giáo Án Địa Lý 4 Bài 19: Hoạt Động Sản Xuất Của Người Dân Ở Đồng Bằng Nam Bộ
  • Bộ Phận Cơ Thể Người Trong Tiếng Trung
  • Học Nhanh 214 Bộ Thủ Chữ Hán Qua Thơ (P1) 32 Bộ
  • Khu vực miền Tây Nam Bộ có rất nhiều người sử dụng tiếng Khmer vì vậy tiếng Khmer đã được Việt hóa. Mời các bạn tham khảo bài viết, được sưu tập bởi giáo viên tiếng Khmer của trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina.

    Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ bình dân ở miền Tây Nam Bộ – Nhìn từ góc độ ca dao:

    1. Những tiếng Khmer còn giữ nguyên gốc trong tiếng Việt.

    Sim lo (hay sum lo) là món canh của người Khmer nấu bằng bầu, hay lá bình bát dây, đặc biệt nó được nêm bằng mắm bò hóc (prahok), đây là từ người Việt mượn nguyên mẫu để sử dụng.

    Vai mang cái nóp tay xách cái lọp cái lờ

    Cái lộp theo tiếng Khmer là dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lộp có hom bện bằng tre vót cỡ chiếc đũa ăn, hình phễu, cá tôm, rùa rắn vào được nhưng không thể ra. Nông dân miệt này ai cũng biết, cũng dùng lộp để bắt thuỷ sản.

    2. Những từ Khmer được Việt hoá.

    Từ tiếng Khmer nhưng khi đi vào tiếng Việt, người Việt, người Hoa có cách phiên âm của riêng mình. Dần dần nó bị chuyển cả về hình thức ngữ âm, lớp từ này khá phổ biến trong ngôn ngữ bình dân vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Có điều người ta nói, người ta viết nhưng ít khi chú ý nguồn gốc của nó có từ đâu.

    Cà Mau khỉ khọt trên bưng

    Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là Tuk Khmau, nghĩa là nước đen mà thành. Nguyên cớ là vùng rừng U Minh gồm Cán Gáo, Tân Bằng, Trèm Trẹm, Cái Tàu và phía bên hữu ngạn sông Ông Đốc, nước ngập quanh năm, nước tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn nên nước màu vàng đậm như nước trà, nhiều khi đen, có mùi hôi và vị phèn chua, mặn.

    Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng,

    Theo Lê Hương thì Sóc Trăng là do tiếng Khmer đọc trại ra từ chữ Srok Tréang có nghĩa là bãi sậy vì ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều lau sậy hoang vu. Ông còn nêu truyền thuyết khác, theo đó thì đất này (tại ấp Sóc Vồ ngày nay) vào thời Nguyễn, giặc Xà Na Téa và Xà Na Tua dùng làm kho chứa bạc, kho chứa vũ khí, kho chứa lương thực chống lại triều đình. Do đó Sóc Trăng là do chữ Srok Kh’leang đọc trại mà ra.

    Vương Hồng Sển lại cho rằng: Theo quyển Petit Cours de Géographie de la Basse Cochinchine par Trương Vĩnh Ký thì Sốc Trăng (Sóc Trăng) là tên dân gian của Nguyệt Giang tỉnh (tỉnh Sông Trăng). Tên này có nguồn gốc Khmer là Péam prêk sròk khlẵn (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac).

    Péam là vàm, prêk là sông, sròk là sốc, khlẵn (kh’leang) là kho bạc. Nguyên đời vua Cơ Me (Khmer) có đặt một kho chứa bạc nơi đây. Đến đời vua Minh Mạng, đổi tên chữ ra Nguyệt Giang tỉnh vì triều đình đã ép chữ sốc biến ra chữ sông, chữ kh’leang ra trăng và đổi thành nguyệt. Nhà học giả này còn khẳng định Sóc phải viết có dấu ô, tức Sốc mới đúng!

    Bến Tre nhiều gái má hồng

    Theo cụ Vương Hồng Sển thì Bến Tre vốn là xứ sinh sản và sản xuất nhiều cá tôm, cho nên xưa, người Khmer gọi là Srok treay (đọc là sốc tre), nhưng sau này người Khmer gọi theo người Kinh là bến có nhiều tre để phân biệt với địa danh Cần Thơ, cũng có nhiều tre, người Khmer gọi tre là rusei, nên có hai địa danh rành rẽ: prêk rusei (sông tre): chỉ Cần Thơ/prêk kompong rusei để chỉ Bến Tre.

    Hội nghiên cứu cổ học Đông Dương, năm 1903 ấn hành quyển khảo cứu đặc biệt (monographia) về tỉnh Bến Tre trong đó có đoạn (lược dịch): Bến Tre xưa, người Khmer gọi là sốc tre, vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Cụ Sển cho biết thêm “theo tôi (tức Vương Hồng Sển) đây là dịch sai hai chữ Bến Tre. Tre đây là treay của Khmer, phải dịch là cá (…). Lẽ đáng gọi Bến Tre là Ngư Tân, hoặc Bến Cá: srok kompong treay”.

    Mỹ Lồng là địa danh nổi tiếng với nghề làm bánh tráng ở đây (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc). Mỹ Lồng có nguồn gốc từ chữ Srok Mi Lôn = xứ, xóm của nàng tên Lôn.

    Anh về xứ Chắc Cà Đao

    Chắc Cà Đao: Tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả Vương Hồng Sển, ghi lại hai giải thích là:

    Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khmer chắp kdam (bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua. Theo nhà văn Sơn Nam, Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây.

    Và ông nghĩ rằng giả thuyết của Nguyễn Văn Đính hợp lý hơn.

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Người Khmer thời trước gọi vùng đất Mỹ Tho là srock mé sa, mi so (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac). Nghĩa là xứ (srock) có nàng con gái (mé) có nước da trắng (sa, so). Khi sang Việt ngữ, dân gian gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ srock,chỉ còn giữ lại mi so và biến âm sang mà thôi.

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng Phong Điền

    Vương Hồng Sển khẳng định chắc chắn rằng Cái Răng là vùng kênh rạch ngày trước có nhiều ghe của người Khmer chở cà ràn đi bán. Cà ràn là lò bằng đất nung, có hai phần, phía trước rộng là chỗ chứa củi đang chụm, vừa là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre), và phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ.

    Cà ràn thông dụng trong vùng Tân Châu, Châu Đốc, ở nhà sàn, đáy của cà ràng giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn. Tương tự, cà ràng cũng rất được dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động ưa dùng vì tiện lợi. Chính từ cà ràn được các bản đồ thời Pháp phiên âm thanh caran và biến âm dần thành Cái Răng như ngày nay.

    Vàm có nguồn gốc từ tiếng Khmer: péam = cửa sông, nơi một con sông nhỏ (rạch) chảy vào con sông lớn. Ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ có nhiều sông rạch, do đó có rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ vàm như Vàm Cống (thuộc Gò Công), Vàm Nước Trong (Kiến Hòa), Vàm Sông Thượng (Cần Thơ), Vàm Nao (An Giang), Vàm Tấn ở Sóc Trăng.

    Anh qua Vàm Tấn anh đến Cù Lao

    Trương Vĩnh Ký có nói chữ péam trong tiếng Khmer có nghĩa là vàm thì theo ông Vương Hồng Sển, dẫn theo La Cochichine et ses habitants của Baurac, trang 362 thuật lại rằng trào đàng cựu, cho đến lối 1858, vàm Đại Ngãi còn được gọi là Vàm Tấn (péam senn), là một bến nước quan trọng tiếp đủ các thuyền đi biển đủ hạng từ trung Quốc, Tân Gia Ba, Xiêm La, Cam Bốt tụ tập rất náo nhiệt để trao đổi, mua chác lúa gạo, tơ lụa, hàng vải, cá mắm, mắm muối, đồ gốm, chén bát, sừng trâu, ngà voi, lông chim, sáp, mật ong. Đại Ngãi là từ Hán Việt của địa danh này.

    Nước Ba Thắc chảy cắt như dao

    Theo di cảo của Trương Vĩnh Ký, Ba Thắc là Păm pk Bàsàk. Đây là tên gọi tiếng Khmer của một vị thần hay còn gọi là nặc tà, ông tà của người Khmer, có miếu thờ ở Bãi Xàu cũ. Đại danh Ba Thắc bên Campuchia cũng có.

    Tương truyền ông Ba Thắc là một vị hoàng tử người Lào đến sống vùng đất trên đường đi Tham Đôn, Mỹ Xuyên ngày nay. Khi ông chết người dân quanh vùng lập miếu thờ. Lúc đầu miếu được cất theo kiến trúc Khmer bằng cây nhưng về sau, năm 1927, ông Lê Văn Quạnh và một số thân hào trong vùng đã cất lại miếu theo kiến trúc Trung Hoa dạng bán cổ bán kim và đề là Ba Thắc Cổ miếu. Di tích này đến nay vẫn còn.

    Vĩnh Long ( đất này người cố cựu còn gọi là đất Vãng gần với Vũng. Từ địa danh Vũng Luông – Kompong Luông; biến dần ra Vũng Luông, rồi Vãng Luông. Tên Vĩnh Long có từ năm 1832 khi vua Minh Mạng đổi ra Hán tự).

    Đồng Tháp Mười (tiếng Khmer là Thnor Mo Roy nghĩa là đường lộ (thnor), số 100 (mo roy), Đồng Tháp Mười còn có tên khác nữa là Présah Préam Loveng); tiếng Việt gọi Đồng Tháp Mười tức chỉ vùng đồng có cái tháp mười tầng, hiện tháp đã không còn, chỉ còn lại vết tích của nền đất và trong ký ức của những lão nông tri điền.

    Châu Đốc (người Khmer gọi là srôk (xóm, xứ) méât (miệng mồm) cruk (heo): xứ miệng heo); Kế Sách, một huyện của Sóc Trăng, nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer: k’sach.

    Sa Đéc, thị xã của tỉnh Đồng Tháp xuất phát từ Phsar Dek, phsar là chợ, dek là sắt); Trà Vang hoặc Trà Vinh xuất phát từ âm Khmer: Préah trapéang, và gắn liền với sự tích: không biết có từ bao giờ, năm đó, trong một trận nước lụt dân làng thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước về một gò cao, cạnh đó xây chùa thờ phượng.

    Chùa được đặt tên Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, tên vị sư cả đầu tiên. Trapéang được Việt hóa thành âm Trà Bang, rồi Trà Vang, sau bị nói trại thành Trà Vinh. Ở vùng Ngã Năm (Sóc Trăng) đi Long Mỹ (Hậu Giang) cũng có địa Trà Ban (trapéang: ao vũng) cùng nét nghĩa và nguồn gốc vừa phân tích.

    Những danh từ chỉ động, thực vật, đồ vật.

    Ngoài những địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer đã được Việt hoá còn có những từ gốc Khmer khác chỉ các loài động, thực vật hay đồ vật cũng đi vào ngôn ngữ tiếngViệt và tham gia bình đẳng trong các hoạt động giao tiếp thường nhật.

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Cá chốt, tiếng Khmer là trey kanchos, khi đi vào ngôn ngữ phổ thông nó đã được Việt hóa thành chốt.

    Trời mưa mát đất, con cá lóc nó thoát khỏi nò

    Tiếng Khmer có trêy rot chỉ một loại cá nước ngọt, cá này có rất nhiều ở vùng đồng bằng Cửu Long. Ở Bắc, Trung Bộ gọi là cá chuối, cá quả, cá tràu.

    Bầu dùng chỉ một loại ghe lớn. Tiếng Khmer có xòm pầu tức ghe bầu; nói chi xòm pầu nghĩa là đi ghe bầu. Ca dao có câu:

    Con quạ nó đứng đầu cầu

    Một loại ghe khác là ghe chài, danh từ ấy cũng được kết hợp hết sức độc đáo:

    Chú tôi trồng mía trồng khoai

    Thím ghe chài là hình ảnh hoán dụ chỉ người đàn bà đi trên ghe. Ghe chài là loại ghe có trọng tải lớn. Khmer có từ tuk pokchay. Tuk là tiếng Khmer nghĩa là ghe; còn pokchay nghĩa là chở đủ thứ, đó là tiếng Triều Châu đã được Khmer dùng như là tiếng Khmer.

    Người Việt dịch chữ tuk ra chữ ghe, nhưng lại mượn chữ pokchay đọc thành chài. Theo Bình Nguyên Lộc người Khmer còn gọi ghe chài là thwe.

    Trắng da vì bởi má cưng

    Bưng được Việt hóa từ chữ trapéang: vũng, ao; lúc đọc là trà bang, trà vang, sau rút lại còn bang rồi biến âm thành bưng. Bưng lại kết hợp với từ Hán Việt biên (bờ phía ngoài) rồi đọc thành bưng biền.

    Những từ ngữ không xác định được nguồn gốc.

    Đây là những từ vừa đồng âm vừa đồng nghĩa với tiếng Việt. Chúng tôi tra cứu nhiều tài liệu và đồng thuận với nhiều ý kiến cho rằng khó bề xác định những từ này có gốc từ tiếng Khmer được tiếng Việt vay mượn hay ngược lại nó có nguồn gốc từ tiếng Việt, được đồng bào Khmer vay mượn. Xin nêu một số ví dụ tiêu biểu sau đây:

    Chuối non vú ép chát ngầm

    Ép là đẩy dính sát vào nhau, làm áp lực, người Kinh dùng từ ấy, trong khi người Khmer có tiếng ép, bòng-ep, cùng nghĩa.

    Canh chua điên điển cá linh

    Cá linh (không rõ Khmer – Việt hay Việt – Khmer, bởi trong ngôn ngữ Khmer cũng có từ linh: chỉ loài cá!).

    Xuống lên lên xuống đã quen

    Trong ngôn ngữ Khmer có tòn tenh oi cham, tức lặp đi lặp lại nhiều lần cho dễ nhớ, chuyển sang chữ tòn ten của Việt ngữ có nghĩa là lủng lẳng. Không biết ngôn ngữ nào vay mượn của ngôn ngữ nào?

    Bình Đông là xứ quê mùa

    Tiếng Khmer kêu cà na là kana. Cà na là loại cây có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng. Cà na trong tiếng Việt còn được gọi là tráp (Bắc Bộ). Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng Nam Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt?

    Thầy anh lên xuống xuống lên

    Hên: may mắn. Khmer có hêng, vừa đồng âm vừa đồng nghĩa. Như vậy hên chắc chắn là từ ngữ của miền Nam, có phải gốc Khmer hay không thì chưa chắc chắn.

    Ngó lên con ác lăng xăng

    Người Việt nói ém: dấu mất, Khmer cũng nói ém cùng nghĩa. Chúng ta hãy xem câu ca mang chức năng hài hước sau đây:

    Anh như du kích ém quân

    Kết luận:

    Một là, ngoài hệ thống từ Hán Việt, các từ vay mượn từ tiếng Anh, tiếng Pháp thì tiếng Khmer là một bộ phận có mặt và tồn tại trong ngôn ngữ tiếng Việt. Có số ít vẫn được dùng được dạng thức phiên âm, số khác được chuyển sang ngữ âm Việt ngữ.

    Chúng có nguồn gốc từ Khmer, nhưng chúng ta dùng quá lâu đời nên đã hoàn toàn Việt hóa, chúng ta không hề nghĩ đến đó là những chữ ấy có nguồn gốc từ đâu. Nhiều hơn cả là lớp từ vựng mà cả tiếng Việt lẫn tiếng Khmer đều tồn tại, vấn đề ai mượn của ai tức nguồn gốc chính xác của nguyên ngữ là vấn đề được đặt ra những không dễ giải quyết thấu đáo. Hy vọng sẽ đi sâu hơn đề tài này vào một dịp khác.

    Hai là, qua ngôn ngữ, cụ thể hơn là ngôn ngữ ấy ẩn chứa trong những câu ca lời hát của bình dân miền quê Tây Nam Bộ chúng ta có thể nhận định sự giao lưu văn hóa, ngôn ngữ diễn ra một cách tự nhiên của hai chủng tộc sống gần nhau, và là một điểm đặc thù của nền văn hóa các tộc người trên thế giới.

    Hy vọng sự sưu tập này sẽ giúp các bạn học viên đang theo học tại trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina có thêm tài liệu để tham khảo. Các bạn vui lòng liên hệ:

    Nguồn: https://saigonvina.edu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tốc Độ Tăng Số Người Học Tiếng Nhật Của Việt Nam Đứng Đầu Thế Giới
  • Phu Nhân Ngoại Trưởng Nhật Bản Trò Chuyện Với Học Sinh Trường Chu Văn An
  • Phu Nhân Bộ Trưởng Ngoại Giao Nhật Bản Thăm Trường Tiểu Học Chu Văn An (Hà Nội)
  • Có Nên Học Tiếng Anh Bằng Cách
  • Người Mẹ Nghệ An Lên Hà Nội Bán Hoa Quả Để Con Được Nói Tiếng Anh Với Tây
  • Sách Cũ Miền Nam Trước 1975

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bài Học Làm Người Không Thể Nào Quên Trong Sách Giáo Khoa Miền Nam Trước 1975
  • Học Tiếng Pháp Đà Nẵng ❤️️các Trung Tâm Tiếng Pháp Uy Tín
  • Bảng Chữ Cái Trong Tiếng Pháp
  • Phương Pháp “60 Phút Học Tiếng Pháp Mỗi Ngày”
  • 15 Kênh Youtube Học Tiếng Đức Hay Nhất Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  •  

     

    Người ta nhắm đánh vào người, nhắm thái độ lập trường chính trị

    để đánh giá tác phẩm của tác giả. Vì nhắm tác giả nên có nhiều

    nhà văn tự nhiên được sót tên một cách cố ý. Đó là những nhà văn

    một mặt nào đó có thể không chịu xếp hàng trong xã hội miền Nam

    cho dù thực sự họ cũng xếp hàng như mọi người. Có nghĩa là xét

    về mặt tác phẩm thì những nhà văn này cũng chẳng khác gì các nhà

    văn vừa kể ở trên. Có gì phân biệt được về phong cách viết giữa

    Bình Nguyên Lộc với Lê Xuyên hay với Võ Phiến. Nhưng Bình Nguyên

    Lộc được tha. Giữa Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh Trung mà đôi khi

    ta tưởng hai người có cùng một lập trường, cùng một quan điểm và

    cùng một đường lối. Nhưng sách vở thì lại bị phân biệt đối xử

    khác nhau. 

    Trong số những người sót tên trong sổ đen phải kể đến Bình

    Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Lý Chánh Trung, Lữ Phương, Nguyễn

    Trọng Văn, Thích Nhất Hạnh. 

     

    Sự đánh phá và truy chụp đó nói cho cùng là một sự muốn xoá

    trắng Văn học miền Nam. Xin trích dẫn vài tư liệu làm bằng cớ

    trong sách Văn Học VN dưới chế độ Cộng Sản của Nguyễn Hưng Quốc,

    trang 200 :* Theo Phan Cư Đệ và Hà Minh Đức, trong Nhà Văn VN,

    từ 1954-1975 có 286 bài viết nhằm vu khống, xuyên tạc văn học

    miền Nam. Chỉ thị của Lê Duẩn sau giải phóng, kỳ họp Quốc Hội

    khoá 5 : Sau ngày giải phóng nhân dân ta đã làm rất nhiều việc

    nhằm quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hoá ấy. Công

    việc này cần được tiếp tục một cách kiên trì, tích cực và triệt

    để.* 

    Về những bài viết, xin kể vài bài : Tiếp tục đấu tranh xóa bỏ

    tàn dư văn hoá mới. Nọc độc văn hoá nô dịch. Những tên biệt kích

    cầm bút. Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam

    những năm 1954-75. 

    Tên những người viết đó là : Trần Trọng Đăng Đàn, Lê Đình Ky,

    Trần Văn Giàu, Nguyễn Huy Khánh, Thạch Phương, Phan Đắc Lập, Bùi

    Công Hùng và cả Lữ Phương. 

    Miền Nam có thể thua cuộc. Nhưng cái văn học đó không có lý do

    gì bị xoá trắng oan uổng như thế. Bởi vì trong 20 năm sinh hoạt

    văn học đó, nó xác định cho thấy chỗ đứng của nó với sắc thái và

    cá tính của một nền Văn học đích thực. Một nền văn học mà sản

    phẩm của nó là kết quả của tự do suy nghĩ, tự do sáng tác. Đấy

    là cái ưu vượt của sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam mà

    trong suốt mấy chục năm chia cắt và cả sau mấy chục năm thống

    nhất đất nước rồi, người ta vẫn chưa thực hiện nổi một điều đơn

    giản đó. 

     

    Đặc biệt các giáo sư Triết, dù bị phê phán vì rao truyền chủ

    nghĩa Hiện Sinh, nhưng sách vở của họ lại không bị cấm lưu hành

    toàn bộ như Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Lý

    Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung và các lớp giáo sư trẻ như Đặng

    Phùng Quân, Nguyễn Trọng Văn. Trừ một trường hợp đặc biệt, dù là

    giáo sư triết, nhưng viết văn nên cấm lưu hành toàn bộ như sách

    của Huỳnh Phan Anh và Nguyễn Xuân Hoàng. 

     

    Phần tôi nghĩ rằng, thời kỳ sau 1975, đó là thời kỳ Văn Học bất

    hạnh cho toàn miền Nam 

    Bất hạnh vì sách bị tịch thu, bị thiêu hủy. Bất hạnh vì hơn 200

    nhà văn, nghệ sĩ bị đưa đi cải tạo. Bất hạnh theo suốt cả đời họ.

    Vì kể từ đó, họ bị khước từ là nhà văn, bản án tù cứ thế kéo dài

    mãi mãi vì họ không bao giờ còn có cơ hội để viết. Và kể từ đó

    đến sau này, ta không còn bắt gặp lại mảnh đất miền Nam với

    những cây trái văn học nữa, cùng lắm có những cây trái đau khổ,

    đọa đầy và hủy diệt. 

    Và cái người bất hạnh nhất, tiêu biểu nhất có lẽ là nhà văn

    Nguyễn Thụy Long mà người ta quen gọi là nhà văn *Loan mắt nhung*.

    Sau 1975, ông lê kiếp số phận nhà văn như một con chó đói, một

    loài chuột chui nhúc để kiếm sống. 

    Hãy nghe ông kể :* Tôi về sống với mẹ già ở Ấp Đông Ba Gia Định

    sau ngày * giải phóng*, bên này Cầu Bông, sau khi bị phía nhà vợ

    thuộc gia đình Cách mạng đuổi ra khỏi nhà… Tôi ngậm đắng nuốt

    cay bước ra khỏi nhà sau khi bị vu bao nhiêu là thứ tội, kể cả

    tội ăn cắp tài sản của chính mình, suốt nhiều năm cầm bút tạo

    thành… Mất nhà, mất vợ chẳng nói làm gì, vì đã cạn tầu ráo

    máng rồi, nhưng mất con tôi mới đau.* Sau khi hồ Con Rùa trên

    đường Duy Tân bị nổ, ông cùng nhiều trí thức, văn nghệ sĩ bị bắt

    vì vụ này. Xin đọc tiếp :* Những câu chuyện vặt trong phòng giam

    bỗng im bặt, khi tiếng nói thật lớn thật to ở phòng giam tử tội

    cuối hành lang cất lên : Chào tất cả các anh em bạn tù, chúng

    tôi ba người mang án tử hình, sẽ bị xử bắn vào sáng sớm ngày mai,

    chúng tôi có lời chào vĩnh biệt tất cả các anh em còn ở lại. Tôi

    là Nguyễn Xuân Hùng, tự Ali Hùng, hai người bạn tôi, một là linh

    mục, một là chiến sĩ. Tôi là một người Việt Nam lai da đen, xứ

    Phi Châu Sénégalais, mẹ tôi là người Việt Nam, vậy tôi xin nhận

    nơi này làm quê hương, vì mẹ Việt Nam của tôi đã nuôi tôi khôn

    lớn và thành người. Trong phòng giam của tôi, vị linh mục đang

    quỳ dâng mình cho Chúa, người bạn chiến sĩ thì đang huấn nhục.

    Tôi có giọng khỏe, xin được hát thân tặng lại tất cả những anh

    em còn ở lại. Những bài hát thấm đượm tình quê hương của Phạm

    Duy mà tôi rất ngưỡng mộ..* 

     

    Chúng tôi đã mất Sàigòn thật rồi. 

    Sau này, theo bs Trần Ngọc Ninh viết lại trên tờ Khởi Hành,

    tháng 9-2005, ông từ chối không cho nhà xuất bản sửa dù một chữ

    những tác phẩm của ông :* Tôi còn gì để mất ngoài liêm sỉ, thà

    chết đói chứ tôi không sửa văn tôi viết trước kia được*. 

    Chính ông cũng kể lại về trường hợp có nhà xuất bản cho người

    đến đề nghị in lại cuốn Kinh nước đen với điều kiện nó phải được

    sửa chữa lại. Ông đã từ chối không chịu. Nay thì tờ Khởi Hành

    đang tiến hành giải văn chương năm nay dành cho ông. Thực tế

    trước mắt là ông sẽ nhận được một số tiền để sinh sống ra khỏi

    kiếp chó đọa đầy. 

     

     

    B.- Tình hình sách cũ hiện nay. 

    Về Sàigòn hôm nay, chỉ ở Sàigòn thôi mà không ở Hànội, tôi tìm

    lại xem trong đống tro tàn đó còn lại được gì. Không còn bao

    nhiêu. Tôi thấy họa hiếm mới còn sót lại một vài cuốn truyện. Và

    càng ngày, số lượng nó càng ít đi, vì mua vào mà không bán ra

    hoặc theo thời gian bị tiêu ma vì không có thư viện bảo quản.

    Chỉ còn lại một số rất ít mà trên lý thuyết vẫn là sách cấm lưu

    hành, bất hợp pháp, nhưng lại được bày bán công khai như thể hợp

    pháp. Hơn thế nữa, các loại *sách cũ* thuộc loại sách chưởng,

    kiếm hiệp, mặc dầu vẫn là sách cấm lưu hành lại được in lại,

    sách cũ trở thành *sách mới*, bày bán công khai và hợp pháp.

    Chẳng hạn những sách của Vũ Đức Sao Biển như Kim Dung giữa đời

    tôi gồm các quyển Kiều Phong, Khát vọng tự do, quyển thượng,

    Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân, quyển trung, Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo,

    quyển hạ và Thanh Kiếm và cây đàn, quyển kết thì đã được Nhà

    xuất bản Trẻ in ấn và phát hành đoàng hoàng. Gần như toàn bộ các

    loại sách kiếm hiệp được in lại. Sách của nhóm TLVĐ cũng vậy.

    Sách Triết cũng được in lại rất nhiều với các tác giả Trần Thái

    Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm. 

    Thế thì những bá cáo chính trị suốt bao nhiêu năm cũng như những

    văn kiện, nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung Ương

    đảng Cộng sản phải chăng chỉ còn có giá trị như những tấm giấy

    lộn. 

     

    Để hiểu rõ thêm về phần sách cũ này, tôi có một nhận xét như sau

    : Kể tử 1975 đến 1985, Sàigòn hay miền Nam có hai bộ mặt sinh

    hoạt văn học : Mặt nổi và mặt chìm. Mặt nổi bao gồm những sách

    báo in ấn chính thức từ miền Bắc gửi vào. Đó là một thứ văn học

    Cộng Sản mà tự nó mang tính chất đồng phục, tính chất hợp pháp

    và giáo điều buồn nản và tầm thường. Tôi còn nhớ trên vỉa hè phố

    Sàigòn những cuốn sách dịch in trên giấy xấu đến khó coi cả từ

    bề ngoài đến tựa đề. Đọc lên nghe tức anh ách như : Mười ngày

    của Bôcaxiô. 10 ngày gì mới được chứ. Thằng cười, dịch V.Hugô.

    Cửa hàng vì hạnh phúc các bà của E.Zôla.. Dịch lạ quá, tôi đi

    tìm sách của nhà văn này, nhưng đành chịu không kiếm ra cái tựa

    đề Cửa hàng vì hạnh phúc các bà ở đâu. Trăm năm cô đơn của

    G.Market. Tuổi thơ mãi mãi cùng ta của M. Karim, Đất vỡ hoang

    của M. Sôlôkhốp, Thời gian để sống và để chết của E. Rơmacơ. Ông

    già và biển cả của E. Hemingway, Đồi gió hú của E.Brônti. Cả ba

    cuốn này đều đã được dịch ở trong Nam trước đó rồi. Đốt Đỉnh gió

    hú, đốt Lão ngư ông và biển cả, đốt Thời gian để sống và để chết

    của miền Nam mà chất lượng dịch đã hẳn là bảo đảm hơn miền Bắc

    để mang nguyên con những thứ đó vào miền Nam với phẩm chất không

    bảo đảm và giấy thì thật xấu. Để làm gì. 

     

    Vì thế dân chúng trong Nam vẫn chịu khó tốn công, tốn tiền đi

    tìm sách báo cũ để đọc, chuyền tay nhau để đọc. Bởi vì, chính

    những sản phẩm văn hoá đó đã làm nên họ, là của họ, là bản thân

    họ và trở thành biểu tượng của những giá trị quá khứ cần được

    nâng niu giữ gìn. Và như thể, nếu không có những thứ văn hoá

    phẩm đó được nuôi dưỡng thì họ không còn là họ nữa, khô chồi và

    thui chột.

     

    Nhưng một phần thì sinh hoạt văn học miền Nam dừng lại ở đó,

    bằng lòng với tất cả những thứ đến từ dĩ vãng, quá khứ và trong

    tương lai sẽ mỗi ngày mỗi thưa vắng đi, bởi vì không có người

    làm công việc sáng tác nữa. Đó là thứ văn học không có tương lai

    mà chỉ còn mở ra một sinh lộ : Quay lại quá khứ của chính mình

    để nhớ, để thương và để sống lại. Nếu ở Hải ngoại thời đó người

    ta gọi VHHN là thời kỳ văn học lưu vong. Trong nước phải gọi là

    thời kỳ văn học của quá khứ, vang bóng một thời. 

    Từ một nền văn học đồng phục, bị động, nghèo nàn với những sách

    vở lưa thưa và chưa định hình. Sách báo miền Nam cũ vẫn có mặt

    mà chưa có kế thừa và thay thế. Kể từ đó, sau ngày 30-4, sách

    báo miền Nam vỉa hè, giống như số phận của chính nền văn học ấy,

    thực sự trở thành sinh động chỉ nhờ vào sách báo cũ. *Điều đáng

    chú ý là đa số chủ nhân các tụ điểm văn hoá này là những người

    có học. Không thể nói là họ không am hiểu nội dung và tác hại

    của thử sách ra. Lạ một điều là bất chấp mọi hậu quả, họ cứ thản

    nhiên bày bán, những thứ rác rưởi văn hoá đó, ngày này qua ngày

    khác. Cứ mỗi độ chiều về, ở những điểm này, người bán kẻ mua tấp

    nập* . 

    Không có gì lạ. Cái lạ là các ông không hiểu gì về nếp sống, nếp

    nghĩ, sinh hoạt văn học miền Nam cả. Những thứ mà quý ông gọi là

    rác rưởi thì dân miền Nam lại coi là thứ rác quý, rác hiếm. 

     

    Sau 30-4, miền Nam có nhiều thứ rác lắm. Những thứ rác có thể

    đốt. Nhưng đốt thứ rác sách vở, báo chí văn học nghệ thuật miền

    Nam, các ông đã đụng chạm đến tinh thần và niềm tự hào của cả

    một miền đất nước thân yêu của họ. Điều đó khó mà tha thứ được. 

     

     

    C.- Những người có công với sách cũ của Sàigòn. 

    Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công

    sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả. Điều

    hiển nhiên là thế. Nhưng sức bật, sự tác động để phổ biến những

    văn hoá phẩm ấy là nhờ vào một số lớn nhà xuất bản có công với

    Văn Học. Họ là những nhà xuất bản như Trình Bày, Nam Sơn, Nguyễn

    Đình Vượng, Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa nay, Khai Trí, Lá Bối,

    An Tiêm. Những nhà xuất bản này đã đóng góp vào việc xuất bản

    200 triệu cuốn sách trong 20 năm. Con số thật không nhỏ. 

    1.- Ông Khai Trí : Chẳng mấy ai biết tên thật

    của ông, thành ra thương hiệu nhà sách KT, 62 Lê Lợi được đồng

    hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương, với hai

    tay trắng làm nên sự nghiệp. Ông vừa là một doanh gia, vừa là

    người làm văn hóa. Ông biên sọan khoảng 15 cuốn sách như Thơ

    tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Chánh tả cho người miền

    Nam… và chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến. 

    Sau giải phóng, nhà sách KT là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá.

    Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường. Tôi

    đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực, bất lực của

    một người tự xếp hàng vào người thua cuộc. Tôi không biết lúc

    bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu. Đứng ở đâu thì cũng cùng tâm

    cảnh đau xót đó thôi. Khi đã chứng kiến cảnh này rồi thì đừng

    bảo tôi có thể nghĩ hay cho những người mới đến. Họ không hiểu

    được điều đó vì quá hăng say trong men chiến thắng hay họ chưa

    bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn gì, nghĩ gì. Tiếp theo đó

    là hai kho sách lớn cũng bi trưng thâu. Hằng vài trăm ngàn cuốn

    sách ra khỏi kho, rồi biến mất dạng.

     

    Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng. 

    Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng làm được

    một chút gì cho đất nước. Ông đã mang về 2000 đầu sách để tiếp

    tục làm Văn hoá. Sách bị tịch thâu với lý do : in trước 75. Theo

    Nguyễn Thụy Long, phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách

    Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi

    tiếng. Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách

    hiền, sách tốt cả. Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra

    đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội : Tội đã in trước 1975. 

    Trước 75 là xấu, vi phạm luật. Sau 75 là tốt. 

    Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu. 

    Trước khi ông mất, người ta đã không quên đặt tên ông cho một

    con phố nhỏ. Đúng như ông thày TQ nhận xét : Hôm qua nó giết

    mình, hôm sau nó mang vòng hoa đến phúng điếu. 

    .. Ông ra đi lúc 5h15 ngày 11/3, linh cữu hiện quàn tại nhà

    riêng (237 Điện Biên Phủ, quận 3, TP HCM), lễ động quan lúc 6h

    ngày 14/3, hỏa táng tại Bình Dương. Nguyện vọng của gia đình là

    gửi tiền phúng điếu vào quỹ từ thiện thành phố. 

    Cụ Toan Ánh, năm nay 91 tuổi, trong bữa đưa đám ma ông Khai Trí

    than thở: tại sao mình sống lâu như thế, ông Khai Trí mới có 80

    tuổi. 

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Link Tải Sách: Sách Cũ Trước 1975
  • Loạt Địa Chỉ Mua Sách Ngoại Văn Chất Lượng Tại Sài Gòn
  • 4000 Từ Vựng Tiếng Pháp Cơ Bản Đến Nâng Cao – Must Know French
  • Trao Đổi Về Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Tuyển Sinh Khóa Tiếng Pháp Dành Cho Người Mới Bắt Đầu, Trình Độ A0
  • Người Miền Nam Có ‘nói Ngọng’ Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Cách Luyện Giọng Tới Nơi Tới Chốn
  • 7 Âm Tiếng Anh Phổ Biến Người Việt Miền Bắc Hay Phát Âm Sai
  • Nói Tiếng Hàn Thành Thạo Như Người Bản Xứ
  • Tôi Đã Học Nói Tiếng Như Thế Nào?
  • Điểm Tên Danh Sách Các Trường Đại Học Hàng Đầu Bắc Kinh
  • Trước hết, cần minh định rằng nước Đại Việt của các nhà Lý, Trần, Lê cương vực chỉ tới miền Trung. Các vùng đất Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tĩnh trở vô tới Huế ngày nay họ không nói tiếng Việt hoặc nói với giọng rất khó nghe do ảnh hưởng của người Chăm và văn hoá Chăm, bằng chứng là tiếng Nghệ An Hà Tĩnh bây giờ vẫn bị ngoài Bắc dè bĩu là trọ trẹ. Các đời vua Lý và Trần đều có gốc Tàu, được biết vua Trần (gốc Phúc Kiến, Mân Nam) nói chuyện với Tàu không cần phiên dịch, ta có thể thấy tầng lớp trí thức cai trị nước Đại Việt xưa không hẳn là người bản địa, người bản địa ở miền Bắc lúc đó mới thật sự đồng hoá các đời vua có gốc Tàu sang. Các số đếm như một, hai, ba, bốn của tiếng Viết lại giống với tiếng Khmer, tiếng Mường hơn (trong tiếng Khmer, bốn đọc là “bon”).

    Sau khi quân Minh xâm lược, lật đổ nhà Hồ thì ít lâu sau Lê Lợi khởi nghĩa tại Lào, ông là người Mường ở miền núi Thanh Hoá (huyện Ngọc Lặc quê của thủ môn Bùi Tiến Dũng ngày nay cũng nhiều làng Mường). Sau khi nhà Lê ra Thăng Long cai trị thì tiếng Việt lúc này cũng đã thay đổi thêm, thành tố Mường chiếm ưu thế tuy vẫn sử dụng Hán tự là chữ viết duy nhứt.

    Tới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh thì tiếng Việt được Nam tiến theo sự nghiệp của các chúa Nguyễn, người bản địa ở Đàng Trong gồm Chăm, Thượng và sau này là Khmer, Hoa Minh Hương nói tiếng Việt theo ngữ âm Thanh Hoá, Nghệ An, Huế, tiếng Việt ở ven biển từ Nghệ An vô tới Ninh Thuận có sự khác biệt giữa các vùng do ngày xưa Champa là các tiểu quốc khác nhau hợp thành. Tới thế kỷ 18 thì lực lượng người Hoa Minh Hương ở đồng bằng sông Cửu Long cũng đã hoà nhập với dân bản địa và họ kết hôn, để ra con cháu nói tiếng Việt với giọng Nam.

    Công bằng mà nói, tới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát thì Đàng Trong và Đàng Ngoài đã coi nhau như 2 nước, có tiếng nói, từ vựng riêng, dù vẫn có thể nói chuyện với nhau được nhưng hai nền văn hoá đã khác nhau rồi. Lúc Nguyễn Huệ gặp vua Lê ở Thăng Long thì coi như hai nước khác nhau. Nguyễn Nhạc cũng từng can ngăn Nguyễn Huệ đừng chiếm lấy Bắc Hà vì “nước ấy là nước của vua Lê”.

    Cũng trong thời kỳ này, các giáo sĩ phương Tây mới nghĩ ra cách ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin, quá trình này có công lớn của Alexander de Rhodes (cha Đắc Lộ). Tuy vậy, mãi cho đến khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ làm thuộc địa từ 1865 thì chữ viết ấy mới chánh thức được người nói tiếng Việt tại Đàng Trong sử dụng, công lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ ra rộng rãi giới trí thức và dân chúng là của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của.

    Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ cũng có một số bất cập khi không thể ghi âm tiếng Việt một cách hoàn toàn chánh xác cho cả ba miền, nhứt là về mặt thanh điệu. Bản thân người Việt mải mê với binh đao không thể sáng tạo ra được chữ viết của riêng mình (chữ Nôm cũng chỉ là cải biên từ chữ Hán và có phần phức tạp hơn), phải nhờ người nước ngoài tạo ra thì chuyện đòi hỏi có được chữ viết đáp ứng nhu cầu mong mỏi của họ là khá xa vơi. Chữ Việt được phát triển bởi các nhà truyền giáo Nam Âu (Bồ Đào Nha, Pháp) và đã tồn tại một số bất cập khi họ không có đủ chữ cái để ghi âm chánh xác cho phụ âm đầu “y” cũng như “w” và dùng chữ “v”để thay thế cho hai cái đó. Chi tiết về sự bất cập này, mời các bạn tham khảo link sau:

    http://www.daichung.com/73/09_chu_v.shtm

    Tiếng Việt đã thay đổi kể từ khi chữ Quốc ngữ được đưa vào giảng dạy, bản thân người viết từng chứng kiến hồi năm học lớp 1, thằng bạn cùng lớp không thể vào phát âm phụ âm đầu “v” mà toàn đọc như “w”. Đó là vì chữ “v” là một âm xa lạ, không phản ánh đúng tiếng của ông bà ta nói ngày xưa cho nên gặp khó khăn, chúng ta đã bị bắt học phát âm âm “v’ là đọc theo người Pháp. Các ngôn ngữ phương Đông khác mà có ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, tuyệt nhiên không có âm “v” như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Thái Lan. Nhiều nghệ sĩ cải lương khi phát âm phụ âm “v” thường đọc theo âm “bd”, tức là bậm môi nhưng khi phát ra thì giống như /d/ (trong tiếng miền Nam), đó chính là cách phát âm cổ của người Việt, bao gồm cả người bỏ Đàng Ngoài để vô Đàng Trong sinh sống thời chúa Nguyễn.

    Video clip bài hát” Qua Cầu Gió Bay” được hát bằng tiếng Kinh cổ của cộng đồng người Kinh ở Trung Quốc. Nhóm người này chưa từng tiếp xúc với chữ Quốc ngữ, họ vẫn dùng tiếng Nôm để ghi âm tiếng Việt, vùng đất đó trước kia thuộc Đại Việt nhưng sau này bị nhượng lại cho Trung Quốc, hãy nghe thử để so sánh với tiếng “Bắc chuẩn” và tiếng “Nam ngọng” coi có cái nào giống cái nào hay không.

    Sau khi chiếm được toàn bộ quyền lực và thao túng bộ máy giáo dục, tuyên truyền, người Bắc mặc định coi họ là chuẩn mực của ngôn ngữ, cách sống, nhận thức. Tiếng Hà Nội được mặc nhiên coi là “tiếng chuẩn” của cả nước, nên mới nảy sinh ra tâm lý cho rằng người Nam nói ngọng. Xin thưa, nếu lấy chữ Quốc ngữ đang dùng hiện tại ra để làm chuẩn mực so sánh ai nói chuẩn hơn, thì xin được phân tích ra rằng miền nào cũng sai tương đối một chút so với chữ viết:

    • Người Nghệ An nói rõ chữ “s” và “x”, “r” và “d” với “gi” , dấu thanh khác miền Bắc và miền Nam.
    • Người miền Nam nói hỏi ngã giống nhau, “d” giống với “gi” và “v” ở nhiều địa phương, chữ “r” có thể đánh lưỡi được chánh xác tuỳ vào chuyện có muốn đánh hay không. Phụ âm cuối như -an hay -ang thì phát âm giống nhau (người Huế cũng vậy) nhưng ít khi viết sai. Phụ âm cuối -c và -t đọc giống như và đôi khi hay lẫn lộn trong lúc viết.
    • Người Bắc nói “d”, “gi” và “r” giống nhau (viết sai rất nhiều ví dụ rẻ rách, hạt rẻ, dượt đuổi, đổ giác..) , đôi khi lẫn lộn “l” và “n” (viết sai cặp này rất nhiều ví dụ Nam Từ Niêm, trứng vịt nộn…).

    Về viết sai chính tả, thì có thể khẳng định rằng hiện tại người vùng miền khác không thể nào đấu lại người Bắc về số lượng cũng như sự thường xuyên mắc lỗi. Còn nói rằng người Nam nói ngọng thì đó là thiển ý riêng của người Bắc, họ cho rằng họ đại diện cho những gì chuẩn mực nhứt của đất nước này nên mới phán rằng người Nam nói ngọng, là một người Nam, tôi có thể phán rằng người Bắc “viết ngọng” hơn người từ Nghệ An trở vô rất nhiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Flashcard Giúp Bạn Học Từ Vựng Tiếng Ba Lan Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Ghi Nhớ Từ Vựng Tiếng Ba Lan
  • Bí Kíp Học Nhanh Tiếng Ba Lan
  • Một Số Nguyên Tắc Tự Học Tiếng Ba Lan Hiệu Quả Phần 2
  • Du Học Ba Lan 2022: 15 Ít Ai Biết!
  • Tập Đọc Lớp 3: Luôn Nghĩ Đến Miền Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mất Bao Lâu Để Giỏi Tiếng Anh?
  • Xin Visa Du Học Canada Mất Bao Lâu
  • Mất Bao Lâu Để Thành Thạo 1 Ngoại Ngữ?
  • Thời Gian Xin Visa Du Học Mỹ Mất Bao Lâu ?
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Toán, Tiếng Việt Lớp 2
  • Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100

    Soạn bài Tập đọc lớp 3: Luôn nghĩ đến miền Nam là lời giải phần Tập đọc SGK Tiếng Việt 3 trang 100 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 giúp các em học sinh ôn tập, củng cố các dạng bài tập đọc hiểu Tiếng Việt 3. Mời các em cùng tham khảo.

    Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100:

    Luôn nghĩ tới miền Nam

    Đầu năm 1969, một chị cán bộ miền Nam ra Bắc được gặp Bác Hồ.

    Chị thưa với Bác:

    – Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến một trãm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác… trăm tuổi.

    Chị đã nói ra cái điều mọi người hằng nghĩ nhưng không ai dám nhắc đến.

    Năm ấy, Bác bảy mươi chín tuổi. Nghe vậy, Bác mỉm cười, hóm hỉnh:

    – Còn hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi cơ. Bác kêu gọi các cô, các chú đánh Mĩ năm năm, mười năm, hai mươi năm chứ có nói hai mươi mốt năm đâu. Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mĩ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm đồng bào miền Nam.

    Thật ra, lúc ấy Bác đã yếu rồi. Tối mồng 1 tháng 9 năm 1969, Bác mệt nặng. Những lúc tỉnh lại, Bác vẫn hỏi:

    – Trong Nam mấy hôm nay đánh giặc thế nào?

    Sắp ra đi mãi mãi, Bác vẫn nghĩ đến miền Nam.

    Theo tập sách BÁC HỒ KÍNH YÊU

    – Bác … trăm tuổi : Bác mất (cách nói tránh).

    – Hóm hỉnh: (đùa vui) một cách nhẹ nhàng, thông minh.

    Hướng dẫn Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100

    Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100 câu 1

    Chị cán bộ miền Nam thưa với Bác điều gì?

    Gợi ý: Em đọc lại đoạn sau: Từ đầu… đến không ai dám nhắc đến, chú ý tới lời của chị cán bộ.

    Trả lời: Chị cán bộ miền Nam thưa với Bác: “Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác… trăm tuổi.”

    Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100 câu 2

    Câu nói đó thể hiện tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác như thế nào?

    Gợi ý:

    Trả lời: Câu nói ấy thể hiện rõ tình cảm vô cùng kính yêu của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ. Đồng bào miền Nam mong Bác sống thật lâu để sau ngày đất nước thống nhất, sẽ được đón Bác vào thăm. Đồng bào miền Nam luôn mong được gặp Bác.

    Giải bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 100 câu 3

    Tình cảm của Bác với đồng bào miền Nam thể hiện như thế nào?

    Gợi ý: Em hãy đọc bài và chú ý tới lời của Bác.

    Trả lời: Bác rất yêu thương đồng bào miền Nam, luôn quan tâm tới tình hình của miền Nam chiến đấu. Có lần Bác đã nói “Miền Nam trong trái tim tôi”. Lúc sắp mất, Bác vẫn còn nghĩ đến miền Nam, mong miền Nam thắng giặc.

    Nội dung: Tình cảm bao la của Bác Hồ dành cho đồng bào miền Nam cũng như tình cảm sâu nặng của đồng bào miền Nam dành cho Bác.

    Trắc nghiệm bài Tập đọc Luôn nghĩ đến miền Nam

    Chọn đáp án đúng

    Lưu ý: Các em có thể trả lời câu hỏi rồi kiểm tra đáp án hay kích vào đây để làm luôn Trắc nghiệm bài Luôn nghĩ đến miền Nam trực tuyến.

    1. Chị cán bộ miền Nam ra Bắc và được gặp ai?

    A. Nhân dân miền Bắc

    B. Người chồng ngoài Bắc

    C. Bác Hồ

    D. Cán bộ miền Bắc

    2. Chị cán bộ miền Nam thưa với Bác điều gì?

    A. Còn hai mươi năm nữa Bác mới một trăm tuổi, Bác hãy kêu gọi mọi người đánh giặc Mĩ.

    B. Thưa Bác, chúng cháu rất nhớ Bác và mong Bác sống đến một trăm tuổi.

    C. Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác… trăm tuổi.

    D. Tất cả các ý trên

    3. Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam là gì?

    A. Yêu thương, quan tâm.

    B. Nhớ nhung, đau lòng.

    C. Ghét guổng, bỏ mặc.

    D. Thờ ơ, lạnh nhạt,

    4. Chi tiết nào cho thấy tình cảm yêu thương, quan tâm của Bác đối với đồng bào miền Nam?

    A. Lúc mệt nặng, Bác vẫn hỏi: “Trong Nam mấy hôm nay đánh giặc thế nào?”

    B. Bác mong miền Nam đánh thắng giặc để Bác có dịp vào thăm.

    C. Trước khi mất, Bác vẫn nghĩ đến miền Nam.

    D. Bác luôn quan tâm đến chiến sự và mong miền Nam đánh thắng giặc, ngay cả khi Bác đã yếu.

    B. Bác sắp được một trăm tuổi

    C. Bác mất (cách nói tránh)

    D. Tất cả các ý trên

    6. Thời gian trong bài viết là năm nào?

    A. Đầu năm 1969

    B. Đầu năm 1965

    C. Đầu năm 1959

    D. Đầu năm 1966

    7. Nội dung của bài Luôn nghĩ đến miền Nam là gì?

    A. Tình cảm sâu nặng của nhân dân miền Nam đối với Bác.

    B. Tình cảm bao la của Bác dành cho miền Nam và sự kính trọng của người dân miền Nam đối với Bác.

    C. Tình cảm yêu thương, quan tâm của Bác dành cho nhân dân miền Nam.

    D. Mối quan tâm của miền Nam tới sức khỏe của Bác.

    Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Toán năm 2022 – 2022:

    Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt năm 2022 – 2022:

    Ngoài bài Soạn bài lớp 3: Luôn nghĩ đến miền Nam, các em học sinh có thể tham khảo đề thi học kì 1 lớp 3, đề thi học kì 2 lớp 3 đầy đủ các môn, chuẩn bị cho các bài thi đạt kết quả cao cùng các giải bài tập môn Toán 3, Tiếng Việt lớp 3, Tiếng Anh lớp 3. Mời các em cùng tham khảo, luyện tập cập nhật thường xuyên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miễn Phí 100% Ứng Dụng Học Toán, Tiếng Việt Cho Trẻ Trong Mùa Dịch
  • Dạy Trẻ Mầm Non Học Chữ Cái Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Các Khóa Học Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Khóa Học Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài Ở Biên Hòa
  • Cách Phát Âm Tiếng Việt Qua Các Vùng Miền

    --- Bài mới hơn ---

  • Sổ Tay Tiếng Miến Điện – Wikivoyage
  • Dạy Kèm Giao Tiếp Tiếng Nhật
  • Gia Sư Dạy Kèm Môn Tiếng Nhật
  • Thủ Thuật Đậu Bằng Cao Đẳng Tiếng Nhật Là Gì?
  • Cách Viết Bảng Chữ Cái Tiếng Nhật Chuẩn Cho Người Mới
  • 5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài không phải là việc dễ dàng, đòi hỏi phải có sự nhẫn nại cần thiết. Nếu bạn đã tìm nhiều trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhưng không cảm thấy không phù hợp thì hãy lựa chọn English Solution vì chúng tôi có hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

    Bàn về một trong những khó khăn khi người nước ngoài bắt đầu học Tiếng Việt thì chúng ta không thể không nhắc đến sự khác biệt về cách phát âm Tiếng Việt qua các vùng miền của người bản địa. Ba miền Bắc, Trung, Nam trên đất nước ta đều sử dụng chung một ngôn ngữ, tuy nhiên trên mỗi vùng miền người dân còn sử dụng ngôn ngữ nói riêng rất đặc trưng.

    Vậy để tránh bớt sự nhầm lẫn và hiểu rõ hơn về phương ngữ, hệ thống ngôn từ của Tiếng Việt, English Solution sẽ cùng các học viên khám phá sự khác biệt nổi bật nhất trong cách phát âm của từng vùng miền

    Miền Bắc

    Nhìn chung, phương ngữ này đa phần là tiếng Hà Nội, là địa phương có tiếng nói gần với “chuẩn chính tả” nhất. Ưu điểm thấy rõ của phương ngữ này là nói đủ sáu thanh điệu và phần vần phong phú hơn các phương ngữ khác. Lỗi “chết người” đối với người dân vùng này tập trung chủ yếu ở phụ âm đầu, đó là:

    • Không phân biệt s với x, r với d, tr với ch
    • Không phân biệt, lẫn lộn giữa l với n

    Lỗi này xảy ra ở toàn bộ khu vực Bắc bộ. Trong cách nói, người nghe bỏ qua, nên nó không bị coi là lỗi. Nhưng trong cách viết, nếu không có sự rèn luyện công phu trong nhà trường phổ thông, thì đến già có khi cũng vẫn mắc lỗi.

    Miền Trung

    Đa phần thanh hỏi và thanh ngã bị lẫn lộn. Cụ thể: trừ Nghệ Tĩnh lẫn lộn thanh ngã với thanh nặng, còn ở tất cả các tiểu thổ ngữ còn lại, kể cả Thanh Hóa, chủ yếu lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã.

    Ví dụ: (lên) xã → (lên) xả, (nước) lã → (nước) lả, bã (trầu) → bả (trầu), hoặc (tất) cả → (tất) cã, cả xã → cạ xạ, (học) chữ → (học) chự,…

    Hệ thống nguyên âm đôi bị đơn hóa, các yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi bị triệt tiêu, yếu tố đầu có kéo dài hơn bình thường. Ví dụ:

    – ươ → ư: bướng → bứng, nương → nưng, cương → cưng, sướng → sứng,…

    – uô → u: xuống → xúng, cuống (lá) → cúng, buông tay → bung,…

    Trong hệ thống âm cuối, xuất hiện các âm –n, –t → –ng, –k. Hiện tượng này xuất hiện từ Thừa Thiên Huế (phía Nam sông Ô Lâu trở vào). Ví dụ:

    + _n → _ng, bắn → bắng, khăn (mặt) → khăng (mặc), bàn → bàng, lan → lang,…

    + _t → _c (âm là /k/): cát → các, mát → mác, đan lát → đang lác,…

    Miền Nam

    Nhìn chung, đây là phương ngữ tương đối thống nhất (so với phương ngữ Bắc và Trung). Có thể thấy các đặc trưng chủ yếu: các thanh có khác các phương ngữ còn lại, có vẻ gần gũi với tiếng Bắc hơn là tính trầm ở phương ngữ Trung. Cái khó ở đây lại vẫn quay về phân biệt các thanh hỏi và ngã.

    • Về phụ âm đầu:

    + Không có phụ âm /v/, thay bằng /w/. Ví dụ: văn hóa → văng woá, vá → já, vệ quốc → vệ wók,…

    + Âm đệm /–w–/ đang dần biến mất: luật → lục, toàn → tàu, nuốt → núc,…

    • Về phần vần:

    + Đồng nhất các vần: Âm “it” đọc giống âm “ich”, chữ “ít” trong “ít nhiều” phát âm giống chữ “ích” trong “ích lợi”. Người nam nói “đàn vịt bị dịch” thì chữ “vịt” và chữ “dịch” đọc như nhau, nếu nói thế nào viết thế đó thì thành “đàng dịch bị dịch”…

    + Âm “iêu” phát âm thành “iu”, ví dụ “không hiểu” thì phát âm thành “không hỉu”.

    + Âm “oai” đọc thành âm “ai”, ví dụ “quả xoài” được phát âm thành “quả xài” (cầu dừa đủ xài)…

    Lời kết

    Nói tóm lại, các vùng miền khác nhau có các cách phát âm khác nhau. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa thống nhất cách phát âm của vùng nào chuẩn nhất. Vì vây đối với người nước ngoài muốn theo học Tiếng Việt, cần phải hiểu rõ tính chất cách phát âm của từng vùng miền, rồi từ đó lựa chọn giáo viên theo phương ngữ mình mong muốn.

    Các bạn cũng có thể tham khảo đội ngũ giáo viên dạy Tiếng Việt với chất giọng chuẩn mực, thanh lịch, dễ nghe tại English Solution.

    Bùi Hà Quí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Kiến Thức Ngữ Pháp Và Bài Tập Tiếng Anh Lớp 4
  • Tài Liệu Dạy Kèm Toán Lớp 4, Gia Sư, Giáo Viên, Sinh Viên Dạy Kèm Lớp 4
  • Tâm Đắc Với 5 Cách Dạy Con Học Lớp 1 Cha Mẹ Không Thể Không Biết – Biabop.com
  • Cách Dạy Con Học Lớp 1 Giúp Bé Tiếp Thu Nhanh
  • Gia Sư Giáo Viên Dạy Kèm Tại Nhà Ở Đà Nẵng
  • ‘hạ Cánh Nơi Anh’: Trốn Khỏi Bắc Hàn Lên Phim Miền Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phim “hạ Cánh Nơi Anh” Kết Thúc, Khán Giả Nửa Vui Nửa Buồn
  • ‘hạ Cánh Nơi Anh’ Có Sức Hút Gì Mà Trở Thành Bom Tấn Của Phim Hàn Quốc
  • Học Tiếng Hàn Qua Phim Hoạt Hình Nổi Tiếng
  • Mẹo Học Tiếng Hàn Qua Phim Hoạt Hình
  • 4 Biểu Tượng Phim Hoạt Hình Để Học Tiếng Hàn
  • Chuyện tình lãng mạn giữa một nữ tài phiệt Hàn Quốc Yoon Se Ri (diễn viên Son Ye-jin thủ vai) và đại úy Bắc Hàn Ri Jung Hyuk (Hyun Bin đóng) trong “Hạ cánh nơi anh” (Crash landing on you) đã lấy không ít nước mắt của khán giả mộ phim Hàn ở Việt Nam.

    “Hạ cánh nơi anh” dài 16 tập, do Lee Jeong-hyo đạo diễn, Park Ji-eun viết kịch bản, với sự tham gia của các diễn viên Hyun Bin, Son Ye-jin, Kim Jung-hyun, Kim Sun-young-III, Kim ung-nan…

    “Hạ cánh nơi anh” tất nhiên là một chuyện tình lãng mạn điển hình theo kiểu phim Hàn, nhưng được yêu thích và khen ngợi nhờ các vai diễn đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và thể hiện đúng sắc thái cuộc sống ở Bắc Hàn.

    Có được điều này, theo lời giải thích của Subin Kim, đến từ BBC tiếng Hàn, là nhờ trong đội ngũ viết kịch bản và cố vấn cho phim, có một người từng đào tẩu khỏi Bắc Hàn.

    Với đôi vai rộng và hơi đậm người, Kwak Moon-wan mang vẻ ngoài của một vệ sĩ hơn là một cố vấn phim ảnh.

    Điều đó cũng có lẽ là bởi, cho đến năm 2004, ông vẫn đang phục vụ cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Tối cao, tức lực lượng an ninh tinh nhuệ để bảo vệ cho gia đình ông Kim – nhà lãnh đạo của Bắc Hàn.

    Ông được tin tưởng đến độ còn được chỉ định làm việc cho một công ty thương mại của Bắc Hàn tại Moscow (Nga), để đem ngoại tệ về cho Bắc Hàn.

    Thực tế là, chỉ một số ít người Bắc Hàn được làm việc ở nước ngoài như ông Kwak. Và để bảo đảm cho lòng trung thành của ông, một biện pháp đã được nhà cầm quyền áp dụng, là ông Kwak phải để vợ và con trai ở lại trong nước.

    Năm 2004, ông được lệnh trở về Bình Nhưỡng. Và khi dừng chân ở Bắc Kinh, ông mới phát hiện ra rằng, hóa ra một người bạn của ông ở Moscow đã báo cáo lên thượng cấp của họ ở Bình Nhưỡng những gì mà ông nói trong một cuộc trò chuyện cá nhân.

    Ông biết rằng, ông sẽ gặp rắc rối lớn ra sao nếu về nhà.

    Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi tại một quán cà phê ở Seoul, Kwak cứ liếc mắt nhìn xung quanh để kiểm tra xem, những người quanh mình là ai. Kwak không lặp lại với tôi về những gì ông đã nói với người bạn đó của ông. Ông kể rằng, ông chỉ nói về những gì ông chứng kiến trong một lần hộ tống các thành viên của gia đình Kim tại đó.

    Và ông quyết định đào tẩu. Một mình. Và ông đã sống ở Hàn Quốc mà không có gia đình bên cạnh, từ ngày đó.

    “Tôi chỉ một thân một mình”, Kwak tâm sự, “Đó chính là cuộc sống của tôi ở Hàn Quốc.”

    Sau khi đến Hàn Quốc, Kwak cũng như hàng ngàn người đào tẩu khác từ Bắc Hàn, bắt đầu tiến trình xây dựng cuộc sống mới. Và đã có một bước ngoặt đáng kể trong số phận của Kwak khi ông tìm được con đường để bước chân vào thế giới giải trí, vốn đang bùng nổ tại Hàn Quốc.

    Từ người đào tẩu đến người cố vấn phim

    Thật ra, trước khi đi lính ở Bắc Hàn, Kwak đã có một quãng thời gian học về nghệ thuật thứ bảy.

    Quay lại với thời kỳ những năm 1980, khi ấy, ngành công nghiệp điện ảnh Bắc Hàn có dịp bùng nổ, cũng nhờ tình yêu với phim ảnh của nhà lãnh đạo Kim Jong Il.

    Khi đó, Kwak chuẩn bị bước vào đại học và ông đã được nhận vào học ngành đạo diễn tại Đại học Sân khấu và Nghệ thuật Điện ảnh Bình Nhưỡng.

    Còn Kwak thì cũng vừa kết thúc các cuộc thẩm vấn như một phần trong quá trình tái định cư mà những người mới đào tẩu đều phải trải qua. Trong cuộc thẩm vấn ấy, Kwak có nói về kỹ năng làm phim của ông.

    Vậy là cơ quan này đã kết nối Kwak với nhà làm phim nọ, Và nhà làm phim đã nhận Kwak vào làm tại công ty điện ảnh của ông ta. Kwak nhận lời ngay.

    Kwak đã làm cố vấn và biên kịch cho một số phim điện ảnh và truyền hình. Rồi đến năm 2022, một đồng nghiệp cũ đã giới thiệu ông với bà Park Ji-eun – biên kịch chính của bộ phim “Hạ cánh nơi anh”.

    Bà Park có ý tưởng về một bộ phim hài lãng mạn, kể về mối tình giữa một sĩ quan Bắc Hàn và một người thừa kế giàu có ở Hàn Quốc, nhưng bà lại không có sự hiểu biết sâu về cuộc sống ở nửa phía Bắc của bán đảo Triều Tiên,

    Vậy là Kwak tham gia nhóm khởi động dự án sản xuất bộ phim truyền hình có tên “Hạ cánh nơi anh”.

    Vỏ bọc điệp viênvà trẻ em vô gia cư

    “Hạ cánh nơi anh” đã trở thành một trong những bộ phim truyền hình Hàn Quốc thành công nhất mọi thời đại.

    Phim kể về mối tình giữa một nữ giám đốc giàu có, người thừa kế sáng giá của một tập đoàn kinh tế lớn ở Hàn Quốc Yoon Se-ri với sĩ quan Bắc Hàn Ri Jeong-hyuk.

    Bất ngờ gặp tai nạn trong lần thử nghiệm dù lượn, Se-ri buộc phải hạ cánh khẩn cấp ở Bắc Hàn. Tại đây, cô gặp Ri Jung Hyuk (Hyun Bin thủ vai) – một sĩ quan ưu tú của Bắc Hàn.

    Ri Jung Hyuk đã giữ cho cô được an toàn và giúp cô trở về nhà. Và một điều không thể tránh khỏi đã đến – họ yêu nhau.

    Hiểu biết về cuộc sống và cách thức hoạt động của chính quyền Bắc Hàn đã giúp Kwak đóng góp rất nhiều trong việc xây dựng các tình tiết trong phim trở nên hợp lý và chân thật hơn.

    Ví dụ, một lần, một công an mật tình cờ gặp Se-ri trốn trong làng. Jeong-hyuk đã nhanh chóng nghĩ đến chuyện bịa ra một vỏ bọc cho Se-ri, rằng cô là điệp viên của Sư đoàn 11 – một đơn vị quân đội miền Bắc hoạt động gián điệp ở Nam Hàn.

    Điều này đã giúp giải thích cho chất giọng miền Nam, rồi cách ăn vận của cô, hay việc cô thiếu các giấy tờ. Và điều đó cũng giúp cô có thể tự do khám phá, chuyện trò với những người dân làng; trong khi vẫn có thể từ chối trả lời các câu hỏi của họ về cuộc sống của cô ở miền Nam, với lý do để giữ bí mật.

    Suốt phim, rất nhiều phân cảnh về cuộc sống ở Bắc Hàn và chúng trở nên chân thực hơn nhờ những hiểu biết từ một người như Kwak.

    Xe lửa bị dừng đột ngột do cúp điện, hay trẻ em vô gia cư trên đường phố, rồi tủ lạnh được dùng làm nơi đựng sách vở và quần áo thay vì giữ thực phẩm.

    Kwak cũng giúp tạo ra một tuyến phụ khác trong phim, kể về một cặp tình nhân khác, mà cả hai cũng đến từ hai miền Bắc và Nam Hàn – Gu Seung-joon và Seo.

    Sau khi biển thủ một số tiền lớn từ anh trai của Se-ri, Seung-joon chạy trốn và quyết định ẩn náu ở Bắc Hàn.

    “Bắc Hàn là nơi duy nhất mà Interpol không thể tiếp cận được”, Kwak nói.

    “Có phải Bắc Hàn trở thành nơi trú ẩn cho những tên tội phạm bị truy nã để đổi lấy một số tiền lớn?. “Điều đó rất hợp lý,” Kwak nói. “Đó là tất cả những gì tôi muốn nói.”

    Khen ngợi từ những người đào tẩu khác

    Một số người cho rằng, “Hạ cánh nơi anh” xây dựng nên một hình ảnh sai lệch về những nét đáng yêu ở Bắc Hàn. Chẳng hạn, dân làng dường như có rất nhiều thực phẩm, trong khi trên thực tế, tình trạng thiếu lương thực vẫn là một vấn đề lớn, tái diễn thường xuyên ở nước này.

    Nhưng những sắc thái này trong đời sống ở Bắc Hàn hiếm khi được giới thiệu với người miền Nam. Và thậm chí, bộ phim còn khiến những người khác, cũng từng đào thoát khỏi Bắc Hàn, thấy phấn khích.

    Chun Hyo-jin, người từng đào thoát khỏi miền Bắc năm cô mới 19 tuổi, nói rằng, phim có chút phản ánh không sát thực tế, nhưng điều đó không làm cô thôi háo hức với phim.

    “Mỗi lần phim phát sóng, chúng tôi lại gọi điện cho nhau và nói về bộ phim”, cô Chun nói.

    “Phim khiến nhiều người quan tâm hơn đến Bắc Hàn. Bạn bè hỏi tôi về cuộc sống ở Bắc Hàn và tôi thực sự biết ơn người làm phim về điều đó.”

    Phim cũng giành được lời khen ngợi từ những người như Sokeel Park – đang làm việc trong tổ chức phi lợi nhuận ‘Liberty in North Korea’, hỗ trợ cho những người sau khi đào tẩu khỏi Bắc Hàn.

    “Các phân cảnh phản ánh các khía cạnh khác nhau của xã hội Bắc Hàn rõ ràng là đã được nghiên cứu kỹ, từ đó miêu tả về xã hội Bắc Hàn tốt hơn so bất kỳ phim điện ảnh hay truyền hình nào cho đến nay,” ông nói với BBC.

    “Phim đã miêu tả các khía cạnh khác nhau của xã hội Bắc Hàn mà không cần phải đưa ra những phán xét một cách không cần thiết. Đây là điều mới mẻ và nó cho thấy, người dân Bắc Hàn là những con người khá da dạng, về thẳm sâu vẫn là những con người lành hiền, thậm chí đáng yêu, ngay cả khi có sự khác biệt về văn hóa.”

    Người ta biết rằng người Bắc Hàn, nhất là những người trẻ, cũng hâm mộ phim Hàn Quốc và theo như những gì thể hiện trong “Hạ cánh nơi anh”, rất nhiều phim điện ảnh và truyền hình Hàn Quốc đã vào đến Bắc Hàn.

    Kwak nói rằng, ông chưa nghe nói gì về chuyện, có người Bắc Hàn nào đã xem “Hạ cánh nơi anh” hay chưa.

    “Tôi chắc chắn họ sẽ rất thích. Phim phản ánh câu chuyện của họ, nói về họ.

    “Và tôi đoán rằng, những người đàn ông ở Bắc Hàn hẳn sẽ thầm thấy biết ơn, khi có một anh chàng đẹp trai như Hyun Bin vào vai một người đàn ông Bắc Hàn,” ông cười khúc khích.

    Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sức Hút Từ Loạt Phim ‘hạ Cánh Nơi Anh’ Của Son Ye Jin Và Hyun Bin
  • Hạ Cánh Nơi Anh (Crash Landing On You)
  • Học Tiếng Hàn Dễ Dàng Qua Phim Ảnh
  • Người Việt Học Tiếng Hàn Qua Phim Hàn Quốc
  • 7 Bộ Phim Hài Hàn Quốc Hay Nhất Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua!
  • Dạy Học Sinh Miền Núi Nói Rành Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Quảng Ngãi: Dạy Cho Học Sinh Vùng Cao Nói Tiếng Việt Trước Khi Vào Lớp 1
  • Vài Thổ Âm, Thổ Ngữ Của Người Quảng (4)
  • Kim Oanh Bị Cấm Nói Tiếng Quảng Trị
  • Sách Tiếng Trung Cơ Bản Nhất Dành Cho Người Mới Học
  • Cùng Học Ngữ Pháp Tiếng Trung Cơ Bản (P1): Danh Từ
  • (Báo Quảng Ngãi)- Chất lượng học tập của học sinh miền núi phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó có yếu tố quan trọng là mức độ nghe hiểu và sử dụng tiếng Việt, bởi phần lớn học sinh miền núi là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, từ hè 2022, các địa phương miền núi sẽ triển khai dạy nói tiếng Việt cho học sinh chuẩn bị vào lớp 1 là con em đồng bào dân tộc trước một tháng, để các em đỡ bỡ ngỡ khi vào năm học mới.

    Có một thực tế hiện nay là, học sinh mầm non, mẫu giáo là con em đồng bào dân tộc thiểu số chưa được tiếp xúc tiếng Việt chiếm tỷ lệ khá cao; hoặc nếu có thì chỉ mới dừng lại ở việc trông nom, chứ chưa chú trọng nhiều đến việc cho trẻ có những tiếp xúc ban đầu với tiếng Việt.

    Các thầy cô giáo bậc tiểu học tham gia lớp tập huấn Chương trình dạy nói tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 trong dịp hè 2022.

    Theo cô Trần Thị Thu Thao, giáo viên Trường Tiểu học Ba Vì (Ba Tơ), hầu như các cháu ở lứa tuổi mầm non là con em người đồng bào dân tộc thiểu số ra lớp vẫn chưa được học tiếng Việt. Các cháu chỉ được tiếp xúc với tiếng Việt khi đến trường. Ở bậc mầm non, các cháu chỉ làm quen với tiếng Việt qua các hoạt động vừa học vừa chơi, còn về nhà thì giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Từ đó các cháu gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp. Khi phát âm không đúng sẽ dẫn đến việc viết sai chính tả, làm ảnh hưởng đến quá trình học tập những môn còn lại…

    Nghe và nói không rành tiếng Việt là một thiệt thòi lớn của học sinh miền núi. Khi vào học lớp 1, do không nói được tiếng phổ thông, nhiều học sinh tỏ ra e dè, thiếu tự tin. Cô Đinh Thị Mau, giáo viên Trường Tiểu học Sơn Hạ số 2 (Sơn Hà) cho hay, đối với học sinh người dân tộc thiểu số thì việc tiếp thu kiến thức sẽ gặp những khó khăn nhất định. Bản thân cô Mau là người dân tộc thiểu số nên có sự thấu hiểu đối với học sinh của mình. Khi truyền thụ kiến thức cho học sinh, giáo viên phải nói ngắn gọn, dễ hiểu. Đặc biệt không nên hỏi những câu quá dài, khiến các em không hiểu yêu cầu của giáo viên.

    Tại Quảng Ngãi, con em người đồng bào dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong ở 6 huyện miền núi và 3 huyện đồng bằng có xã miền núi, khi ra lớp vẫn giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Mặc dù đã được tăng cường tiếng Việt trong thời gian hè, trước khi vào lớp 1, nhưng vốn tiếng Việt của các em không nhiều, làm hạn chế khả năng giao tiếp và hạn chế trong việc tiếp thu bài giảng các môn văn hóa.

    Thực hiện Quyết định số 80 của UBND tỉnh về triển khai đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022 – 2022, định hướng đến năm 2025, Sở GD&ĐT Quảng Ngãi tổ chức tập huấn Chương trình dạy nói tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 trong hè 2022, cho giáo viên dạy lớp 1 của các trường nằm trên địa bàn miền núi trong năm học đến.

    Chuyên viên Phòng Giáo dục tiểu học (Sở GD&ĐT) Lê Văn Nghĩa, cho biết: Dạy tiếng Việt cho học sinh người dân tộc thiểu số như ngôn ngữ thứ hai. Mục đích cuối cùng là làm sao các em biết sử dụng các câu đơn giản để giao tiếp hằng ngày; đồng thời giúp các em biết các kỹ năng, nền nếp trước khi bước vào lớp 1.

    Học sinh không sử dụng thành thạo tiếng Việt tất yếu sẽ khó nắm được kiến thức từ chương trình học. Chất lượng giáo dục đại trà vì vậy mà bị ảnh hưởng. Phần lớn học sinh lưu ban, bỏ học trong thời gian qua tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi và đều do học lực xếp loại yếu kém. Việc học sinh sử dụng không thành thạo tiếng Việt- phương tiện để chiếm lĩnh kiến thức là một tác nhân quan trọng dẫn đến thực trạng đáng buồn này. Hy vọng đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số sẽ là chìa khóa giúp cho các em người đồng bào dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp cận với kiến thức hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Như Thế Nào Nhớ Nhanh Và Nhớ Lâu
  • Phương Pháp Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Cho Người Đi Làm Tại Tphcm
  • Review 5 Cuốn Sách Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Khóa Học: Làm Chủ Ngữ Pháp Tiếng Anh
  • Học Văn Bằng 2 Ngành Kiến Trúc, Tại Sao Không?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100