Top 16 # Học Tiếng Hàn Jeong Binh Minh / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Lienminhchienthan.com

Lớp Học Tiếng Anh Của Cựu Binh Mỹ / 2023

Lớp học của thầy Paul George Harding

Mỗi thứ tư hàng tuần, lớp học ở nhà B trong trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội lại rộn lên những tiếng phát âm tiếng Anh và giọng nói trầm ấm của thầy Paul George Harding. Thầy Paul là cựu binh Mỹ từng tham chiến tại chiến trường Việt Nam. Chứng kiến tận mắt sự khốc liệt của cuộc chiến phi nghĩa mà mình đã từng tham gia, ông quyết định trở lại Việt Nam và tổ chức những khóa học tiếng Anh miễn phí cho người Việt.

Lớp tiếng Anh của thầy Paul George Harding bắt đầu hoạt động từ tháng 12/2014. Lớp học thu hút sự tham gia của nhiều học viên, từ những em nhỏ tới học sinh, sinh viên, thậm chí cả những người lớn tuổi. Tại đây, thầy chủ yếu rèn kỹ năng nghe nói, phát âm tiếng Anh cho mọi người. Từ đầu tới cuối buổi học, lớp không ngớt tiếng thầy và trò luyện âm. Thầy giáo viết những cụm từ tiếng Anh lên chiếc bảng đen, tỉ mỉ phát âm từng từ. Ông Phạm Thành Sơn, một học viên lớn tuổi trong lớp tiếng Anh thầy Paul, cho biết: “Tôi năm nay đã hơn 60 tuổi. Tôi thấy học ở đây rất hợp lý và có ích. Thầy sửa cho từng người và thầy khuyến khích từng người một, sửa cho từng lỗi. Khi sửa thầy rất vui vẻ. Thầy làm nhiều động tác và cử chỉ để cho người học dễ nhớ, dễ học”.

Là một cựu binh Mỹ, Paul Harding luôn bị ám ảnh về quãng thời gian tham chiến tại chiến trường Lâm Đồng. Ông luôn muốn trở lại Việt Nam làm điều gì đó cho người dân Việt Nam. Nhớ lại quyết định quay lại Việt Nam hơn hai năm trước, thầy Paul chia sẻ: “Tôi tình cờ đọc được cuốn sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Cuốn sách đó chính là lý do khiến tôi quyết định quay lại Việt Nam. Tôi chưa bao giờ cố gắng nhiều hơn thế trong đời, và chưa bao giờ có nhiều niềm vui như bây giờ. Được dạy học là công việc tuyệt vời nhất đối với tôi. Mặc dù đó là công việc không công, nhưng tôi được trả công trong chính trái tim mình”.

Thầy Paul chia lớp học thành các nhóm nhỏ để luyện phát âm

Từ khi lớp học được mở ra, đã có nhiều tình nguyện viên từ khắp nơi trên thế giới như Canada, Đức, Australia… tới Việt Nam để hỗ trợ thầy Paul trong công tác giảng dạy. Ngoài các tình nguyện viên nước ngoài, nhiều sinh viên Việt Nam cũng tham gia giúp đỡ thầy Paul hướng dẫn các học viên. Anh Nguyễn Thành Phong, học sinh lớp đầu tiên của thầy Paul, cho biết: “Tôi cảm nhận thầy có cách truyền tải kiến thức rất nhiệt huyết, thầy đem tất cả tâm huyết vào bài giảng và thực sự muốn giúp cho nhiều người Việt Nam biết nói tiếng Anh. Sau hơn 1 năm học tập với thầy thì tiếng Anh của tôi đã tiến bộ rất nhiều. Hiện nay tôi đã làm việc với thầy được hơn một năm, và cảm thấy rất vui mỗi khi được đến lớp để giúp đỡ mọi người”.

Dù đã 70 tuổi, thầy Paul vẫn không ngại vất vả cũng như những vấn đề sức khỏe để duy trì các buổi lên lớp đều đặn hàng tuần. Nếu có ai hỏi thầy Paul: “Có khi nào thầy cảm thấy chán, không muốn dạy nữa không?”, thầy đều trả lời rất vui vẻ rằng: “Khi nào tôi chết thì tôi sẽ thôi dạy”. Chị Nguyễn Thu Phượng, tham gia lớp học được 4 tháng, chia sẻ: “Không sinh ra ở Việt Nam. Việt Nam không phải quê hương của thầy, nhưng thầy lại có một tình yêu đặc biệt với Việt Nam, với những con người Việt Nam, yêu lịch sử và sự ham học hỏi của người Việt. Đó là một người rất đáng trân trọng”.

Binh Chủng Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023

Anh ấy đã được binh chủng lính thủy đánh bộ gửi đi học tại trường Princeton University.

He had been sent to Princeton University by the marines to further his education.

LDS

Sau đó thì không có binh chủng nào trong lục quân mà tôi chưa từng tham gia.

There isn’t a place I haven’t been in for the armed forces.

OpenSubtitles2018.v3

Loại nửa máu biến mất với sự kết thúc của binh chủng kỵ binh trong quân đội.

Half-blood types disappeared with the end of cavalry in the army.

WikiMatrix

Ngày 29 tháng 6 năm 1946 được coi là ngày thành lập Binh chủng Pháo binh.

12 April 1960 has since been marked as Armed Forces Day.

WikiMatrix

Hầu hết là binh chủng kỹ thuật.

Most were engineers.

WikiMatrix

Trong thời gian tại ngũ, ông đã có hơn 12 năm phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù.

For the next 14 years he would remain in the Army as a part–time soldier.

WikiMatrix

Xạ thủ súng nhắm của binh chủng l; ính thủy đánh bộ.

Kathryn Morgan, Marine–Corps-qualified scout sniper.

OpenSubtitles2018.v3

Vẫn chưa chọn binh chủng.

Haven’t chosen a branch of service yet.

OpenSubtitles2018.v3

Cả hai con trai của Bismarck đều tham chiến với hàm sĩ quan trong binh chủng kỵ binh Phổ.

Both of Bismarck’s sons served as officers in the Prussian cavalry.

WikiMatrix

Ông cũng là người đầu tiên có cấp bậc 5-sao trong cả hai binh chủng Quân đội Hoa Kỳ.

He is also the only person to hold five-star rank in two U.S. military services.

WikiMatrix

Có bốn class anh hùng và lâu đài khác nhau với mỗi binh chủng và điểm mạnh/yếu riêng biệt.

There are four different classes of heroes and castles, each with their own units and strengths/weaknesses.

WikiMatrix

Sau khi nghĩ hưu khỏi binh chủng thủy quân lục chiến, Holcomb làm bộ trưởng Nam Phi từ năm 1944 đến năm 1948.

After retiring from the Marine Corps, Holcomb served as Minister to South Africa (1944–1948).

WikiMatrix

Tôi đã phục vụ tình nguyện trong binh chủng Lính Thủy Đánh Bộ của Hoa Kỳ vào thời Chiến Tranh Việt Nam.

I volunteered for service in the United States Marine Corps during the Vietnam War.

LDS

Colson phục vụ trong binh chủng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1955, lên đến cấp bậc đại úy.

Colson served in the United States Marine Corps from 1953 to 1955, reaching the rank of Captain.

WikiMatrix

Vừa xuất ngũ bên Binh chủng lính thủy Rồi khi em làm bồi bàn, anh ấy luôn tới nhà hàng chỗ em.

And Gordon- – he just got out of the Marines and I was a waitress and he always came to my restaurant.

OpenSubtitles2018.v3

Tại đây, ông được bổ nhiệm vào lực lượng pháo binh, được xem là binh chủng rẻ tiền nhất của quân chủng lục quân.

There, he was commissioned to the artillery as the least expensive arm of the service.

WikiMatrix

Những chiếc LPH đôi khi được sử dụng để chuyên chở máy bay cho tất cả các binh chủng của quân đội Hoa Kỳ.

The LPHs were sometimes also used as aircraft ferries for all branches of the U.S. armed forces.

WikiMatrix

Vào khoảng cùng thời gian Anh Cả Perry đang ở Nhật Bản với binh chủng lính thủy đánh bộ thì Chủ Tịch Boyd K.

At approximately the same time that Elder Perry was in Japan with the marines, President Boyd K.

LDS

Vào khoảng cùng thời gian Anh Cả Perry đang ở Nhật Bản với Binh Chủng Lính Thủy Đánh Bộ thì Chủ Tịch Boyd K.

At approximately the same time that Elder Perry was in Japan with the Marines, President Boyd K.

LDS

Ông sẽ tích lũy 103 216 trường hợp tử vong, đem lại cho bạn nhiều người bị chết trong lịch sử của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.

He will accumulate 103 216 deaths, giving you more confirmed deaths in the history of the Marine Corps.

QED

Rose học ở Đại học bang Washington một năm, rồi nhập ngũ, phục vụ trong binh chủng Hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ hai.

Rose attended Washington State University for one year prior to serving in the Navy during World War II.

WikiMatrix

Tên F-4 được đưa ra năm 1961 khi các hệ thống đặt tên của các binh chủng quân đội được thống nhất theo yêu cầu của Robert McNamara.

The F-4 designation came about in 1962 when the designation systems for all branches of the U.S. military were unified by the order of U.S. Defense Secretary Robert McNamara.

WikiMatrix

Ông là sĩ quan có hơn 45 năm kinh nghiệm và là người đầu tiên được phong hàm thiếu tướng trong binh chủng thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

He served as an officer for over 45 years and was the first Marine to reach the rank of major general.

WikiMatrix

Chương Trình “Phòng Học Tiếng Hàn Thông Minh” / 2023

Sáng 10/10, tại cơ sở Đinh Tiên Hoàng (Q1), Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG-HCM đã có buổi làm việc với đoàn đại biểu Hội đồng Nhân dân (HĐND) tỉnh Gyeonggi (Hàn Quốc) nhằm khảo sát tình hình sử dụng lớp học thông minh do tỉnh Gyeonggi trao tặng.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm với sinh viên Khoa Hàn Quốc Học. Ảnh: HỒ HIỀN

Theo ông Kim Won Ki – Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Gyeonggi, hiệu quả của lớp học thông minh trong các giờ học tiếng Hàn tại Trường ĐH KHXH&NV sẽ là cơ sở để tỉnh Gyeonggi mở rộng dự án, tặng thêm nhiều phòng học thông minh cho trường và các đơn vị khác tại Việt Nam.

TS Lê Hữu Phước- Phó Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG-HCM bày tỏ sự trân trọng đối với những hỗ trợ từ phía HĐND tỉnh Gyeonggi. Phó Hiệu trưởng cho biết Khoa Hàn Quốc học đang từng bước phát triển vững chắc, phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo kiểu mẫu đi đầu cả nước trong áp dụng công nghệ thông minh vào giảng dạy tiếng Hàn và văn hóa Hàn Quốc.

“Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự quan tâm của tỉnh Gyeonggi nhằm mở rộng mô hình phòng học tiếng Hàn thông minh tại cơ sở Linh Trung – Thủ Đức, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Hàn bằng sự hỗ trợ các trang thiết bị hiện đại” – TS Lê Hữu Phước cho biết.

Sau phần trao đổi, các đại biểu phía Hàn Quốc đã gặp gỡ sinh viên Khoa Hàn Quốc học, tham dự tiết học tại lớp học tiếng Hàn thông minh.

Ông Na Hwang Gyun (Hiệp hội Văn hóa Kinh tế Hàn Việt) giới thiệu dự án Lớp học Thông minh.Ảnh: HỒ HIỀN

Chương trình Phòng học Tiếng Hàn thông minh là dự án ODA hỗ trợ việc giảng dạy tiếng Hàn của tỉnh Gyeonggi tại nước ngoài và được triển khai tại Trường ĐH KHXH&NV từ năm học 2018-2019. Chương trình nhằm cung cấp thiết bị bảng điện tử màn hình cảm ứng tương tác trực tiếp, máy tính bảng cho người học. Chương trình giúp giảng viên và sinh viên có thể giao tiếp với nhau trước, trong và sau lớp học thông qua phần mềm quản lý lớp và máy tính bảng.

“Đột Nhập” Lớp Học Tiếng Anh Miễn Phí Của Cựu Binh Mỹ / 2023

Cựu binh Mỹ Paul George Harding trở lại Việt Nam sinh sống với mong muốn làm điều gì đó có ích cho người dân nơi đây. Và lớp tiếng Anh miễn phí của ông ra đời trên tâm nguyện đó, với 8 buổi lên lớp mỗi tuần.

Paul George Harding và các học viên tại một lớp học tiếng Anh miễn phí ở Hà Nội. Paul , sinh năm 1947, từng tham chiến tại chiến trường Bình Định – Lâm Đồng từ 1969 đến 1970. Paul nói sau khi trở về Mỹ, ông mới thấu hiểu các vấn đề kinh tế và chính trị dính líu tới cuộc chiến. Ông đã nổi giận không chỉ với chính phủ mà còn với chính bản thân ông. Sau đó, Paul tham gia vào các hoạt động phản chiến cho tới năm 1975 khi chiến tranh kết thúc.

Paul nói ông chưa từng quên những ký ức thời chiến dù nhiều năm trôi qua, vì vậy ông đã trở lại Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 12/2014 với mong muốn làm điều gì đó có ích để chuộc lỗi trong quá khứ.

Với mong muốn đó, Paul đã mở lớp học tiếng Anh miễn phí tại Hà Nội cho bất kỳ ai muốn học. Với sự trợ giúp của Ủy ban nhân dân phường Trung Hòa, lớp học của Paul giờ đây diễn ra đều đặn tại phòng họp của tổ dân phố số 9 phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hiện tại, Paul lên lớp đều đặn 8 buổi mỗi tuần, trong đó một buổi dành riêng cho trẻ em vào sáng Chủ nhật. Tất cả các buổi học đều miễn phí.

Các lớp học của thầy Paul thu hút nhiều đối tượng tham gia như sinh viên, học sinh, người đi làm và cả các cán bộ hưu trí. Bất kỳ ai có mong muốn học tiếng Anh đều có thể đăng ký tham gia lớp học.

Paul chú trọng tới phần phát âm tiếng Anh cho các học viên. Ở mỗi buổi học, Paul mang mic tới vị trí ngồi của từng học viên, nghe họ đọc và chỉnh sửa phát âm cho họ.

Các học viên được phát tài liệu học tập cho mỗi buổi học. Thầy Paul luôn khuyến khích các học viên bạo dạn trong giao tiếp, chịu khó đọc to và tích cực hoạt động theo nhóm.

Hiện có khoảng 400 học viên đang tham gia các lớp học của Paul và con số này đang không ngừng tăng lên. Một số buổi học đã quá đông nên các học viên mới được hẹn chờ sang lớp mới.

Cựu binh Mỹ cho hay ông nhận được sự hỗ trợ tích cực từ cộng đồng và các tình nguyện viên trong việc giảng dạy tiếng Anh . “Chúng tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ quý giá từ cộng đồng. Chính quyền địa phương cũng giúp đỡ tích cực như cho phép sử dụng địa điểm miễn phí. Chúng tôi còn có các sinh viên với kỹ năng tiếng Anh tốt hoạt động với vai trò là tình nguyện viên. Tất cả những thành công mà chúng tôi đạt được cho tới hôm nay đều có dấu ấn của các tình nguyện viên và giúp đỡ của cộng đồng”, Paul tâm sự.

Nguyễn Thị Huyền, một cựu sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đang hướng dẫn cho các học viên trong lớp. Huyền là một trong những tình nguyện viên hỗ trợ thầy Paul tại các lớp học tiếng Anh.

Mỗi lớp học của thầy Paul đều có từ 2-3 tình nguyện viên. Họ đảm nhiệm các công việc như sắp xếp lớp học, chuẩn bị tài liệu và phiên dịch khi cần.

Các từ tiếng Anh được thầy Paul ghi lên bảng để giúp các học viên phát âm cho đúng.

Thầy Paul lắng nghe và uốn nắn phát âm cho một nữ học viên trung niên.

Paul nói ông rất muốn mở rộng việc dạy tiếng Anh miễn phí ra các quận của Hà Nội và ông rất lạc quan về dự định này.

Tình nguyện viên và thầy Paul cung cấp địa chỉ liên lạc của lớp học tiếng Anh miễn phí để các học viên tiện trao đổi.

Paul trò chuyện vui vẻ với các tình nguyện viên và học viên trong giờ giải lao.

Paul tâm sự rằng khi trở lại Việt Nam, ông rất ấn tượng với 2 điều. Thứ nhất, ông nhận thấy người Việt Nam đã nguôi ngoai về những mất mát trong chiến tranh, có cái nhìn bao dung đối với các cựu chiến binh Mỹ như ông. Thứ hai, ông rất ấn tượng với sự năng động, sức sống của Hà Nội và sự lạc quan của dân nơi đây. Paul hi vọng sẽ góp phần thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt – Mỹ.

An Bình

​Theo Dantri

Những day dứt của các cựu binh Mỹ ngày trở lại Việt Nam

Day dứt với những hậu quả do chiến tranh gây ra, nhiều cựu chiến binh Mỹ đã quay trở lại Việt Nam và có các hoạt động nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, trợ giúp các nạn nhân bom mìn, chất độc da cam.

Một nhóm cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam đã trở lại dải đất hình chữ S trong khuôn khổ chuyến thăm do Hội Cựu chiến binh vì Hòa Bình (VFP) của Mỹ tổ chức từ 16/4-2/5, đúng dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam.

Một vài người trong số họ từng quay trở lại Việt Nam nhưng cũng có một số chưa từng trở lại. Họ có những ký ước riêng để chia sẻ, nhưng đều day dứt về những hậu quả mà cuộc chiến để lại và có chung mong muốn góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh cũng như thúc đẩy quan hệ song phương Việt-Mỹ. Họ đã đến Hà Nội trước khi thăm lại chiến trường xưa.

Suel Jones: Yêu Việt Nam ngay từ lần đầu trở lại

Cựu chiến binh Suel Jones

Ông Suel Jones từng là lính thủy đánh bộ, tham chiến tại Đông Hà, Cam Lộ, Cửa Việt, Khe Sanh, Quảng Trị năm 1968. Jones nói ông ghét phải kể lại những việc đã làm trong chiến tranh, nhưng thừa nhận nhiệm vụ của ông cầm súng giết những người ở bên kia chiến tuyến.

Jones rời Việt Nam năm 1969 và trở lại lần đầu tiên năm 1998. Ông nói đã yêu Việt Nam ngay từ lần đầu trở lại ấy nên còn tiếp tục quay lại. Năm 2000, Jones chuyển tới sống tại Hà Nội và kể từ đó tới nay ông qua lại hàng năm giữa Mỹ và Việt Nam.

“Càng sống tại đất nước các bạn, tôi càng hiểu về đất nước, con người Việt Nam, yêu thẩm thực, phố phường. Tôi nhận ra mình rất yêu Việt Nam”, cựu binh Mỹ tâm sự.

Ông nói Việt Nam đã thay đổi rất nhanh, ngoài sức tưởng tượng của ông. Trong lần trở lại này, ông đã rất ngạc nhiên với một con đường mới, to đẹp trên đường từ sân bay Nội Bài về trung tâm Hà Nội. Thời mới trở lại Việt Nam, Jones nói những con đường còn rất nhỏ và ông phải bắt xe ôm ra sân bay.

Trong nhiều năm sau chiến tranh, Jones từng không nghĩ sẽ trở lại Việt Nam. “Nhưng khi trở lại rồi, người Việt Nam đã bắt tay tôi và cho tôi tình cảm thực sự và tôi không còn cảm thấy lo lắng. Tôi đã dặn mình không nghĩ về quá khứ nữa vì khi bạn sống trong quá khứ, bạn sẽ thấy đau khổ. Bạn nên hướng về tương lai, hi vọng. Tôi học điều này từ người dân Việt Nam”.

Jones cho hay đã nhận ra rằng người Mỹ và người Việt có nhiều điểm chung. “Người Việt Nam rất yêu nước, tôi cũng yêu đất nước của tôi. Các bạn yêu gia đình và làm việc rất chăm chỉ. Tôi cũng yêu gia đình tôi và tôi cũng làm việc cần mẫn. Càng ngày tôi càng nhận ra rằng dù chúng ta sống cuộc sống khác nhau nhưng chúng ta có nhiều điểm tương đồng”.

Ông trở lại nhiều lần để trợ giúp khắc phục hậu quả chiến tranh để lại. Jones hiện là thành viên của tổ chức Cựu Chiến binh Mỹ vì Hòa bình (VFP). Tổ chức của ông hoạt độn nhiều nơi, trong đó có Quảng Trị. Họ trợ giúp rà phá bom mìn chưa nổ, giúp các nạn nhân chiến tranh xây lại nhà cửa hay phát quà cho họ. Jones nói ông cảm thấy rất vui khi làm những việc đó bởi nó phần nào khắc phục những hậu quả do chiến tranh gây ra, giúp ông cảm thấy thanh thản trong tâm hồn.

Rất may mắn là có nhiều cựu chiến binh Mỹ quay trở lại Việt Nam và làm những điều rất nhỏ như dạy tiếng Anh cho trẻ em, Jones nói. Nhóm của ông đang cố gắng vận động nhiều hơn nữa các cựu chiến binh Mỹ để tham gia vào các hoạt động có ích như vậy.

Jones tâm sự ông giờ đã cao tuổi và có thể không sống được bao lâu nữa, nhưng các bạn trẻ không phải trải qua chiến tranh. Hai nước có tình bạn với nhau thế hệ trẻ phải cùng chung tay xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.

“Tôi rất đồng ý với ý kiến của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius. Những năm 1998-99 tôi không thể tưởng tượng được Việt Nam lại thay đổi như bây giờ. Tôi nghĩ rằng câu nói của đại sứ rằng “Mọi thứ đều có thể” là hoàn toàn có thể xảy ra”, Jones nói.

Louis Andre: Tôi đã bị lừa dối khi là lính trẻ

Ông Louis Andre

Louis Andre từng là lính đặc nhiệm của Mỹ, đóng quân tại vùng núi ở tỉnh Quảng Trị. Ông rời Việt Nam tháng 2/1970, sau đó ra quân và trở thành một công dân bình thường.

Andre nói ông đã mạnh mẽ phản đối chiến tranh Việt Nam sau khi rời quân ngũ. Ông đã tuần hành để phản đối chiến tranh, tham gia cùng các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam.

Chiến tranh dần lùi xa khi Andre lập gia đình và có 3 con. Ông không trò chuyện hay gặp gỡ ai từ thời chiến tranh Việt Nam. Nhưng 5 năm trước, một cựu chiến binh cùng nhóm với ông đã đổ bệnh do chất độc da cam và muốn Adnre tìm lại các cựu chiến binh còn sống sau chiến tranh.

Sau đó, Andre đã dành thời gian để quan tâm tới hậu quả của cuộc chiến. “Cho dù kết cục có thế nào, chúng tôi cũng phải giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra… Những điều tồi tệ chúng tôi từng làm trong chiến tranh đã để lại hậu quả lâu dài. Những gì chúng tôi gây ra là những điều chúng tôi bị lừa dối khi còn trẻ và đã đến lúc mỗi cá nhân như tôi nên tham gia vào việc có thể làm điều gì đó để khắc phục các hậu quả đó”.

Trong chuyến thăm lại Việt Nam lần đầu tiên, ông Andre đã đưa người vợ Dena đi cùng. Họ cũng có kế hoạch thăm lại chiến trường cũ ở Quảng Trị.

Andre nói ông đã quyền tiền cho việc rà phá bom mìn tại Quảng Trị và đang kêu gọi các chiến binh khác, cũng như những người không phải cựu chiến binh, hỗ trợ cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh.

“Tôi sẽ tiếp tục quyên góp thêm tiền cho Dự án Renew tại Quảng Trị để giúp đỡ rà phá bom mìn và nạn nhân chất độc da cam. Tôi sẽ khuyến khích các cựu binh khác tham giao vào những việc mà tôi đang làm”.

Trong vài thập niên, Mỹ đã từ chối thừa nhận hậu quả đối với những người Mỹ bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Nhưng Andre nói ông đã nhìn thấy sự đổi và hi vọng điều đó sẽ tiếp tục.

Andre nói hiện nay vẫn có một số người nghĩ rằng khó có thể cải thiện quan hệ với Việt Nam nhưng ông khẳng định số đó rất ít.

“Giờ đây có nhiều hoạt động của Mỹ tại Việt Nam, các hoạt động đầu tư, du lịch. Tôi mong trong tương lai sẽ có nhiều hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Mỹ”.

Frank Campbell: Chiến tranh không bao giờ là câu trả lời cho bất kỳ vấn đề gì

Cựu chiến binh Frank Campbell

Cựu chiến binh Frank Campell kể rằng khi tham chiến tại Việt Nam, ông là thuyền trưởng trên tàu hải quân Mỹ đóng ở Biển Đông. Vì vậy, ông không tiếp xúc với người dân Việt Nam khi đó và ông cũng chưa bao giờ nghĩ Việt Nam là kẻ thù. Nhưng ký ức chiến tranh trong ông là những hậu quả do bom mìn gây ra, các hố sâu để lại sau các vụ ném bom của máy bay B-52.

“Sau khi trở về nước, tôi đã vận động mọi người từng tham gia cuộc chiến nói lên tiếng nói của mình để phản đối chiến tranh nói chung. Tôi cho rằng chiến tranh không bao giờ là câu trả lời cho bất kỳ vấn đề gì, không có kẻ thắng người thua trong chiến tranh”.

Đây là lần đầu tiên Campbell trở lại Việt nam từ năm 1974. “Tôi rất xúc động và ngạc nhiên trước sự thay đổi của Việt Nam. Sân bay hiện đại, mọi thứ rất hiện đại, rất nhiều hoạt động đang diễn ra ở ngoài kia Đó là những điều mà tôi chưa từng nghĩ đến khi tôi ở đây trong chiến tranh”.

Campbell cũng thừa nhận rằng dù chiến tranh đã qua lâu rồi nhưng hậu quả vẫn còn rất nhiều, như trong vấn đề chất độc da cam. Ông nói không chỉ người Việt Nam mà người Mỹ cũng phải chịu đựng hậu quả của chiến tranh.

Nói về quan hệ 2 nước, Campbell cho biết ông nghĩ mọi việc đang đi đúng hướng và còn nhiều điều để 2 nước có thể thực hiện cùng nhau nhằm thúc đẩy quan hệ, hàn gắn chiến tranh như các chương trình hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, các chương trình trao đổi hơn nữa sinh viên giữa hai nước…

An Bình

​Theo Dantri

Cựu binh Mỹ tìm thấy bình yên tại Việt Nam sau 40 năm Trở lại Việt Nam sau nhiều năm, tôi đã không thể nhận ra đất nước với những thay đổi lớn lao tại đất nước này… Mọi người chào đón chúng tôi với vòng tay rộng mở và những nụ cười ấm áp, dù tôi và họ từng ở…