Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) Doi Moi Pp Day Hoc Tieng Viet 09 2010 Doc

--- Bài mới hơn ---

  • Mẹo Học Tốt Tiếng Việt Lớp 5 Hay Nhất
  • Sgk Tiếng Việt Lớp 1: Dạy Học Sinh Tính Lừa Lọc, Mưu Mẹo, Cách Trốn Việc…?
  • Chương Trình Mới: Lớp 1 Sẽ Học Thế Nào?
  • Đề Thi Học Kì 1 Môn Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục Năm Học 2022
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 5 Môn Tiếng Việt Năm 2022 Tải Nhiều
  • XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

    DẠY HỌC TIỀNG VIỆT LỚP 5

    Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã tiến hà nh cải cách đổi mới phương pháp dạy học ” Lấy học sinh làm trung tâm” “Thầy thiết kế, trò chủ đạo”. Vì vậy việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng rất quan trọng.

    1. Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt cần chú ý một số điểm cơ bản sau đây

    – Dạy Tiếng Việt thông q ua hoạt động giao tiếp.

    – Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy Tiếng Việt , kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hóa và dạy văn .

    – Tích cực hóa hoạt động học tập , tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của HS.

    – Nội dung môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS với trọng tâm là các kỹ năng đọc , viết , nghe , nói , trong đó tập trung vào kỹ năng đọc và viết .

    – T hời lượng dạy học : Mỗi tiết học trung bình 35 phút

    – Xây dựng thời khóa biểu khoa học , hợp lý .

    – Giáo viên biết cụ thể hóa được kế hoạch giảng dạy cho mình ở từng phân môn Tiếng Việt , từng lớp học mà mình phụ trách

    * Để dạy học môn Tiếng Việt có hiệu quả , cần sử dụng những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS .

    -Nội dung và phương pháp dạy học có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Mỗi một nội dung đòi hỏi một phương p h áp thích hợp. Không thể đổi mới nội dung mà không thể đổi mới phương pháp hay ngược lại. Môn Tiếng Việt có đặc thù là môn dạy kĩ năng càng cần đổi mới cách dạy cách học thụ động hơn bao giờ hết.

    * Đổi mới PPDH thực chất là sự thay đổi về cách dạy và cách học:

    – Dạy Tiếng Việt không phải chỉ để giúp HS tiếp nhận kiến thức một cách đơn thuần mà thông qua đó còn giúp cho HS thay đổi cả cách nghĩ , cách làm , cách sống . Đặc biệt chú ý vận dụng tốt các tình huống gi ao tiếp , dạy học qua giao tiếp. – Đ ổi mới PPDH là phải đổi mới cách dạy, cách truyền đạt hệ thống kiến thức cho học sinh. Đổi mới PPDH, thêm vào đó là ứng dụng CNTT trong dạy học, sẽ là cách hiệu quả nhất để giúp học sinh nắm bắt kiến thức của bài học.

    – GV vẫn đóng vai trò quan trọng không gì thay thế . Song GV phải biết hướng dẫn HS hoạt động , người học phải là chủ thể của hoạt động .

    2. Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ yếu :

    + Phương pháp :

    Các phương pháp đặc trưng của môn học là : PP thực hành giao tiếp , PP đóng vai , PP rèn luyện theo mẫu , PP phân tích ngôn ngữ . Các phươ ng pháp có tình huố ng và giải quyết tình huống ; sử dụng trò chơi ; thuyết minh ; vấn đáp ; sử dụng phương tiện trực quan . vẫn cần được sử dụng trong dạy Tiếng Việt .

    + Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ( trong lớp , ngoài lớp ):

    – Hướng dẫn HS làm việc độc lập.

    – Làm việc theo nhóm .

    – Làm việc theo lớp.

    3. Các bước tiến hành đổi mới phươ ng pháp dạy học môn Tiếng Việt

    – Lớp 5 : Luyện đọc – Hiểu và cảm thụ bài văn ( thơ) ; rèn đọc lưu loát , diễn cảm .

    – Các giờ tập đọc ( hoặc tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng ) có kết hợp dạy từ ngữ , ngữ pháp , bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung , nghệ thuật bài văn nhằm nâng cao trình độ đọc và cảm thụ văn học cho HS .

    * CHÍNH TẢ

    – Kết hợp chặt chẽ với rèn cách phát âm , hiểu nghĩa của từ nhằm khắc phục lỗi chính tả ở các vùng phương ngữ .

    – Chú ý đến yêu cầu cung cấp tri thức ( quy tắc chính tả, quy định về cách trình bày văn bản .), đồng thời chú trọng yêu cầu luyện tập thực hành ( viết chính tả , làm bài tập , sửa l ỗi viết chưa đúng ).

    * LUYỆN VIẾT CHỮ ĐẸP

    – Rèn kỹ năng viết chữ là chủ yếu . Phần lớn thời gian dành cho HS tập viết

    ( không giảng giải nhiều về lý thuyết ).

    – GV phải là gương sáng , mẫu mực về chữ viết , cách trình bày và luôn chú ý rèn nền nếp “V ở sạch – Chữ đẹp” cho HS.

    *LUYỆN TỪ VÀ CÂU

    -Lớp 5, cần khắc sâu những tri thức sơ giản về từ ngữ nhằm phục vụ cho yêu cầu hệ thống hóa và thực hành từ ngữ tốt .

    – Đặc biệt coi trọng phương pháp thực hành luyện tập , kích thích HS suy nghĩ , mở rộng vốn từ , tập sử dụng từ ngữ trong hoạt động nói , viết.

    Vận dụng linh hoạt các phương pháp: vấn đáp, gợi mở ( dẫn dắt HS tìm tòi, phát hiện, so sánh, liên tưởng .nhằm mở rộng vốn từ và dùng từ có hiệu quả ); sử dụng trực quan ( vật thật, tranh ảnh – mô hình, cử chỉ hay động tác , lời nói ) ; tổ chức trò chơi vui học ( tìm từ , điền từ , chọn lựa từ ) .

    -Rèn cho học sinh kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ và diễn đạt …Hình thành nề nếp, thói quen tốt cho việc viết bài văn( quan sát, nhớ lại tưởng tượng , sắp xếp ý, trình bày bài nói, bài viết mạch lạc.

    Tổ chức dạy học theo hướng hoạt động, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

    -Đ ổi mới phương pháp dạy – học trên cơ sở đảm bảo Chuẩn kiến thức và kỹ năng các môn học, vận dụng linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức phù hợp với trình độ và khả năng nh ận thức của học sinh. G iáo viên chủ động xây dựng kế hoạch giảng dạy bám sát yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng bài.

    – Kế hoạch dạy – học phải thể hiện rõ những hoạt động của giáo viên và học sinh. Kết hợp hài hoà các hình thức và phương pháp tổ chức dạy học sao cho giờ học trên lớp nhẹ nhàng và có hiệu quả cao, tuyệt đối không dạy quá tải, giảm yêu cầu học thuộc lòng, nhớ máy móc nhiều sự kiện, số liệu, câu văn, bài văn mẫu; coi trọng thực hành vận dụng, khuyến khích khả năng sáng tạo của học sinh. G iáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kỹ năng ghi vở và khả năng tự học. X ây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng để giáo viên tham khảo, học sinh luyện tập và vận dụng sáng tạo các nội dung đã học.

    Quan trọng cuối cùng vẫn là cách thức xâ y dựng một tiến trình giảng dạy thật hợp lý, thì mới mong đạt hiệu quả cao, và mới là đổi mới trong cách thức giảng dạy – học tập hiện nay.

    Giáo viên xây dựng kế hoạch

    Lê Thị Thanh Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đánh Giá Kiểm Tra Kết Quả Học Tập Sách Tiếng Việt Lớp 1 Mới
  • Top 10 Phần Mềm Học Tiếng Anh Lớp 1 Miễn Phí Dành Cho Bé
  • Hướng Dẫn Cách Học Và Soạn Bài Tiếng Việt Lớp 4
  • Soạn Bài Tập Sgk Tiếng Việt 4
  • Phiếu Ôn Tập Cuối Tuần Môn Tiếng Việt Lớp 1 (Bộ Sách Chân Trời Sáng Tạo)
  • Giáo An Day Them Tieng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Tiếng Anh 7 Thí Điểm
  • Bồi Dưỡng Tiếng Anh Lớp 7, Tài Liệu Dạy Kèm Tiếng Anh Lớp 7
  • Gia Sư Dạy Toán Bằng Tiếng Anh Lớp 7
  • Gia Sư Lớp 7 Tại Nhà (Học Phí Gia Sư Toán, Văn, Tiếng Anh Lớp 7)
  • Gia Sư Lớp 7, Giáo Viên Dạy Kèm Toán Lý Tiếng Anh Lớp 7 Tại Tphcm
  • SEPTEMBER

    Teaching date:

    REVISION- Unit 1: Back to school (buổi 1)

    I-Objectives:

    -Help students understand the use of indefinite quantifier ” much , many , a lot of , lots of “

    – Introduce names and addresses

    II-Teaching aids:

    – Teaching plan, workbook ,chalk ,miniboard , pictures

    Teacher – students’ activities

    Contents

    – help students understand how to use indefinite quantifiers

    – guide sts to do this exercise

    – go round to control the whole class.

    – check and help the weak students to do

    – correct the mistakes then write them in notebooks

    – How to ask and answer about names and addresses.

    – guide sts to write them in notebooks.

    – How to arrange these sentences into correct sentences /

    – guide sts to arrange

    – Write them in the notebooks

    -How to make questions with ” how far “

    -guide sts to write them on the board.

    – Check and correct the mistakes.

    EXERCISE I

    Hoàn thành các câu sau với “much, many, a lot of và lots of”.

    1. My father never drinks ……………coffee for breakfast.

    2. I don’t chúng tôi to read.

    3. Her new school has……………students.

    4. There are………orange juice in the jar.

    5. This hotel doesn’t have………rooms.

    6. He has ……….money in his pocket.

    7. There are too…….pictures on the wall.

    8. She drinks…………..tea.

    9. Nga has………….. friends.

    10. I don’t have chúng tôi time now.

    11. My new class doesn’t have…….boys.

    12. Do you have……….English book?

    13. She doesn’t chúng tôi time.

    14. You should drink chúng tôi every day.

    15. How………….pencils do you buy?

    16. I want to buy a new house but I don’t have……………money.

    17. There aren’t…. students in my class.

    18. Does your school library have…….books?

    19. I often go to bed early. Today, I must stay up late because I have too………homework to do.

    EXERCISE II

    Giới thiệu tên và quê quán :

    EX: Her name is chúng tôi is from Hanoi.

    1.Tuan/ Hue ………………………..

    2.Mai/ Nha trang ……………………..

    3.Michele/Paris ……………………….

    4.Susan/Newyork . …………………….

    5.Phong/HCM city ……………………

    6.Yoko/Tokyo ………………………..

    EXERCISE III

    Sắp xếp các từ thành câu hoàn chỉnh

    1. see/ you/ again/ nice/ to

    2. our/ classmate/ is/ this/ new

    3. have/ any/ doesn’t/ in/ she/ friends/ Ha Noi

    4. new/ has/ students/ her school/ a lot of

    5. with/ her/ lives/ Hoa / in/ uncle/ and aunt/ Ha Noi

    EXERCISE IV

    Đặt câu hỏi với how far và trả lời theo gợi ý:

    1.school/her house //100 meters

    2.post office/movie theater/ 2 kilometers

    3.your house /Ben thanh market/5kms

    4.bookstore/restaurant/ 500ms

    5.Lan’s house /zoo// 3 kilometers

    6.your school/library/1 kilometer

    EXERCISE V:

    Điền vào ô trống với các từ để hỏi what ,where ,when why,who,how,how far:

    1………is your family name ?it’s Nguyen.

    2………old are you ? I’m 13

    3. chúng tôi you live? On nguyen trai street.

    4……… do you live with? My parents.

    5…….. is it from your house to school ?About 3 kms.

    6. ……. Do you go to school? By bus

    7. chúng tôi you go to school ? at 6.30

    8……. Are you late ? because I miss the bus.

    EXERCISE VI:

    Viết dạng đúng của động từ trong ngoặc:

    1.Hoa……..(have) a lot of friends in Hue.

    2.Nam and Trang always …….(visit) their grandparents on Sundays.

    3.My father……..(listen) to the radio everyday.

    4.The children ……(like)to play in the park.

    5.she ….. ( not live) with her parents.

    6.Lan …….(brush) her teeth after meals.

    7.The students ……..(not go) to school on Sundays.

    8.Nga ……..( talk) to her friends now.

    Teaching date:

    REVISION-Unit 2: Personal information (

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Tiếng Anh Lớp 5 Sách Mới Cả Năm (Full 20 Unit)
  • Học Trực Tuyến Lớp 5
  • Lịch Dạy Học Trên Truyền Hình Của Các Tỉnh Thành
  • Tiểu Luận Lý Luận Dạy Học
  • Lý Luận Dạy Học Hiện Đại
  • Dich Tieng Malaysia Sang Tieng Viet, Dịch Tiếng Malaysia Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Hiệu Đại Học Trung Quốc Tại Malaysia: Những Điều Chỉnh Căn Bản – Tạp Chí Giáo Dục International Higher Education
  • Nên Học Anh Anh Hay Anh Mỹ Khi Luyện Phát Âm Tiếng Anh?
  • 50 Câu Giao Tiếp Tiếng Anh Hàng Ngày Chủ Đề Thông Dụng
  • Hướng Dẫn Học Phương Pháp Pimsleur 2022
  • Tư Vấn Visa Du Học, Du Lịch, Định Cư
  • DỊCH Tiếng Malaysia TOÀN QUỐC

    Hệ Thống 98 Văn Phòng Dịch Tiếng Malaysia Toàn Quốc

    Đt: 0966 779 888 / Email: [email protected]

    10.000 Biên dịch Tiếng Malaysia. Sáng 8-12h chiều 1h30-5h30 (T2-T7)

    98 VP DỊCH THUẬT A2Z CÓ MẶT TRÊN 63 TỈNH THÀNH

    GỬI YÊU CẦU DỊCH

    Có công chứng

    Số trang

    Ngày nhận tài liệu

    Điện thoại

    (Yêu cầu sđt chính xác!)

    Công ty dịch thuật A2Z là Công ty cung cấp dịch vụ dịch từ tiếng Malaysia  sang tiếng việt chuyên nghiệp cho các công ty và cá nhân với cam kết chất lượng, thời gian và chi phí cạnh tranh nhất.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Thuật Công Chứng Tiếng Malaysia Tại Tphcm Chuyên Nghiệp
  • Niềm Tự Hào Của Người Mường
  • Người Con Dân Tộc Mường Say Mê Khảo Cứu, Sưu Tầm, Bảo Tồn Và Phát Triển Văn Hóa Dân Gian Mường
  • Học Tiếng Mèo Kêu (New Version)
  • Hướng Dẫn Cách Soạn Nhạc Chuông 1202, Soạn Nhạc 1280
  • Day Tieng Anh Cho Be 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Từ 0 Đến 12 Tuổi
  • Dạy Học Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi Qua Tô Màu
  • Dạy Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi Theo Phương Pháp Talk Max Tại Anh Ngữ Quốc Tế Cali
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi Qua Tô Màu
  • Dạy Gì Cho Bé 4 Tuổi? Trẻ 4 Tuổi Cần Học Những Gì?
  • Dạy tiếng Anh cho bé 2- 3 tuổi là cách thức giúp trẻ nghe nói tiếng Anh bản ngữ chuẩn ngay từ bé, điều này sẽ giúp trẻ học tiếng Anh thuận lợi hơn trong những giai đoạn tiếp theo. Nhưng cha mẹ phải dạy tiếng Anh cho trẻ mầm mon như thế nào khi trẻ chỉ mới 2- 3 tuổi, để trẻ yêu thích tiếng Anh, từ đó đạt được hiệu quả dạy và học tốt hơn?

    Theo Vietnamnet, việc dạy con Tiếng Anh không nên là một giáo trình cứng nhắc, bố mẹ càng không nên tự tạo áp lực cho mình và cho bé khi mỗi ngày phải hoàn thành khối lượng kiến thức nhất định.

    Đặc điểm tâm lý trẻ 2- 3 tuổi (lứa tuổi mầm non)

    Phương pháp dạy tiếng Anh cho bé 2- 3 tuổi

    Giai đoạn 2- 3 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển mạnh mẽ về các mặt tư duy, sáng tạo, vận động, ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội. Trong năm thứ hai, vốn từ vựng của trẻ phát triển và bé sẽ bắt đầu ghép hai từ lại thành hai câu ngắn. Trẻ sẽ hiểu nhiều về những gì bạn nói với và bạn có thể hiểu những gì trẻ nói với bạn

    Sự phát triển ngôn ngữ rất khác nhau, nhưng nếu bé không có từ nào khoảng 18 tháng, hãy nói chuyện với bác sĩ gia đình hoặc y tá gia đình và trẻ em hoặc một chuyên viên y tế khác.

    Khả năng nhận thức và học hỏi của trẻ từ 2 đến 3 tuổi rất cao và mang tính tổng quát. Trẻ đặc biệt nhanh nhạy trong việc quan sát và bắt chước lời nói, hành vi, thái độ của những người xung quanh. Lúc này, những điều trẻ học được từ người lớn chính là những hiểu biết ban đầu và là nền tảng cơ bản để trẻ hiểu về thế giới xung quanh. Chính vì vậy, cha mẹ, thầy cô nên cân nhắc hành vi, lời nói và tình cảm của mình để làm gương cho trẻ

    Không những thế, trong giai đoạn này, trẻ tỏ ra rất tò mò về các sự vật xung quanh, trẻ thể hiện điều này bằng rất nhiều câu hỏi khác nhau. Trẻ bắt đầu khám phá mọi việc qua các trò chơi. Với những trò chơi này, trẻ bắt đầu hiểu được thế nào là kích thước, hình dạng, âm thành và sự vận động của các sự vật.

    Điều quan trọng nhất là phụ huynh phải nhiệt tình và phụ huynh luôn cần tạo cho con sự động viên, khen ngợi để tạo động lực cho bé

    Theo đơn vị Heathy WA, Australia, ngôn ngữ của trẻ trong độ tuổi 2 đến 3 phát triển rất nhanh chóng, trẻ hiểu rõ lời người lớn nói và cũng có thể nhanh nhẹn làm theo các hiệu lệnh. Trẻ thích tập nói những câu dài và đặc biệt thích giao tiếp với bạn bè, người lớn.

    Cách dạy tiếng Anh cho trẻ em giai đoạn 2 đến 3 tuổi

    Từ những đặc điểm tâm lý trẻ đã nêu trên, có thể khẳng định rằng, việc dạy trẻ ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng trong giai đoạn này sẽ mang lại hiệu quả đặc biệt tốt. Tuy nhiên, hiệu quả tốt đến đâu còn phụ thuộc vào cách dạy trẻ học tiếng anh mà cha mẹ và thầy cô dạy trẻ.

    lớp học tiếng anh cho trẻ em 2 – 3 tuổi

    Điều quan trọng khi dạy tiếng Anh cho bé là hướng tới sở thích, sự hứng thú, thu hút trẻ học bằng các hình ảnh, âm thanh thú vị, vui nhộn,… thay vì bắt ép và quá quan trọng thành tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Mẹ 5 Phần Mềm Học Tiếng Anh Cho Bé 2
  • Dạy Tiếng Anh Cho Bé 2 Tuổi Qua Các Bài Hát Vui Nhộn
  • Thầy Giáo 9X Dạy Tiếng Anh Bằng Nhạc Chế
  • Thầy Giáo Dạy Tiếng Anh Bằng Nhạc Chế Và Thơ
  • Thầy Giáo Bá Đạo Dạy 12 Thì Tiếng Anh Qua Bài Hát “duyên Phận”
  • Dich Tieng Campuchia Sang Tieng Viet, Dịch Tiếng Campuchia

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Tiếng Việt Sang Tiếng Campuchia Trong Corel
  • Khóa Học Tiếng Anh Tại Canada
  • Du Học Tiếng Anh Tại Canada Nên Hay Không Nên?
  • Du Học Tiếng Anh Tại Canada
  • Du Học Tiếng Anh Tại Canada Trường Nào Tốt?
  • Về chúng tôi

    Là một trong những công ty dịch thuật, phiên dịch chuyên nghiệp hàng đầu tại VN. Với khả năng dịch trên 64 thứ tiếng chúng tôi luôn tự tin dịch cho quý khách với độ chính xác cao trong khoảng thời gian nhanh nhất. Trong lĩnh vực dịch thuật với đội ngũ dịch giả viên đông đảo và nhiều kinh nghiệm trong nghề luôn đem đến dịch vụ tốt nhất làm vừa lòng những khách hàng khó tính nhất. Công ty có đội ngũ 500 cán bộ có trình độ đại học trở lên, có chuyên môn sâu về chuyên ngành, bao gồm toàn thể nhân viên và cộng tác viên là giáo sư, tiến sỹ, giảng viên các trường đại học và cộng tác viên làm việc tại các Đại sứ quán, Bộ ngoại giao, Viện nghiên cứu, các chuyên gia nước ngoài có năng lực, có chuyên môn, đầy nhiệt huyết và luôn mong muốn thực hiện công việc với lòng yêu nghề, chất lượng và hiệu quả cao nhất. Hệ thống thông tin liên lạc được thiết lập bằng nền tảng công nghệ hiện đại đáp ứng nhanh nhất mọi yêu cầu của khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Chúng tôi nhận dịch thuật, Phiên dịch, dịch công chứng… trên 36 ngôn ngữ. Từ các ngôn ngữ thông dụng như Tiếng Anh, Pháp, Nhật, Nga, Trung, Đức, Hàn, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…đến các ngôn ngữ ít sử dụng tại Việt Nam như Arập, Ba Lan, Phần Lan, Thái Lan, Hà Lan, Hungari, Rumani, Ucraina, Séc, Slovakia, La Tinh, Thuỵ Điển, My-an-mar, Đan Mạch, Lào, Campuchia, Khơ-me, Inđônêxia, Malayxia, Brunei, Iran,… Chúng tôi hoạt động dựa trên nền tảng đạo đức nghề nghiệp, sự hài lòng của khách hàng là mục tiêu mà tất cả những ai làm việc tại dịch thuật A2Z luôn hướng tới, với tinh thần và trách nhiệm cao trong công việc chúng tôi cam kết với khách hàng cho ra đời những tác phẩm dịch thuật chất lượng nhất với giá cả cạnh tranh nhất. ♦ Đội ngũ biên phiên dịch A2Z chuyên nghiệp ♦ Quy trình đảm bảo chất lượng dịch thuật ♦ Hoàn thành đúng thời hạn ♦ Giá dịch cạnh tranh ♦ Dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Tiếng Campuchia Sang Tiếng Việt
  • Dịch Tiếng Campuchia Sang Tiếng Việt Công Chứng Trong 1 Ngày
  • Tiếng Chăm Của Bạn: Lời Nói Đầu Của Cuốn Tự Học Tiếng Chăm
  • Aries Koh: Lớp Học Tiếng Chăm Và Cách Học Tiếng Chăm
  • Làm Thế Nào Để Nói Tiếng Chăm?
  • Download Bao Cao Tot Nghiep: Doi Moi Phuong Phap Day Va Hoc Tieng Anh Cho Hoc Sinh Lop 3 Cap Tieu Hoc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Tiếng Anh Cho Bé Lớp 3
  • Đề Thi Học Kì 2 Lớp 3 Môn Tiếng Anh Năm 2014
  • Giáo Án Tiếng Anh Lớp 3 Chương Trình Mới Học Kì 2
  • Đề Kiểm Tra Cuối Học Kỳ 2 Môn Tiếng Anh Lớp 3 Dành Cho Bé
  • Đề Thi Tiếng Anh Lớp 3 Giữa Học Kỳ 2 Kèm Lời Giải Cho Bé
  • Báo cáo tốt nghiệp

    “Đổi mới phương pháp dạy và học tiếng Anh cho học sinh lớp 3 cấp tiểu học”

    ĐỀ CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Đổi mới phương pháp dạy và học tiếng Anh cho học sinh lớp 3 cấp Tiểu học

    Trong đó, căn bản nhất là việc dạy và học ngoại ngữ ở các cấp học và trình độ đào tạo chưa có định hướng mục tiêu cụ thể về năng lực ngoại ngữ, thiếu tính liên tục và liên thông. Nhận thức của cơ quan chỉ đạo, quản lý việc dạy và học ngoại ngữ còn hạn chế, đều cho rằng là môn có – thì phải học. Hai lần trình bày đề án trước chính phủ, phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đều nhấn mạnh tới việc thay đổi tư duy, nhận thức về vai trò, vị trí của việc dạy và học ngoại ngữ.

    Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng Tiếng Anh lớp 3 nhằm phát triển thói quen tư duy của học sinh. Đề tài nhằm:

    phát triển thói quen tư duy của học sinh.

    sinh nắm bắt và vận dụng bài học vào thực tế.

    và phát triển thói quen tư duy của học sinh.

    tiểu học trong phạm vi nghiên cứu.

    – Một giờ học và một giờ sinh hoạt bộ môn tiếng Anh của một lớp 3 tại 2 trường.

    vấn đề nghiên cứu.

    Các câu hỏi đặt ra:

    Thiết kế bài giảng Tiếng Anh 3 nhằm phát triển thói quen tư duy của học sinh nếu được xây dựng và giảng dạy sẽ đáp ứng nhu cầu của người học và nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường Tiểu học.

    Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây:

    Quan sát giáo viên và học sinh trường Tiểu Học Cẩm Sơn 2trong quá trình dạy và học tích cực qua một số bài giảng thử nghiệm.

    – Chọn mẫu để điều tra học sinh và thực hiện việc điều tra đến học sinh và giáo viên.

    -Thiết kế và dạy thử nghiệm một số bài giảng.

    Đề tài có ba điểm mới:

    Về giá trị thực tiễn, sau khi đề tài hoàn tất sản phẩm của đề tài là cách thiết kế và các bài giảng nhằm phát triển thói quen tư duy của học sinh.

    môn học khác nhằm phát triển thói quen tư duy của học sinh.

    Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 3 phần chính như sau:

    B/ Nội dung nghiên cứu:

    2.1 Vài nét về tình hình trường lớp và học sinh tiểu học trên địa bàn nghiên cứu.

    C/ Kết luận và khuyến nghị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 9
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 3 Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Lưu Ý Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 3,4,5 Năm Học 2022
  • Những Bài Hát Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Tổng Hợp Bài Tập Tiếng Anh Lớp 3 Cho Bé Ôn Luyện Tại Nhà
  • Dạy Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tọc Day Tang Cuong Tieng Viet Cho Hoc Sinh Dan Toc Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Nhân Văn Trong Bộ Sách Dạy Và Học Chữ Nôm Dao. Bàn Xuân Triều
  • Thầy Giáo Dạy Tiếng Anh Qua Các Ca Khúc Bolero
  • Độc Đáo Dạy Tiếng Anh Kiểu… Bá Đạo Với Bolero!
  • “ngã Ngửa” Trước Màn Dạy Tiếng Anh “siêu Bựa” Của “cô Giáo Khánh”
  • Thầy Giáo Bá Đạo Dạy 12 Thì Tiếng Anh Qua Ca Khúc ‘duyên Phận’
  • DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC

    Xã Sơn Thành Tây nằm ở phía tây huyện Tây Hòa, Đông giáp xã Sơn Thành Đông, Tây giáp huyện Sông Hinh, Nam giáp núi Hòn Nhọn, Bắc giáp sông Ba, cách trung tâm huyện Tây Hòa gần 20 km. Xã Sơn Thành Tây vừa được tách ra từ xã Sơn Thành vào năm 2005, xã gồm 7 thôn trong đó có 01 trường cấp 2-3 Sơn Thành, 01 trường Tiểu học, 01 trường Mẫu giáo nằm rải rác ở các thôn trong xã.

    Trường Tiểu học Sơn Thành Tây nằm xa Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tây Hòa, là điểm trường cuối cùng của huyện. Trường gồm có 4 điểm học cách xa nhau, trong đó điểm học Lạc Đạo thuộc vùng kinh tế mới nên đời sống nhân dân luôn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó học sinh tại điểm trường này đa số là người dân tộc thiểu số và phần lớn các em chưa được qua lớp mẫu giáo nên phần nào đã ảnh hưởng nhiều đến công tác giảng dạy của giáo viên và việc học tập của các em.

    Phần lớn các em đầu năm học chưa ra lớp, cho đến tuần học thứ tư mới chịu ra học mặc dầu nhà trường luôn vận động để đưa các em đến trường .

    Qua quá trình công tác có những thuận lợi và khó khăn như sau:

    – Về cơ sở vật chất: Phòng học, bàn ghế đầy đủ cho mỗi lớp học một buổi trên ngày, môi trường trong lành sạch sẽ.

    – Các thế hệ học sinh đều ngoan, kính trọng thầy cô giáo.

    – Được sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể trong xã. Được sự quan tâm giúp đỡ của Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Tây Hòa đã góp ý xây dựng phương pháp giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số .

    – Đây là điểm trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu số khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Ba Na, Ê Đê, Hờ Roi nên từ tiếng nói, tập quán, sinh hoạt, nhận thức hiểu biết về pháp luật của từng dân tộc cũng khác nhau.

    – Nhà trường chỉ có 01 giáo viên là người dân tộc, còn lại tất cả là người kinh nên luôn có những mặt hạn chế nhất định không thể biết hết tất cả các tiếng nói của các dân tộc khác nhau do đó khó có thể giảng dạy các em, vì không thể dịch cho học sinh hiểu được khi cần thiết.

    – Đội ngũ giáo viên được đào tạo không đồng đều, đủ trình độ có giáo viên còn chưa đạt chuẩn.

    – Đa số các em học sinh dân tộc đến trường cơ bản chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ và phát triển nhận thức bằng tiếng mẹ đẻ chứ không phải bằng tiếng Việt, vốn tiếng Việt của các em rất ít hoặc không có gì, nếu có một chút tiếng Việt lại chưa chuẩn nhất là trong cách phát âm.

    – Hầu như học sinh dân tộc ít có các cuộc giao tiếp bằng tiếng Việt như học sinh người kinh do đó rất khó khăn cho học sinh dân tộc khi học tập, đó cũng chính là các nguyên nhân khiến học sinh dân tộc e sợ, nhút nhát trong học tập.

    – Đồ dùng, dụng cụ học tập của các em không đầy đủ.

    – Đa số phụ huynh học sinh ít biết chữ viết tiếng Việt, không thông thạo tiếng phổ thông nên việc học tập của các em đều khoán trắng cho nhà trường và giáo viên giảng dạy.

    – Là địa bàn thuộc dân di cư tự do trước đây nên nhiều hộ dân thường có mối quan hệ gia đình thân thích trong họ tộc và theo từng dân tộc riêng của họ.

    Với thực tế khó khăn và thuận lợi như trên, nhà trường luôn xác định cho đội ngũ giáo viên trong đơn vị phải vượt qua bằng chính sự cố gắng của mình. Với tấm lòng yêu nghề, mến trẻ, bản thân luôn khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của từng năm học và đạt kết quả cao.

    II/ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC;

    1/ Sự phát triển về qui mô học sinh:

    – Huy động số trẻ ra lớp đúng độ tuổi 100%

    – Năm học 2009 – 2010 số học sinh DT là 43 em. Nữ 26 em .

    – Năm học 2010 – 2011 số học sinh DT là 46 em. Nữ 27 em .

    – Không có học sinh bỏ học so với năm học trước

    2/ Thực trạng của học sinh dân tộc thiểu số:

    Khi đến trường học sinh người kinh đã có vốn tiếng Việt đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh, ngoài ra các em có nhiều thời gian và cơ hội sử dụng tiếng Việt liên tục với nhiều người và nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống ngoài nhà trường. Còn học sinh dân tộc thì lại khác trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững tiếng mẹ đẻ và phát triển nhận thức bằng tiếng mẹ đẻ chứ không phải bằng tiếng Việt. Vốn tiếng Việt của các em rất ít hoặc không có gì, khi được đến trường các em mới bắt đầu học tiếng Việt và các em phải học tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm của tiếng mẹ đẻ.

    Ở điểm trường Lạc Đạo năm nào cũng vậy khó khăn thì nhiều, thuận lợi thì ít. Vì số học sinh dân tộc khác nhau ngày càng nhiều do đó giáo viên càng khó khăn hơn trong công tác giảng dạy, khó khăn nhất là đối với học sinh dân tộc Ba Na và Ê – Đê vì gia đình ít quan tâm đến việc học tập của con em, mặc dầu đã có lớp học mẫu giáo nhưng phụ huynh không cho con họ ra học, đến khi nhập học lớp một lại ra lớp chậm so với các bạn, tuy đã được nhà trường thông báo và giáo viên đến tận xóm, tận nhà huy động học sinh ra học nhưng phụ huynh cho rằng không cần thiết: “Khi nào mua được quần áo, sách vở rồi sẽ ra học”.Đến khi ra lớp chỉ có 1 quyển vở và 1 mẫu bút chì, cho nên các em chỉ ra ngồi nghe mà không biết viết, không biết cầm bút, cầm phấn, không biết đưa tay từ đâu đến đâu …

    Đa số học sinh dân tộc nhất là dân tộc Ba Na và Ê – Đê do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và môi trường tiếp xúc của các em còn hạn chế nên hầu như các em chưa biết và hiểu được tiếng phổ thông, các em còn nhút nhát ít dám phát biểu cho nên nhiều khi giáo viên hỏi các em không chịu thưa, giáo viên chỉ bảo các em không biết làm theo.

    3/ Những biện pháp thực hiện:

    Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng GD-ĐT huyện Tây Hoà, sự chỉ đạo phân công của nhà trường trong năm học phân công giáo viên giảng dạy tại điểm trường Lạc Đạo, nhất là lớp 1, ngay từ đầu năm học đã chỉ đạo giáo viên tăng cường giảng dạy tiếng Việt cho các em học sinh nhất là những em dân tộc vào các tiết dạy, đồng thời tiến hành phụ đạo thêm cho các em nhằm bước đầu tạo cho các em làm quen với T iếng v iệt .Trong quá trình giảng dạy đã tiến hành một số biện pháp sau nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh dân tộ c .

    HỘI THẢO TĂNG THỜI LƯỢNG DẠY HỌC

    MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC

    TP Huế, ngày 02 đến 04/12/2010

    Tạo môi trường học tập cho học sinh dân tộc:

    + Tạo cảnh quan trong và ngoài lớp học: Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ nhất là học sinh lớp một, một lớp học sạch sẽ, được trang trí đẹp mắt sẽ thu hút được sự chú ý, yêu thích của học sinh.

    + Tăng cường hoạt động giao tiếp:

    Học sinh dân tộc ít có điều kiện giao tiếp tiếng phổ thông ở gia đình và ngoài xã hội, tâm lí nhút nhát, thiếu tự tin, ngại giao tiếp với người lạ, do đó giáo viên khi giảng dạy cần dạy cách giao tiếp và tăng cường các hoạt động tập thể như trò chơi, văn nghệ …

    – Tạo môi trường học tập ở gia đình:

    + Tạo góc học tập cho các em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học ở nơi thích hợp.

    + Hướng dẫn phụ huynh kiểm tra việc học của các em học sinh, nhất là tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài và làm bài đầy đủ, thỉnh thoảng quan sát việc học của con em mình, như sách vở có ngăn nắp không, gọn gàng không, có chăm chú vào việc học không, vở viết như thế nào…

    + Phối hợp với hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương vận động những người biết nói tiếng Việt có ý thức giao tiếp bằng tiếng Việt với học sinh trong sinh hoạt cộng đồng .

    Học sinh dân tộc học ở nhà trường cũng được dạy – học theo những phương pháp đặc trưng của môn học, các giáo viên dạy tiếng Việt ở nhà trường có trách nhiệm dạy theo các phương pháp bộ môn đã được qui định. Bên cạnh ấy để giúp học sinh dân tộc tiếp thu tiếng Việt một cách có hiệu quả chúng tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:

    – Giáo viên dạy học sinh dân tộc học bằng tiếng Việt nghĩa là giáo viên dùng tiếng Việt để dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc mà không cần liên hệ tiếng mẹ đẻ. Việc giải thích trong phương pháp giảng dạy được minh hoạ bằng các vật thật, hình vẽ, tranh ảnh …Người giáo viên cần phải sử dụng triệt để các dụng cụ trực quan, vật mẫu, tranh ảnh, cử chỉ, điệu bộ… khi cung cấp kiến thức cho các em, nếu cần thiết có thể cho các em ra ngoài trời, tiếp xúc với thiên nhiên, bầu trời ngoài lớp học….

    – Giáo viên tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập đảm bảo cho học sinh được nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thường xuyên, nhất là trong giai đoạn đầu lớp Một cần chú trọng luyện các kĩ năng nghe, nói.

    – Giáo viên sử dụng tiếng dân tộc của học sinh dân tộc trong quá trình giảng dạy toán cũng như các bộ môn khác là nhằm để giúp các em dân tộc tiếp nhận một ngôn ngữ mới (tiếng Việt) trên cơ sở tận dụng được vốn ngôn ngữ sẵn có của mình (tiếng dân tộc), tránh được sự căng thẳng trong nhận thức của học sinh, nhất là đối với học sinh lớp Một.

    – Về việc dạy dỗ phải nói rất khó khăn, giáo viên phải tìm hiểu hoàn cảnh từng em, từng gia đình và dùng lời nói cho phải đối với phụ huynh học sinh để tạo được sự đồng tình và giúp đỡ của họ. Bên cạnh ấy có nhiều phụ huynh không lo lắng cho con em mình mà lại nói rằng “Ối dào nó học biết được thì để nó học nếu không biết thì cho nó nghỉ chứ biết làm thế nào được”.

    – Giáo viên phải tự lo lắng dạy dỗ, nhất là học sinh lớp một các em đến lớp chưa nói được tiếng nói phổ thông, lại không được đi học mẫu giáo, bên cạnh đó ra lớp 1 lại chậm so với các bạn, nhiều học sinh không biết cầm bút, cầm phấn và đưa nét bút từ đâu.

    – Mỗi tiết dạy cần thiết nhất là đồ dùng dạy học, dụng cụ trực quan, tạo điều kiện cho các em mắt thấy tai nghe thì nhận thức mới dễ dàng đối với các em học sinh dân tộc thiểu số.

    – Ở tiểu học nhất là lớp 1, với học sinh dân tộc trò chơi giữ một vai trò rất quan trọng, nó là một phương tiện giáo dục hấp dẫn, thoải mái giúp các em phát triển được toàn diện về thể chất lẫn tinh thần. Sử dụng trò chơi trong toán học giúp cho các em được kích thích hứng thú, nâng cao tính tích cực của tư duy, góp phần làm cho tiết học trở nên sinh động, nó kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ, huy động được nhiều tri thức trong khoảng thời gian ngắn.

    Nói chung người giáo viên phải gần gũi, trò chuyện để tìm hiểu xem em đó còn yếu kém về những điểm gì, gia đình ra sao, rồi tìm cách giúp đỡ.

    Giảng dạy các bộ môn khác nhằm khai thác giảng dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc là một công việc phức tạp, do đó lựa chọn phương pháp nào là phụ thuộc vào đối tượng học sinh, mục đích bài dạy, điều kiện dạy học cụ thể… đảm bảo học sinh tiếp thu được bài học một cách tích cực, nắm kiến thức một cách chắc chắn.

    Từ những biện pháp trên được áp dụng bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm nhằm tạo điều kiện giúp đỡ các em học sinh dân tộc nhất là những em ra lớp chậm chưa biết nói tiếng phổ thông, còn nhút nhát trong học tập.

    – Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh để trao đổi và động viên cha mẹ học sinh nhắc nhở các em học tập cho có tiến bộ, nhất là tạo được việc xây dựng môi trường T iếng v iệt ở gia đình, tạo điều kiện cho các em thường xuy ên làm quen với ngôn ngữ Tiếng v iệt.

    – Cần sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với trình độ học sinh, chú ý khi sử dụng dụng cụ trực quan, mô hình để giảng dạy cần phải sử dụng đúng lúc, đúng thời điểm, tránh lạm dụng vì như vậy sẽ hạn chế khả năng phát triển tư duy của học sinh.

    – Sử dụng tiếng dân tộc để hướng dẫn các em thực hiện một số hoạt động học tập, vui chơi sau đó dần dần chuyển sang sử dụng tiếng Việt, giáo viên có thể tuỳ tình hình thực tế mức độ nhận biết tiếng Việt của lớp mình mà lựa chọn mức độ sử dụng tiếng dân tộc cho phù hợp,

    tránh sử dụng tràn lan, chỉ sử dụng trong các trường hợp cần thiết để giảng dạy mà thôi .

    Để phục vụ cho việc giảng dạy đối với các em học sinh dân tộc thiểu số được tốt hơn, tôi có một số kiến nghị lên các cấp như sau:

    – Đối với địa phương:

    Hằng năm chuẩn bị vào đầu năm học cần thông báo cho toàn dân quan tâm đến việc học tập của con em mình hơn như: Đưa con em đến trường nhập học đúng qui định, vận động phụ huynh học sinh cho các em đi học mẫu giáo đúng độ tuổi, phải mua đầy đủ đồ dùng dụng cụ học tập cho các em có điều kiện đến trường học tập. Bên cạnh đó địa phương cần tạo điều kiện hổ trợ thêm sách vở, dụng cụ học tập nhằm tạo động lực thúc đẩy các em đến trường.

    – Đối với ngành:

    + Cần có chính sách hổ trợ về tinh thần lẫn vật chất cho các giáo viên đang công tác giảng dạy tại điểm trường có học sinh dân tộc thiểu số.

    + Tạo điều kiện và tuyển biên chế giáo viên là người dân tộc giảng dạy, đồng thời tuyển người dân tộc thiểu số vào hổ trợ cùng giáo viên để cùng nhau giảng dạy cho tốt hơn.

    TH Sơn Thành Tây

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • De Thi Hoc Sinh Gioi Mon Tieng Viet Lop 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Toán, Tiếng Việt Lớp 3 Trường Tiểu Học Nghĩa Hiệp Năm 2011
  • Bộ Đề Thi Học Sinh Giỏi Toán Lớp 3 Có Đáp Án
  • Tổng Hợp 2 Đề Thi Học Kì 1 Toán Và Tiếng Việt Lớp 3 Có Đáp Án
  • Đề Kiểm Tra Toán Và Tiếng Việt Lớp 3 Theo Tháng
  • Bản Mềm: Bài Tập Môn Toán Và Tiếng Việt Lớp 3
  • Published on

    1. 1. CỤM CHUYÊN MÔN CÁT NGẠN II ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI TRƯỜNG NĂM HỌC 2012-2013 GIỎI LỚP 3 MÔN TIẾNG VIỆT ( Thời gian làm bài 60 phút không kể thời gian chép đề.) Bài 1: Điền vào chỗ trống tiếng mở hay mỡ để tạo thành từ ngữ thích hợp … mang, … màng, cởi …, dầu …, … đầu, … màn, thịt …, củ khoai …. Bài 2: Tìm những từ ngữ cho biết ngỗng và vịt được nhân hóa trong bài thơ sau: Ngỗng không chịu học Khoe biết chữ rồi Vịt đưa sách ngược Ngỗng cứ tưởng xuôi Cứ giả đọc nhẩm Làm vịt phì cười Vịt khuyên một hồi – Ngỗng ơi! Học! Học! Phạm Hổ Bài 3: Cho một số từ ngữ: Ăn uống, xe lửa, cửa sổ, mùa xuân,lao động, mặt trời, nhảy nhót, lợn gà, múa hát, gió. Hãy phân các từ trên thành 2 nhóm: từ chỉ hoạt động và từ chỉ sự vật. Bài 4. Gạch một gạch dưới bộ phận chỉ Ai?(cái gì?, con gì?), gạch 2 gạch dưới bộ phận chỉ Làm gì?( thế nào?) trong các câu sau: a. Những con đường làng lầy lội vì mưa. b. Buổi sáng, sương muối phủ trắng cành cây, bãi cỏ. Bài 5. Viết một đoạn văn ngắn(từ 7 đến 9 câu), kể về việc chăm sóc bồn hoa của lớp em, trong đoạn văn có sử dụng mẫu câu Ai làm gì?
    2. 2. ĐÁP ÁN – BIỂU ĐIỂM MÔN TIẾNG VIỆT Bài 1.( 1.5 điểm: đúng mỗi từ ghi o,2 điểm) Các từ điền đúng là: Mở mang, mỡ màng, cởi mở, dầu mỡ, mở đầu, mở màn, thịt mỡ, củ khoai mỡ. Bài 2.(1.5 điểm: đúng mỗi từ ngữ ghi o,2 điểm) Các từ ngữ đó là: không chịu học, khoe biết chữ, đưa sách ngược, cứ tưởng xuôi, giả đọc nhẩm, phì cười, khuyên một hồi. Bài 3. (2 điểm: mỗi từ xếp đúng ghi 0,2 điểm) -Từ chỉ sự vật: xe lửa, cửa sổ, mùa xuân, mặt trời, lợn gà, gió. – Từ chỉ hoạt động;Ăn uống, lao động, nhảy nhót, múa hát. Bài 4. (2 điểm: gạch đúng mỗi bộ phận ghi 0,5 điểm) a. Những con đường làng /lầy lội vì mưa. b. Buổi sáng, sương muối /phủ trắng cành cây, bãi cỏ. Bµi 5:(3 điểm ) – Trình bày được đoạn văn có câu mở đoạn, đúng hình thức, diễn đạt trôi chảy, có câu mẫu Ai làm gì? Ghi điểm tối đa. – Các mức khác giáo viên tự chiết điểm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Bộ Đề Thi Học Sinh Giỏi Tiếng Việt Lớp 3
  • Kể Lại Buổi Đầu Tiên Em Đi Học Từ 5
  • 7 Bước Đơn Giản “kể Lại Ngày Đầu Tiên Đi Học” Hay Như Văn Mẫu!
  • Tập Làm Văn Lớp 3: Kể Lại Buổi Đầu Em Đi Học
  • Học Tiếng Đức Để Làm Gì?, Dich Tieng Anh Sang Tieng Viet, Dịch Tiếng Anh Sang Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Mềm Học Tiếng Đức Trên Iphone Và Phương Pháp Học Giải Trí
  • Những Phần Mềm Phát Âm Tiếng Đức Chuẩn Hiện Nay
  • 5 Trạm Phát Thanh Tiếng Đức Tốt Nhất Để Bạn Học Tiếng Đức
  • Các Phần Mềm Tự Học Tiếng Đức Hiệu Quả
  • Top 5 Ứng Dụng Học Tiếng Đức Trên Iphone Hữu Ích
  • Tiếng Đức hiện nay là tiếng mẹ đẻ của khoảng 120 triệu người trên thế giới. Nếu tính riêng châu Âu thì số người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Đức chiếm phần lớn nhất. Thật vậy, tiếng Đức là ngôn ngữ chính thống ở Đức, Áo và Thụy Sĩ (17 trong 24 tỉnh). Ngoài ra người ta còn nói tiếng Đức ở các nước khác như Liechtenstein (nằm giữa Thụy Sĩ và Áo), Luxemburg (nằm giữa Pháp, Bỉ và Đức), nhiều vùng lớn ở Bắc Ý, Đông Bỉ và Đông Pháp. Cạnh đó còn phải kể các “ốc đảo” nói tiếng Đức rải rác ở Đông Âu và Hoa Kỳ, là những nơi mà nhiều thế kỷ trước dân Đức đến lập nghiệp và đến nay vẫn bảo tồn được tiếng mẹ đẻ. Do đó mà hiện nay tiếng Đức, bên cạnh tiếng Nga, cũng là ngôn ngữ giao lưu được sử dụng nhiều nhất ở châu Âu, vượt xa cả tiếng Anh.

    Về văn hóa, tính chung mỗi năm có trên dưới 60 ngàn tựa sách mới được xuất bản bằng tiếng Đức, chiếm khoảng 18% tổng số toàn thế giới, chỉ sau tiếng Anh và tiếng Hoa (và tính ra nhiều hơn số tựa sách mới được xuất bản tại Mỹ đến cả 30%!). Việc biên soạn và đăng tải các công trình khoa học kỹ thuật bằng tiếng Đức cũng rất phổ biến, chỉ đứng sau tiếng Anh. Trong thương mại hay du lịch cũng vậy, nhất là từ khi Liên minh châu Âu (EU) mở rộng ra Trung và Đông Âu, vai trò của tiếng Đức ngày càng trở nên quan trọng hơn. Cộng vào đó, do có rất nhiều sinh viên từ các nước châu Phi, châu Á hay Trung Đông sang Đức du học mà tiếng Đức lại có dịp được phổ biến thêm trong những môi trường mới này. Ngay cả trên Internet, số lượng các trang bằng tiếng Đức chỉ đứng sau tiếng Anh, còn lại thì vượt xa các ngôn ngữ khác.

    Hiện nay trên khắp thế giới ước tính có khoảng 16 triệu người đang học ngoại ngữ là tiếng Đức. Vì với tiếng Đức bạn không chỉ có thể tiếp cận được với một trong những nền văn hóa lớn của phương Tây mà còn tận dụng được nhiều cơ hội trong công việc làm ăn nữa.

    Người Việt học tiếng Đức có khó không?

    Trái với chính lối nghĩ của người Đức, học tiếng Đức không phải là chuyện khó lắm. Nếu bạn đã có một số vốn liếng ngoại ngữ Tây phương như tiếng Pháp hay tiếng Anh chẳng hạn thì việc học tiếng Đức có thể dễ dàng hơn đôi chút. Thí dụ như đã quen với chuyện các danh từ tiếng Pháp có giới tính (và do đó mà biến thể lúc dùng trong câu) thì khi gặp tiếng Đức sẽ bớt bị bỡ ngỡ. Ai thạo tiếng Anh thì sẽ nhận ra rất nhiều từ vựng tương đối quen thuộc trong tiếng Đức vì hai ngôn ngữ này có cùng nguồn gốc. Nếu bạn biết phát âm các âm trong tiếng Pháp thì sẽ dễ dàng phát âm phần lớn các âm trong tiếng Đức. Mặt khác, các từ tiếng Đức thường có khuynh hướng nhấn giọng những âm đầu giống như trong tiếng Anh. Và nếu có căn bản tiếng La Tinh thì học ngữ pháp tiếng Đức không có gì khó khăn nữa cả.

    Nhưng đó chỉ là dễ dàng cho lúc đầu thôi. Theo kinh nghiệm và quan sát của riêng tôi, ngay cả người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Pháp hay tiếng Anh không hẳn là sẽ học tiếng Đức nhanh hoặc giỏi hơn người Việt mình (người Pháp nói tiếng Đức hầu như lúc nào cũng có giọng Pháp rất buồn cười, người Anh thì chính vì sự gần gũi ngôn ngữ mà thường dùng từ hay thành ngữ sai, ngay cả trong các bản dịch của các nhà xuất bản lớn). Mặt khác, tuy cũng lâu đời như tiếng Anh nhưng cách viết tiếng Đức chỉ mới được chuẩn hóa thực sự từ thế kỷ 15-16, và mới đây họ lại vừa cải cách lại chính tả – mà chắc cũng chưa phải là lần cuối. Do đó mà cũng như chữ Quốc ngữ, tiếng Đức có vẻ “hợp lý” vì phần lớn viết sao đọc vậy và hầu như có thể “đánh vần” giống tiếng Việt mình vậy (không như tiếng Anh, viết một đàng đọc một nẻo!). Rất nhiều âm tiếng Đức giống như âm tiếng Việt: chẳng hạn ch trong một số trường hợp phát âm rất giống kh của tiếng Việt; âm h cũng vậy, không “câm” như trong tiếng Pháp, Ý.

    Mẫu tự

    Mẫu tự Đức gồm 30 chữ cái (Buchstabe) sau đây (bấm vào dấu trước mỗi chữ để nghe):

    Đây chỉ là cách đọc các chữ cái để tạo cho bạn một khái niệm đầu tiên về âm tiếng Đức thôi. Phạm vi bài này không thể giới thiệu hết cách phát âm các nguyên âm (khi nào “ngắn”, khi nào “dài”), phụ âm (cũng có khi vầy khi khác), ngoài ra cũng như trong các thứ tiếng khác lại còn có những nguyên âm kép, phụ âm kép v.v. (và theo tôi quan niệm, khó ai có thể học ngôn ngữ chỉ qua bài vở, dù là có hay và đầy đủ cách mấy – ngoại trừ các cổ ngữ). Tuy vậy, các bạn đã có thể biết người Đức gọi tên các hiệu xe VW (viết tắt của Volkswagen) và BMW (Bayerische Motoren Werke) ra sao.

    Đại từ nhân xưng (Personalpronomen)

    Tương tự như các ngôn ngữ khác, đại từ nhân xưng trong tiếng Đức có thể chia ra là 3 ngôi (Person), và phân biệt số nhiều (Plural) hay số ít (Singular), giống cái (feminin), giống đực (maskulin) và trung tính (neutral):

    Qua bảng đối chiếu trên chúng ta dễ thấy rằng tiếng Đức rất gần với tiếng Anh (vì thật ra tiếng Anh chính là một phương ngữ của tiếng Đức cổ, du nhập vào các đảo ở Anh rồi thời gian sau đó hòa trộn với tiếng Đan Mạch xưa mà thành).

    Tuy vậy cũng có vài điểm khác biệt:

    • đại từ ngôi thứ 3 số ít es trong tiếng Đức tuy tương ứng với it của tiếng Anh, nhưng phải sử dụng đúng trong trường hợp thay thế cho một danh từ trung tính (neutral), cho dù danh từ đó có là đồ vật, khái niệm hay con người.

    • trong tiếng Đức không luôn luôn viết hoa như trong tiếng Anh, trừ khi đứng đầu câu hay dùng như danh từ (das Ich =cái tôi).

    • tiếng Đức lại còn có đ ại từ cho cách gọi trang trọng hay nghi thức là (lúc nào cũng viết hoa, cho dù ở giữa câu). Cách gọi Sie này tương tự như vous của tiếng Pháp, dùng gọi người đối diện (và dùng chung cho một người hay nhiều người, nam hay nữ không phân biệt). Nhưng (nhất là ai biết tiếng Pháp) phải để ý là về mặt ngữ pháp Sie là đại từ ngôi thứ 3 số nhiều (ở vài địa phương có khi người ta còn nói “trỏng”, gọi người đối diện bằng thou (số ít) và er, tức là ngôi thứ 3 số ít, tuy khá hiếm). Thật ra tiếng Anh cho đến khoảng 1600 (thời Shakespeare) vẫn còn lối gọi trang trọng ye (số nhiều), song song với dạng thân mật you mà sau này dần dần đẩy lùi hai dạng kia.

    Thêm vào đó có vài điểm nên để ý l à

    • trong tiếng Đức ngôi thứ 3 số ít giống cái sie (=bà ta, cô ấy, v.v.) giống y như ngôi thứ 3 số nhiều (tuy khác nghĩa, khác cách chia động từ và khác cách biến thể, sẽ đề cập sau).

    • trong khi đó ngôi thứ 3 số nhiều sie (=họ, những thứ này, bọn ấy, v.v.) dùng chung cho cả giống cái, giống đực và trung tính (giống tiếng Anh điểm này, không phân biệt giới tính, nhưng khác với tiếng Pháp).

    Và chắc hẳn là để người học đừng coi thường, cho là tiếng Đức quá dễ (!), ihr (=tụi bay, mấy cô, các anh v.v.) lại giống hệt nhưihr (=cho cô ấy, với bà ta, v.v., tương ứng với her trong tiếng Anh) đại từ nhân xưng ngôi thứ 3, số ít, giống cái ở thể Dativ, và cũng giống ihr (chẳng hạnihr Buch =quyển sách của cô ấy, của tụi nó v.v.) là tính từ sở hữu (Possessivadjektiv) tương ứng vớiở thể Nominativ hay Akkusativ!

    Có vẻ rắc rối thật, nhưng đừng lo, về sau các bạn sẽ thấy thực ra tiếng Đức rất rõ ràng và khoa học, không dễ lộn đâu! Và nhờ đó mà diễn đạt trong tiếng Đức rất chính xác và lại uyển chuyển hơn hẳn tiếng Anh hay tiếng Pháp nữa.

    Danh từ (Substantiv)

    Như trên đã có nói sơ, danh từ tiếng Đức có một trong 3 giới tính (Genus): giống cái (Femininum), giống đực (Maskulinum) và trung tính (Neutrum), tương tự như tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp hay tiếng Nga (các ngôn ngữ Bắc Âu hay Hòa Lan còn phân biệt thêm một loại giới tính “chung” nữa!). Danh từ trong tiếng Đức lại có thể thay đổi tùy dạng số ít hay số nhiều (Numerus), và còn biến thể tùy theo công dụng trong câu (Kasus) nữa. Ba thứ này Genus, Numerus và Kasus kiểm soát và xác định hoàn toàn hình thái của các danh từ.

    Biến thái ra sao đi nữa thì các danh từ tiếng Đức hầu như đều giữ đặc điểm là khi nào cũng viết hoa, không chỉ khi đứng đầu câu, và không chỉ khi là danh từ riêng. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho các động từ hay tính từ khi được dùng như danh từ. Cũng như người ta hay nói “trên nguyên tắc”, ở đây cũng có vài ngoại lệ, thí dụ như:

    Thông thường danh từ có mạo từ (Artikel) đi cùng. Ở đây chúng ta chỉ làm quen với các mạo từ xác định như (giống đực), (giống cái), das (trung tính) và các mạo từ bất định tương ứng :

    là mạo từ số nhiều, dùng chung cho cả 3 giới tính, còn (một vài/some/quelques), (nhiều/several/plusieurs), viele (nhiều/many/beaucoup) là một vài từ chỉ số nhiều bất định thông dụng, danh từ đi cùng phải thành số nhiều.

    Cũng có khi danh từ chỉ đứng một mình mà không dùng đến mạo từ như:

    Frankreich hat eine größere Fläche als Deutschland. (Pháp có diện tích lớn hơn Đức.)

    FrankreichDeutschland đều cùng là danh từ (riêng) trung tính. Nhưng không phải lúc nào tên một quốc gia cũng trung tính, và không dùng mạo từ:

    Die Schweiz hat eine viel kleinere Fläche als Frankreich. (Thụy Sĩ có diện tích nhỏ hơn Đức nhiều.)

    và ngược lại trong trường hợp sau đây người ta lại nói

    Das ist das schöne Frankreich! (Đây là nước Pháp xinh đẹp!)

    có sử dụng mạo từ.

    Theo tôi nhận thấy, giới tính của danh từ trong tiếng Đức tốt nhất là phải học thuộc lòng:

    • cũng khó suy từ tiếng Pháp chẳng hạn, nếu bạn đã biết tiếng Pháp: – la table – cái bàn, – la douzaine – một chục
    • thật ra cũng có một số quy tắc hoặc mẹo để nhớ giới tính của vài loại danh từ, nhưng thường thì lúc nào cũng phải học thuộc lòng thêm những ngoại lệ của các quy tắc đó, tính ra lại tốn công nhiều hơn! (Tuy vậy tôi cũng sẽ nêu ở phần dưới một vài quy tắc đáng tin cậy cho các bạn tham khảo.)

    Và đã bỏ công học thì nên học thuộc lòng luôn dạng số nhiều của các danh từ nữa, vì phần lớn chúng cũng không theo quy luật nào nhất định (xem các thí dụ trong bảng ở trên).

    Chắc các bạn tự hỏi tại sao giới tính các từ trong tiếng Đức (và nhiều thứ tiếng khác) phiền phức như vậy mà không bị đào thải như trong tiếng Anh cho dễ học? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta xem thí dụ này:

    Das Glas fiel auf die Schale, aber es zerbrach nicht! (Cái ly rớt lên cái tô, nhưng nó không bể!)

    The glass fell onto the bowl, but it did not break!

    và người đọc người nghe cũng mắc phải nghi vấn như trường hợp tiếng Việt. Nếu muốn thể hiện đúng ý thì không thể diễn đạt ngắn gọn được như trong tiếng Đức mà phải nói rườm rà hơn, chẳng hạn:

    The glass fell onto the bowl, but the glass did not break! (Cái ly rớt lên cái tô, nhưng cái ly không bể!)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Đức Làm Gì ?
  • Học Tiếng Đức Ra Trường Làm Việc Gì?
  • 5 Lý Do Học Tiếng Đức Làm Gì ?
  • Học Tiếng Đức Hiệu Quả Tại Tp Hồ Chí Minh
  • Học Tiếng Đức Ở Đâu Hải Phòng
  • Ke Hoach Day Phu Dao Tieng Anh 8 Ky I, Ii

    --- Bài mới hơn ---

  • Kèm Phụ Đạo Tiếng Anh Cho Học Sinh Quận 12
  • Ý Nghĩa Tầm Sư Học Đạo Và Thành Đạo Của Đức Phật
  • Văn Thơ Công Giáo: Tầm Sư Học Đạo
  • Cảm Động Bé Lớp 2 Vùng Cao Cùng Mẹ Vượt Hơn 100Km Để Học Tiếng Anh
  • Tuyển Sinh Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh Ở Hà Nội Hệ Từ Xa
  • KẾ HOẠCH DẠY PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM

    MÔN TIẾNG ANH 8- NĂM HỌC 2009-2010

    A. KẾ HOẠCH CHUNG

    I. Căn cứ để xây dựng kế hoạch

    Tiếng anh là một trong những môn học chính, quan trọng ở bậc THCS . Hiện nay chất lượng bộ môn còn nhiều yếu kém do phần lớn học sinh chưa nắm vững kiến thức của bộ môn mà thời lượng giảng day ngữ pháp trên lớp là rất ít.Vậy để nâng cao chất lượng học tập của bộ môn tôi xây dựng kế hoạch dạy phụ đạo học sinh yếu kém môn tiếng anh lớp 8 dựa vào các số liệu sau :

    1. Kết quả học tập bộ môn năm học trước :

    8

    2.Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm .

    6

    23

    3. Căn cứ vào tình hình chất lượng của học sinh trên lớp

    II. Mục tiêu của công tác phụ đạo

    1. Knowledge : – help ss to review and master the old knowledges which ss have learned and do some exercises in order to improve ss ` english

    2.Skill : communicative , practice , speaking , reading , writing , listening

    3. Education : Ss work hard , love the subject and use english fluently

    III. Nội dung , thời lượng và hình thức tổ chức thực hiện

    1. Thời lượng :

    Kế hoạch phụ đạo học kỳ I gồm 12 cả tiết kiểm tra đánh giá sau mỗi tháng . Mỗi tuần dạy 1 tiết

    2. Hình thức tổ chức thực hiện

    Giảng dạy vào tiết chính khoá theo thời khoá biểu hoặc các tiết giảm tải

    3. Nội dung:

    Tháng

    Tiết

    Nội dung phụ đạo

    Ghi chú

    10

    1

    The past tense with “ Tobe “

    2

    “ Be going to “

    3

    Modal verbs

    4

    Written test ( kiểm tra )

    11

    5

    ppositions of time .

    7

    Question words

    8

    Written test ( kiểm tra )

    10

    Superlative

    11

    The psent perfect tense

    12

    Written test ( kiểm tra )

    IV.Danh sách học sinh yếu kém lớp 8

    Tháng 10

    Tháng 11

    Tháng 12

    Chuyên môn duyệt Tổ c/m duyệt Tú nang, ngày 4/10/2009

    Đặng Thị Hoà Hoàng Thị Luyện

    B. KẾ HOẠCH CHI TIẾT ( Soạn và dạy theo kế hoạch )

    Preparing date………………… Teaching date :………………….

    Preriod 1 .THE PAST TENSE WITH “ TO BE “

    I. Ojectives

    By the end of the lesson , ss will be able to :

    – Knowledge : Ss understand and master the past tense with the verb “ Tobe“ , the kinds of “ tobe “ in the past

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người “truyền Lửa” Từ Lớp Phụ Đạo Tiếng Anh
  • Giáo Án Phụ Đạo Tiếng Anh 6 ( Hot )
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Thiểu Số:
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100