Dịch Tễ Học Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Voa Như Thế Nào Để Đạt Hiệu Quả? – Paris English
  • Miễn Dịch Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Miễn Dịch Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Vì Sao Không Nên Dịch Từ Tiếng Việt Sang Tiếng Anh Khi Giao Tiếp Tiếng Anh?
  • 7 Phương Pháp Dịch Thuật Cơ Bản
  • Dịch tễ học là gì?

    Thông điệp chính

    Dịch tễ học là khoa học nền tảng của y tế công cộng.

    Dịch tễ học đã có những đóng góp lớn vào việc cải thiện sức khoẻ cộng đồng.

    Dịch tễ học là công cụ thiết yếu trong quá trình xác định và sắp xếp (mapping) các bệnh nổi trội.

    Thường xuyên có tình trạng chậm chễ giữa việc thu thập các bằng chứng dịch tễ học và ứng dụng các bằng chứng này vào xây dựng chính sánh y tế.

    Bối cảnh lịch sử

    Nguồn gốc

    Việc so sánh tỷ lệ mắc bệnh trong các nhóm quần thể người rất phổ biến vào cuối thể kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Cách tiếp cận này  ban đầu được ứng dụng vào việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm (xem Chương 7), và cũng được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để mô tả mối liên kết giữa các điều kiện hay tác nhân môi trường với các bệnh cụ thể. Vào nửa sau của thế kỷ hai mươi, đặc biệt là ở các nước có thu nhập cao hoặc trung bình, cách tiếp cận này này được áp dụng đối với các bệnh không lây mạn tính như bệnh tim, ung thư.

    Các phát triển gần đây của dịch tễ học

    Hộp 1.1. Quan sát sớm của dịch tễ học

    John Snow đã xác định vị trí ngôi nhà của từng người tử vong do bệnh tả ở London vào giai đoạn 1848–49 và 1853–54 và nhận thấy một sự kết hợp rõ rệt giữa nguồn nước ăn với các trường hợp tử vong này. Ông đã so sánh các trường hợp tử vong của các quận có các nguồn cấp nước khác nhau (Bảng 1.1) và chỉ ra rằng, ở các quận do công ty Southwark cấp nước, số trường hợp tử vong và tỷ lệ tử vong đều cao hơn các quận khác. Dựa trên nghiên cứu tỉ mỉ của mình, Snow đã xây dựng được một lý thuyết về đường lây truyền của bệnh truyền nhiễm và gợi ý rằng bệnh tả đã lan truyền qua nước bị nhiễm bẩn. Ông khuyến khích việc nâng cao chất lượng nước cấp trong một khoảng thời gian dài trước khi tìm thấy vi khuẩn gây bệnh tả; nghiên cứu của ông đã có tác động trực tiếp và lâu dài đối với chính sách công cộng.

    Nghiên cứu của John Snow nhắc nhở chúng ta rằng các biện pháp y tế công cộng chẳng hạn như cải thiện tình trạng cấp nước sạch và vệ sinh đã có những đóng góp to lớn vào việc tăng cường sức khoẻ cộng đồng và điều đó còn được thể hiện qua nhiều ví dụ cụ thể từ năm 1850, các nghiên cứu dịch tễ học được xác định như là các biện pháp phù hợp cần tiến hành. Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng, các vụ dịch tả vẫn còn phổ biến trong các quần thể nghèo, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Năm 2006, Angola báo cáo có 40.000 trường hợp mắc và 1600 trường hợp tử vong do tả, Sudan báo cáo có 13.852 trường hợp mắc dẫn đến 516 trường hợp tử vong chỉ trong vài tháng đầu năm.

    Nghiên cứu thuần tập ở những bác sỹ người Anh cho thấy tỷ lệ tử vong giảm mạnh ở những người không hút thuốc trong nhiều thập kỷ sau này. Những bác sỹ nam giới sinh ra vào giai đoạn 1900–1930 mà hút thuốc, trung bình tử vong sớm hơn 10 năm so với những người không hút thuốc5 (Hình 1.2). 

    Bảng 1.1. Tử vong do dịch tả ở các quận của London theo nguồn nước do 2 công ty cung cấp, từ 8/7 đến 26/8/1854.

    Công ty cấp nước

    Dân số năm 1851

    Số tử vong do tả

    Tỷ lệ tử vong do tả (trên 1000 dân)

    Southwark

    167.654

    884

    5,0

    Lambeth

    19.133

    18

    0.9

    Định nghĩa, phạm vi và ứng dụng của dịch tễ học

    Định nghĩa

    Hình 1.1. Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi (trên 1000) trên số điếu thuốc4 của các bác sỹ nam giới người Anh, năm 1951– 1961.

     

    Phạm vi 

    Hình 1.2. Tỷ lệ sống sau tuổi 35 ở những bác sỹ người Anh tiếp tục hút thuốc và không hút thuốc sinh trong khoảng năm 1900–1930 tại từng thời điểm 10 năm một5

     

    Hộp 1.2. Định nghĩa dịch tễ học9

    Từ “Dịch tễ học” có nguồn gốc từ tiếng Hylạp, trong đó, từ epi có nghĩa là “trên”, demos có nghĩa là “quần thể người” và logos có nghĩa là “nghiên cứu”.

    Định nghĩa rộng này của dịch tễ học có thể được làm rõ hơn như sau :

    Thuật ngữ

    Giải thích

    Nghiên cứu 

    Bao gồm : giám sát, quan sát, kiểm định giả thuyết, nghiên cứu phân tích và thực nghiệm

    Phân bố

     

    Đề cập đến việc phân tích các yếu tố : thời gian, con người, nơi chốn. 

    Yếu tố quyết định

     

    Bao gồm các yếu tố ảnh hưởng lên sức khoẻ như sinh học, hoá học, lý học, xã hội, văn hoá, kinh tế, di truyền và hành vi.

     

    Bao gồm : bệnh, các nguyên nhân tử vong, hành vi như hút thuốc, các trạng thái sức khoẻ tốt, phản ứng đối với các chế độ dự phòng và việc cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế.

    Các quần thể định danh

     

    Bao gồm những người có các đặc tính có thể phân biệt được, chẳng hạn như các nhóm nghề nghiệp khác nhau.

    Ứng dụng   vào   việc phòng và kiểm soát

     

    mục đích của y tế công cộng tăng cường, bảo vệ và phục hồi sức khoẻ.

    Dịch tễ học và y tế công cộng

    Y tế công cộng, nói chung, đề cập đến các hành động mang tính tập thể nhằm cải thiện sức khoẻ của quần thể.1 Dịch tễ học, một trong các công cụ tăng cường sức khoẻ, được sử dụng theo nhiều cách khác nhau (Hình 1.3–1.6). Các nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực dịch tễ học thường quan tâm đến nguyên nhân (bệnh căn) của các bệnh truyền nhiễm và công việc này vẫn có ý nghĩa quan trọng để xác định được các biện pháp phòng ngừa. Theo nghĩa này, dịch tễ học là khoa học y học cơ bản với mục đích cải thiện sức khoẻ quần thể, đặc biệt sức khoẻ của những quần thể chịu thiệt thòi. 

    Nguyên nhân gây bệnh

    Lịch sử tự nhiên của bệnh

    Dịch tễ học cũng quan tâm đến quá trình phát triển và hậu quả bệnh (lịch sử tự nhiên) ở các cấp độ cá nhân và nhóm (Hình 1.4).

    Hình 1.3. Căn nguyên

     Hình 1.4. Lịch sử tự nhiên

    Tình trạng sức khoẻ của quần thể

    Dịch tễ học thường được sử dụng để mô tả tình trạng sức khoẻ của các nhóm quần thể (Hình 1.5). Hiểu biết về gánh nặng bệnh tật trong quần thể đóng vai trò thiết yếu đối với các nhà lãnh đạo y tế, những người mong muốn sử dụng nguồn lực hạn chế để có thể mang lại hiệu quả cao nhất bằng cách xác định các chương trình sức khoẻ ưu tiên cho dự phòng và chăm sóc y tế. Trong một số lĩnh vực chuyên biệt, ví dụ dịch tễ học môi trường hay nghề nghiệp, dịch tễ học tập trung vào việc nghiên cứu những quần thể có các loại phơi nhiễm đặc thù.

    Hình 1.5. Mô tả tình trạng sức khoẻ quần thể

    Đánh giá can thiệp

    Tác giả Archie Cochrane đã thuyết phục các nhà dịch tễ học đánh giá hiệu quả (effectiveness) và hiệu suất (efficiency) của các dịch vụ y tế (Hình 1.6).10 Việc này có nghĩa là xác định, ví dụ như tính phù hợp của giai đoạn nằm viện do một tình trạng nào đó, giá trị của việc điều trị bệnh cao huyết áp, hiệu suất của các biện pháp vệ sinh nhằm kiểm soát bệnh truyền nhiễm và tác động của việc giảm hàm lượng chì trong xăng (xem Chương 10).

    Hình 1.6. Đánh giá can thiệp

    Việc áp dụng các nguyên lý và phương pháp dịch tễ học vào các vấn đề đang phải đối mặt trong thực hành y học dẫn đến sự phát triển của dịch tễ học lâm sàng (xem Chương 8). Cũng theo xu hướng này, dịch tễ học đang mở rộng sang các lĩnh vực khác như dịch tễ học dược học, dịch tễ học phân tử, và dịch tễ học di truyền (Hộp 1.3).11

    Hộp 1.3. Dịch tễ học phân tử và di truyền

    Dịch tễ học phân tử đo lường phơi nhiễm với các chất cụ thể và các đáp ứng sinh học sớm thông qua:

    Đánh giá các đặc tính của vật chủ đáp ứng với những tác nhân bên ngoài 

    Sử dụng các chất chỉ thị sinh hóa của một tình trạng cụ thể nhằm hiệu chỉnh phân loại bệnh.

    Dịch tễ học di truyền nghiên cứu căn nguyên, sự phân bố và kiểm soát bệnh trong các nhóm có quan hệ họ hàng và các nguyên nhân di truyền bệnh trong quần thể.

    Nghiên cứu dịch tễ học di truyền trong các điều tra về gia đình hay quần thể để thiết lập: Yếu tố di truyền gây bệnh

    Quy mô tác động của di truyền so với các yếu tố khác đến nguy cơ xuất hiện bệnh và  Các gien bệnh

    Y tế công cộng di truyền bao gồm:

    Các chương trình sàng lọc tại cộng đồng

    Tổ chức và đánh giá các dịch vụ dành cho các bệnh nhân có rối loại về di truyền và Tác động của di truyền lên thực hành y học.

    Thành tựu của dịch tễ học

    Đậu mùa

    Việc thanh toán bệnh đậu mùa trên thế giới là một thành tựu lớn lao góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnh phúc của hàng triệu người, nhất là ở những quần thể nghèo. Đậu mùa minh họa cả thành công lẫn thất vọng của y tế công cộng hiện đại. Từ những năm 1790 người ta đã biết rằng nhiễm khuẩn đậu bò sẽ góp phần bảo vệ chống virút đậu mùa, tuy nhiên phải mất gần 200 năm thì lợi ích của phát hiện này mới được chấp nhận và áp dụng trên toàn thế giới.

    Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thực hiện chiến dịch mạnh mẽ nhằm loại bỏ đậu mùa trong nhiều năm. Dịch tễ học giữ vai trò trung tâm trong chiến dịch này bằng việc 

    cung cấp thông tin về phân bố các trường hợp bệnh, mô hình, cơ chế và mức độ lan truyền bệnh, 

    lập bản đồ các vụ dịch bệnh và 

    đánh giá các biện pháp kiểm soát (Hộp 1.4). 

    Sự thật cho thấy là không có những trường hợp vật chủ là động vật và số lượng những trường hợp nhiễm bệnh thứ cấp thấp. 

    Khi chương trình thanh toán bệnh đậu mùa trong 10 năm do TCYTTG phát động vào năm 1967, thì mỗi năm có từ 10 – 15 triệu trường hợp mới và 2 triệu trường hợp tử vong ở 31 nước. Số nước có các trường hợp bệnh trong giai đoạn 1967 – 1976 giảm xuống nhanh chóng; đến năm 1976 chỉ có 2 nước báo cáo có bệnh đậu mùa và trường hợp xuất hiện bệnh đậu mùa tự nhiên cuối cùng được báo cáo trong năm 1977 ở một phụ nữ do phơi nhiễm với vius trong phòng thí nghiệm. Bệnh đậu mùa thông báo được thanh toán vào ngày 8 tháng 5 năm 1980.

    Có nhiều yếu tố góp phần vào thành công của chương trình: sự cam kết chính trị toàn diện, mục đích rõ ràng, thời gian biểu chính xác, đội ngũ cán bộ được đào tạo tốt và chiến lược linh động. Thêm vào đó, bệnh có nhiều đặc điểm tạo thuận lợi cho việc thanh toán dứt điểm như sự sẵn có vaccine phòng bệnh đậu mùa. Năm 1979, TCYTTG đã duy trì một kho dự trữ vaccine đậu mùa đủ để tiêm chủng cho 200 triệu người. Kho dự trữ này đã dần dần giảm xuống còn khoảng 2,5 triệu liều. Nhưng mối quan ngại hiện nay về vấn đề sử dụng vũ khí sinh học đã khiến TCYTTG tiếp tục duy trì và đảm bảo lượng dữ trữ đầy đủ vaccine trong trường hợp cần thiết.14

    Hộp 1.4. Các đặc điểm dịch tễ của bệnh đậu mùa12

    Các phương pháp dịch tễ học được sử dụng để thiết lập các đặc tính sau đây của đậu mùa:

    vật chủ duy nhất là người

    không có vật trung chuyển có bệnh cảnh tiền lâm sàng

    người khỏi bệnh sẽ miễn dịch và không có khả năng truyền bệnh.

    đậu mùa mắc từ tự nhiên không lây truyền nhanh như các bệnh truyền nhiễm khác như sởi hay ho gà.

    việc lây truyền bệnh, nói chung thông qua tiếp xúc lâu dài giữa người với người và • phần lớn bệnh nhân nằm liệt giường khi mắc bệnh, chính điều này đã làm hạn chế lây lan.

     Nhiễm độc Methyl thủy ngân

    Thủy ngân là chất độc từ thời Trung Cổ, gần đây hơn thủy ngân trở thành biểu tượng của những mối hiểm hoạ ô nhiễm môi trường. Trong những năm 1950, hợp chất thuỷ ngân có trong nước thải của một nhà máy ở Minamata, Nhật Bản đổ vào một vịnh nhỏ (Hộp 1.5). Điều này đã dẫn đến sự tích lũy methyl thủy ngân trong cá gây ra nhiễm độc trầm trọng cho người.15

    Đây là một vụ dịch nhiễm độc thuỷ ngân từ cá đầu tiên mà người ta được biết và việc xác định chính xác nguyên nhân phải diễn ra trong vài năm. Bệnh Minamata đã trở thành một trong những bệnh do môi trường được chứng minh tốt nhất bằng tư liệu. Vụ bùng nổ dịch thứ hai xảy ra trong những năm 1960 ở một khu vực khác của Nhật Bản. Từ đó đến nay các trường hợp nhiễm độc Methyl thuỷ ngân nhẹ hơn do cá cũng được ghi nhận ở một số nước.15, 16

    Hộp 1.5. Bệnh Minamata

    Dịch tễ học đã giữ một vai trò chủ chốt trong việc xác định nguyên nhân và kiểm soát của một trong những vụ dịch được báo cáo đầu tiên gây ra bởi ô nhiễm môi trường. Những trường hợp đầu tiên được cho là viêm màng não do nhiễm khuẩn. Tuy nhiên người ta quan sát thấy rằng 121 nạn nhân của bệnh này chủ yếu sống gần Vịnh Minamata. Điều tra tiến hành ở những người mắc bệnh và những người không mắc bệnh cho thấy các nạn nhân hầu hết là các thành viên của các gia đình có nghề chính là đánh cá. Những người đến thăm các gia đình này và các thành viên của những gia đình ăn ít cá thì không mắc bệnh. Vì vậy người ta đã đi đến kết luận rằng có cái gì đó trong cá gây ngộ độc cho người và bệnh không phải do lây truyền hay di truyền.

    Sốt thấp tim và bệnh thấp tim

    Hình 1.7. Ghi nhân về bệnh sốt thấp khớp ở Đan Mạch

    Ngày nay bệnh gần như không còn xuất hiện ở các nước phát triển, mặc dù các ổ bệnh với tỷ lệ hiện mắc khá cao vẫn còn tồn tại ở các nhóm người thiệt thòi về kinh tế và xã hội. Ở nhiều nước đang phát triển, bệnh thấp tim là một trong những thể phổ biến nhất của bệnh tim.

    Dịch tễ học đã góp phần vào hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân của sốt thấp tim và bệnh thấp tim và việc phát triển các biện pháp phòng ngừa bệnh thấp tim. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng đã nêu bật vai trò của các yếu tố kinh tế xã hội góp phần gây nên các vụ bùng nổ sốt thấp tim và sự lan truyền của nhiễm liên cầu khuẩn ở họng. Rõ ràng nguyên nhân gây các bệnh này phức tạp hơn nguyên nhân gây nhiễm độc Methyl thuỷ ngân, bệnh chỉ có một nguyên nhân đặc hiệu được nhận dạng.

    Bệnh thiếu Iốt 

    Việc sử dụng muối iốt có hiệu quả vì muối được dùng quanh năm ở mức độ tương tự nhau trong mọi tầng lớp nhân dân. Thành quả phụ thuộc vào việc sản xuất và phân phối muối và đòi hỏi sự tuân thủ các quy định luật pháp, kiểm tra chất lượng và nhận thức của cộng đồng.

     Hộp 1.6. Bệnh thiếu iốt

    Dịch tễ học đã góp phần vào việc xác định và giải quyết vấn đề thiếu hụt iốt; các biện pháp dự phòng có hiệu quả thích hợp cho việc sử dụng muối iốt trên quy mô lớn, cũng như các biện pháp giám sát chương trình iốt được làm rõ. Tuy nhiên, đã có sự chậm trễ không cần thiết trong việc ứng dụng những hiểu biết này để làm giảm đau khổ cho hàng triệu người ở các nước đang phát triển mà ở đó nạn thiếu iốt vẫn còn phổ biến. Gần 1/3 trẻ đến tuổi đi học trên toàn thế giới đã không sử dụng lượng iốt cần thiết.19 Sự tiến bộ đáng kể được thực hiện trong thập niên cuối cùng với việc khoảng 70% hộ gia đình đã có tiếp cận với muối iốt so với 20–30% trong năm 1990.20

    Hút thuốc lá, amiăng và ung thư phổi

    Tuy nhiên, có nhiều yếu tố phơi nhiễm khác chẳng hạn như bụi amiăng và ô nhiễm không khí đô thị cũng góp phần làm tăng gánh nặng ung thư. Hơn thế nữa, hút thuốc lá và phơi nhiễm với amiăng tương tác với nhau, gây nên tỷ lệ ung thư phổi cao hơn ở những công nhân vừa hút thuốc vừa phơi nhiễm với bụi amiăng (Bảng 1.2)

    Phơi nhiễm với amiăng

    Tiền sử hút thuốc lá

    Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi/100.000 dân

    Không

    Không

    11

    Không

    58

    Không

    123

    602

    Vỡ xương chậu

    Phần lớn các trường hợp vỡ xương chậu là do ngã và hầu hết các trường hợp tử vong sau khi ngã là hậu quả của các biến chứng vỡ xương, đặc biệt ở người cao tuổi.25 Cách giải quyết tối ưu để phòng vỡ xương chậu hiện tại vẫn chưa rõ ràng. Dịch tễ học có vai trò rất quan trọng khi xem xét các yếu tố có thể thay đổi và các yếu tố không thể thay đổi nhằm làm giảm gánh nặng của vỡ xương chậu.

    HIV/AIDS

    Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (The acquired immunodeficiency syndrom – AIDS) được xác định đầu tiên như là một thực thể bệnh riêng biệt vào năm 1981 tại Hoa Kỳ.26 Cho tới năm 1990, ước tính có khoảng 10 triệu người bị nhiễm virút HIV. Từ đó đến nay đã có 25 triệu người tử vong vì AIDS và thêm 40 triệu người bị nhiễm virút HIV. Số liệu cho thấy HIV/AIDS trở thành một trong các bệnh dịch truyền nhiễm có sức phá huỷ ghê gớm nhất được ghi nhận trong lịch sử (Hình 1.8).28

    Hình 1.8. Dịch AIDS trên toàn cầu 1990–200328

     

    Trong tổng số 3,1 triệu người tử vong do AIDS trong năm 2005, gần 95% xảy ra ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, với 70% xảy ra ở các nước châu Phi khu vực cận Sahara và 20% ở các nước châu Á. Một bộ phận đa số trong tổng số từ 4,3 tới 6,6 triệu người mới nhiễm HIV trong năm 2005 sống ở những khu vực này. Tuy nhiên, ở các khu vực hay các nước này, mức độ nhiễm bệnh và đường lây rất khác nhau (Hộp 1.7).

    Hộp 1.7. Dịch tễ học và dự phòng HIV

    Các nghiên cứu dịch tễ học và xã hội học đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định dịch và phương thức lây truyền, xác định các yếu tố nguy cơ và các yếu tố mang tính xã hội, và đánh giá các chương trình can thiệp phòng chống, điều trị và kiểm soát. Sàng lọc máu của những người cho máu, tăng cường tình dục an toàn, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, tránh sử dụng chung bơm kim tiêm và phòng lây truyền từ mẹ sang con bằng thuốc kháng virút hiện là những cách chính để kiểm soát lây truyền HIV/AIDS.

    Với việc tìm ra các loại thuốc kháng virút mới và điều trị kết hợp, cuộc sống của những người nhiễm HIV ở các nước phát triển được kéo dài. Tuy nhiên chi phí quá cao của các loại thuốc này, rõ ràng hạn chế việc sử dụng, và chúng không được đa số những người nhiễm bệnh sử dụng. Một cố gắng quốc tế lớn nhằm tăng cường cơ hội sử dụng thuốc điều trị HIV/AIDS – chiến dịch mang tên “chiến dịch 3×5” (3 triệu người được điều trị cho đến cuối năm 2005).25 đã đạt được con số là 1 triệu người được điều trị và ngăn ngừa được khoảng từ 250.000 đến 350.000 trường hợp tử vong. Mục đích mang tính toàn cầu tiếp theo là nhằm đạt được tiếp cận toàn cầu với điều trị HIV trước 2010. Dịch tễ học đã có đóng góp to lớn vào hiểu biết đại dịch AIDS; tuy nhiên sự hiểu biết đơn thuần không đảm bảo cho các hành động dự phòng phù hợp được triển khai.  

    AIDS có thời gian ủ bệnh dài; nếu không được điều trị, thì khoảng một nửa số người nhiễm virút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) sẽ tiến triển thành bệnh AIDS trong khoảng 9 năm nhiễm (xem Chương 7). Virút được tìm thấy ở một số chất dịch cơ thể, đặc biệt là trong máu, tinh dịch và dịch âm đạo. Việc lây nhiễm chủ yếu thông qua quan hệ tình dục hoặc dùng chung kim tiêm bị nhiễm virút. Virút cũng có thể được truyền qua khi truyền máu hoặc các sản phẩm máu bị nhiễm virút, và từ mẹ bị nhiễm sang con trong khi mang thai hay khi cho con bú.

    SARS

    Mặc dù tử vong hay gánh nặng bệnh tật là nhỏ, vụ dịch hội chứng đường hô hấp cấp (severe acute respiratory syndrome – SARS) đã nhắc nhở thế giới về một mối nguy hiểm chung là bệnh truyền nhiễm. Vụ dịch cũng đã làm nổi bật tình trạng yếu kém của các dịch vụ y tế công cộng không chỉ ở các nước châu Á mà còn cả ở các nước có thu nhập cao như Canada. Hội chứng SARS đầu tiên xuất hiện vào tháng 11 năm 2002 ở miền nam Trung Quốc với 2 trường hợp viêm phổi không điển hình và không rõ nguyên nhân. Việc lây truyền bệnh – được tạo điều kiện thuận lợi do những người bệnh đi lại bằng đường hàng không – đã xảy ra nhanh chóng trong các tháng tiếp theo làm cho 8.000 người bị mắc bệnh và khoảng 900 trường hợp tử vong ở 12 quốc gia.31 Tỷ lệ tử vong do SARS lây truyền ở cộng đồng thấp hơn do SARS lây truyền ở bệnh viện, nơi mà các cán bộ y tế có tiếp xúc gần và liên tục với những người nhiễm bệnh.30

    Nhiều bài học quan trọng được rút ra từ các hoạt động ứng phó với dịch SARS. Ví dụ, SARS đã cho thấy rằng các vụ dịch tương tự có thể dẫn đến hậu quả kinh tế và xã hội vượt xa tác động lên sức khoẻ.32 Tác động này đã chỉ ra tầm quan trọng của một bệnh nghiêm trọng mới trong một thế giới có sự tương tác chặt chẽ và biến đổi nhanh.

    Tài liệu tham khảo

    Johansen PV, Brody H, Rachman S, Rip M. Cholera, Cholorform, and the Science of Medicine: a life of John Snow. Oxford, Oxford University Press, 2003

    Snow J. On the mode of communication of cholera. London, Churchill,1855. (Reprinted in: Snow on cholera: a reprint of two papers. New York, Hafner Publishing Company, 1965).

    Doll R, Hill A. Mortality in relation to smoking: ten years’ observations on British doctors. BMJ 1964;1:1399–410.

    Doll R, Peto R, Boreham J, Sutherland I. Mortality in relation to smoking: 50 years’  observations  on  British  doctors.  BMJ   2004;328:1519–28.  Medline doi:10.1136/bmj.38142.554479.AE

    Lee JW. Public health is a social issue.  Lancet  2005;365:1005–6. Medlinedoi:10.1016/S0140–6736(05)66541–5

    Irwin A, Valentine N, Brown C, Loewenson, R, Solar O, et al. The Commission on Social Determinants of Health: Tackling the social roots of health inequities. PLoS Med 2006;3:e106. doi:10.1371/journal.pmed.0030106

    Marmot M. Social determinants of health inequalities. Lancet 2005;365:1099–104. Medline

    Last JM. A dictionary of epidemiology, 4th ed. Oxford, Oxford University Press, 2001.

    Cochrane AL. Effectiveness and Efficiency. Random Reflections on Health Ser– vices. London: Nuffield provincial Provinces Trust, 1972. (Reprinted in 1989 in association with the BMJ; reprinted in 1999 for Nuffield Trust by the Royal Society of Medicine Press, London. ISBN 1–85315–394–X).

    Zimmern RL. Genetics in disease pvention. In: Puncheon D ed, Oxford Hand– book of Public Health Practice. Oxford, Oxford University Press, 2001:544–549.

    Moore ZS, Seward JF, Lane M. Smallpox. Lancet  2006;367:425–35. Medline doi:10.1016/S0140–6736(06)68143–9

    Pennington  Hình   Smallpox  and  bioterrorism.   Bull  World  Health  Organisation 2003;81:762–7. Medline

    Global smallpox vaccine reserve: report by the secretariat. Geneva, World Health Organization, 2004. http://www.who.int/gb/ebwha/pdf_files/EB 115/B115_36_en.pdf

    McCurry J. Japan remembers Minamata. Lancet  2006;367:99–100. Medline doi:10.1016/S0140–6736(06)67944–0 

    Methylmercury (Environmental health criteria, No 101). Geneva, World Health Organization, 1990.

    Taranta A, Markowitz M. Rheumatic fever: a guide to its recognition, pven– tion and cure, 2nd ed. Lancaster, Kluwer Academic Publishers, 1989.

    Hetzel BS. From Papua to New Guinea to the United Nations: the pvention of  mental  defect  due  to  iodine  deficiency  disease.  Aust  J  Public  Health 1995;19:231–4. Medline

    De Benoist B, Andersson M, Egli I et al., eds. Iodine status: worldwide WHO data base on iodine deficiency.  Geneva, World Health Organization, 2004.

    Hetzel BS. Towards the global elimination of brain damage due to iodine deficiency – the role of the International Council for Control of Iodine Deficiency Disorders. Int  J  Epidemiol  2005;34:762–4. Medline doi:10.1093/ije/dyi073

    Thun MJ. When truth is unwelcome: the first reports on smoking and lung cancer. Bull World Health Organ  2005;83:144–53. Medline  

    Hammond EC, Selikoff IJ, Seidman Hình  Asbestos exposure, cigarette smoking and death rates. Ann N Y Acad Sci 1979;330:473–90.

    Meerding WJ, Mulder S, van Beeck EF. Incidence and costs of injuries in the Netherlands. Eur J Public Health 2006;16:272–78.

    Johnell O. The socio–economic burden of fractures: today and in the 21st cen– tury.  [Medline].  Am  J  Med 1997;103:S20–26. Medline doi:10.1016/S0002– 9343(97)90023–1

    Cumming RG, Nevitt MC, Cummings SR. Epidemiology of hip fractures. Epi–demiol Rev 1997;19:244–57. 

    Gottlieb MS, Schroff R, Schanker HM, Weisman JD, Fan PT, Wolf RA, et al. Pneumocystis carinii pneumonia and mucosal candidiasis in pviously healthy homosexual men: evidence of a new acquired cellular immunodeficiency. N Engl J Med 1981;305:1425–31. Medline

    2004 Report on the global AIDS epidemic: 4th global report. Geneva, Joint United Nations Programme on HIV/AIDS, 2004

    AIDS Epidemic Update: December, 2005. Geneva, UNAIDS/WHO, 2005.

    Jong–wook  L.  Global  health  improvement  and  WHO:  shaping  the  future. Lancet       2003;362:2083–8. Medline  doi:10.1016/S0140–6736(03)15107–0

    SARS. How a global epidemic was stopped. Manila, WHO Regional Office for the Western Pacific, 2006.

    Wang MD, Jolly AM. Changing virulence of the SARS virút: the epidemiological evidence. Bull World Health Organ 2004;82:547–8. Medline

    Assessing the impact and costs of SARS in developing Asia. Asian development outlook update 2003. Asian Development Bank, 2003. http://www.adb.org/ Documents/Books/ADO/2003/update/sars.pdf.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Tễ Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Đào Tạo Tiếng Anh Thương Mại Trực Tuyến Trong 6 Tháng
  • Ngành Tiếng Anh Là Gì?
  • Chuyên Ngành Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Học Tiếng Anh Qua Cách Dịch Bài
  • Dịch Tễ Học Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Tễ Học Là Gì?
  • Học Tiếng Anh Qua Voa Như Thế Nào Để Đạt Hiệu Quả? – Paris English
  • Miễn Dịch Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Miễn Dịch Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Vì Sao Không Nên Dịch Từ Tiếng Việt Sang Tiếng Anh Khi Giao Tiếp Tiếng Anh?
  • Tôi là một nhà dịch tễ học.

    I am an epidemiologist.

    OpenSubtitles2018.v3

    Thực sự, không ai biết dịch tễ học là gì.

    And nobody really knows what epidemiology is.

    ted2019

    Dịch tễ học

    Epidemiology

    EVBNews

    Hiện tại, tôi là một nhà dịch tễ học về các bệnh truyền nhiễm.

    Now, I’m an infectious disease epidemiologist by training.

    ted2019

    Đây là slide mà các nhà dịch tễ học đã đưa ra nhiều gần đây.

    This is a slide that epidemiologists have been showing for some time now,

    ted2019

    Dịch tễ học trầm cảm đã được nghiên cứu nhiều trên toàn thế giới.

    The epidemiology of depssion has been studied across the world.

    WikiMatrix

    Tôi là một nhà dịch tễ học, Stephen.

    Stephen, I’m an epidemiologist.

    OpenSubtitles2018.v3

    Trong nghiên cứu bệnh, dịch tễ học phải đối mặt với những thách thức trong việc định nghĩa bệnh.

    In studying diseases, epidemiology faces the challenge of defining them.

    WikiMatrix

    Và tôi cho rằng đó là lời nói đùa hài hước nhất về dịch tễ học từng được nghe

    And I think that’s the funniest epidemiology joke you will ever hear.

    ted2019

    Và tôi cho rằng đó là lời nói đùa hài hước nhất về dịch tễ học từng được nghe

    And I think that’s the funniest epidemiology joke that you will ever hear.

    QED

    Sau Thế chiến thứ hai, ông điều khiển các nghiên cứu dịch tễ học cho quân đội Mỹ ở Đức.

    After World War II, he directed epidemiologic studies for the Army in Germany.

    WikiMatrix

    Dịch tễ học ung thư phản ánh sát sự phân bố yếu tố nguy cơ ở các nước khác nhau.

    Cancer epidemiology closely mirrors risk factor spad in various countries.

    WikiMatrix

    Các chuyên gia dịch tễ học và các bác sĩ rất giỏi trong việc khuyên chúng ta bảo vệ da mình.

    Epidemiologists and doctors have been very good about telling us about protecting our skin.

    ted2019

    Trong khi dữ liệu chính xác về dịch tễ học chưa được biết, hội chứng này đã trở nên cực kỳ hiếm.

    While exact data about the epidemiology is unknown, this syndrome has become extremely rare.

    WikiMatrix

    Tôi vốn là một bác sĩ, nhưng lại chuyển sang làm nghiên cứu và bây giờ tôi là nhà dịch tễ học.

    So I’m a doctor, but I kind of slipped sideways into research, and now I’m an epidemiologist.

    ted2019

    dịch tễ học được hiểu rõ nhất thông qua thí dụ khoa học với những tiêu đề điên rồ, quái gở.

    And it’s best understood through example as the science of those crazy, wacky newspaper headlines.

    QED

    Họ đã nhìn HIV và sốt rét và cách suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến dịch tễ học của các bệnh này.

    They have looked at HIV and Malaria and how malnutrition affects the epidemiology of these diseases.

    WikiMatrix

    Rep-PCR là một sửa đổi của kỹ thuật PCR phù hợp hơn cho mục đích dịch tễ học hơn PCR thông thường.

    Rep-PCR is a modification of the PCR technique that is more suitable for epidemiological purposes than conventional PCR.

    WikiMatrix

    Anh là thành viên của Dự Án Canary, một đội phản ứng nhanh gồm các nhà dịch tễ học của CDC đúng không?

    You are a member of the Canary Project, the CDC’s rapid response team of field epidemiologists?

    OpenSubtitles2018.v3

    Các nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện ra rằng 10,1% đến 55,2% người dân ở các quốc gia khác nhau bị đau mãn tính.

    Epidemiological studies have found that 10.1% to 55.2% of people in various countries have chronic pain.

    WikiMatrix

    Dịch tễ học là ngành khoa học giúp chúng ta nhận biết trong thế giới thực tế điều gì tốt cho bạn hay xấu cho bạn.

    Epidemiology is the science of how we know in the real world if something is good for you or bad for you.

    ted2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đào Tạo Tiếng Anh Thương Mại Trực Tuyến Trong 6 Tháng
  • Ngành Tiếng Anh Là Gì?
  • Chuyên Ngành Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Học Tiếng Anh Qua Cách Dịch Bài
  • Top 10 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Thông Dụng
  • Biên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Biên Dịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Thuật Hồ Sơ Du Học, Visa Anh (Uk) Nhanh Chóng Chính Xác Tỉ Lệ Đỗ Visa Cao
  • Học Tiếng Anh Giao Tiếp Qua Video
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Tại Nhà Ở Hà Nội
  • Phương Pháp Học Dịch Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Cách Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Chuẩn, Hiệu Quả, Nhanh Nhất
  • Biên dịch tiếng anh là gì?

    1.Biên dịch trong tiếng Anh là gì ?

    Biên dịch = Translation

    Biên dịch là sự thay thế một thông điệp bằng chữ ở ngôn ngữ này bằng một thông điệp tương đương ở một ngôn ngữ khác.

    3.Vậy biên dịch khác gì với phiên dịch?

    Biên dịch (Translation)

    Phiên dịch (Interptation)

    Ngôn ngữ nguồn có thể được xem đi xem lại, nghe đi nghe lại

    Ngôn ngữ nguồn không được xem đi xem lại, nghe đi nghe lại.

    Ít áp lực thời gian hơn, nhiều cơ hội chỉnh sửa hơn.

    Áp lực thời gian lớn hơn, cơ hội sửa chữa ít hơn.

    Ngôn ngữ nguồn (Source language)

    Ngôn ngữ mục tiêu (Target language)

    Vậy ví dụ từ Tiếng Việt ta dịch ra tiếng Anh

    Tiếng Việt được gọi là ngôn ngữ Nguồn, tiếng Anh gọi là ngôn ngữ mục tiêu

    4.Trong biên dịch ta có thể phân loại như sau:

    4.1: Dịch phi thương mại (Non-commercial translation):

    +Bài tập ngôn ngữ (Language exercise)

    +Tài liệu hướng dẫn (Instructional materials)

    +Dịch giải trí (Translation for pasure)

    4.2: Dịch thuật chuyên ngành (Professional translation):

    +Văn học dịch (Litterary translation)

    +Dịch sách giáo khoa kỹ thuật (Scienthic and technical book)

    +Dịch phim – kịch (Drama screen translation)

    +Dịch tài liệu thông tin (Informatory translation)

    5.Những biên dịch viên cần có các kỹ năng, năng lực và phẩm chất cần thiết:

    +Nghiên cứu văn bản (Researching skill)

    +Kỹ năng máy tính (Computer skill)

    +Hiểu biết về văn hóa (Cuttural knowledge)

    +Hành vi đạo đức (Ethical behavior) Dịch chính xác, không thêm bớt, không thay đổi nội dung ngôn ngữ nguồn.

    Bạn đã hiểu hơn về biên dịch, bạn muốn lựa chọn đối tác trong lĩnh vực biên dịch, Công ty GLOBAL LOTUS (Dịch thuật Hanu) là đối tác tin cậy cho bạn.

    Với thâm niên trong nghề công ty chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những nghiệp vụ tốt nhất, tiện nghi nhất.

    Dịch thuật GLOBAL LOTUS luôn sẵn sàng tư vấn cho khách hàng trên nhiều loại hình phiên dịch đảm bảo mang lại hiệu quả cho công việc của khách hàng.

    Văn phòng của chúng tôi trải khắp Việt Nam: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Đắk Lắk …..

    Văn phòng chính

    Văn phòng tại Hà Nội: 106 Ngách 2A Ngõ 124 ,Minh Khai Hai Bà Trưng, Hà Nội

    Cellphone:0794569818 (Ms.Sương) 0909 126 997 (Ms.Thảo)

    Văn phòng tại TP Hồ Chí Minh Lầu 2, Số 60 Cù Lao,P2, Quận Phú Nhuận

    TEL: 08 35176172 FAX: 08 35176172

    Cellphone:0794569818 (Ms.Sương) 0909 126 997 (Ms.Thảo)

    DỊCH THUẬT HANU – DỊCH THUẬT – DỊCH CÔNG CHỨNG – PHIÊN DỊCH CHUYÊN NGHIỆP UY TÍN

    CÔNG TY TNHH GLOBAL LOTUS (DỊCH THUẬT HANU) – MÃ SỐ THUẾ: 0312465762

    Email: [email protected]

    Chúng tôi luôn luôn đồng hành cùng quý khách!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Tiếng Việt Ra Tiếng Anh Dịch Tiếng Việt Ra Tiếng Anh
  • Dịch Ra Tiếng Anh Dịch Ra Tiếng Anh Chuyên Nghiệp Uy Tín
  • Một Số Giấy Tờ Cần Dịch Ra Tiếng Anh Và Công Chứng Khi Mang Sang Mỹ Du Học Bạn Nên Biết
  • Học Dự Thính Là Gì? Sinh Viên Có Nên Học Dự Thính Hay Không?
  • Dịch Hồ Sơ Du Học
  • Người Thầy Của Dịch Tễ Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Dinh Dưỡng Quan Điểm Dịch Tễ Học (Nutrition
  • Tuyệt Kỹ Chinh Phục 62 Bài Luyện Nghe Voa Nâng Trình Tiếng Anh “vù Vù”
  • Đại Cương Về Miễn Dịch Học
  • Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Trên Điện Thoại
  • Có Nên Học Ngành Tiếng Anh Phiên Dịch?
  • Dịch tễ học là khoa học mấu chốt của y tế cộng đồng và y học dự phòng. Dịch tễ học hiện đại là khoa học mới của dịch tễ học trong những năm gần đây. Dịch tễ học lâm sàng là nền tảng cho y học lâm sàng hiện đại. Nhà giáo nhân dân chúng tôi Dương Ðình Thiện là người đầu tiên đã đưa các khoa học này giảng dạy và phổ cập tại nước ta.

    GS. TS. Dương Đình Thiện sinh năm 1932 tại vùng quê Hưng Yên, thời đi học đã sớm phải vượt khó trong cuộc sống bằng việc dạy học cho con em các gia đình khá giả và các công việc lao động khác. Đời sống vất vả, khó khăn nhưng anh vẫn luôn học giỏi. Năm 1954, Thủ đô Hà Nội giải phóng, anh là sinh viên y khoa năm thứ nhất của Trường đại học Y Dược khoa.

    Bác sĩ dịch tễ – Chuyên khoa mới và khó

    Tốt nghiệp đại học năm 1960, bác sĩ Dương Đình Thiện cùng hai bạn đồng khóa được tuyển là giảng viên Bộ môn Vệ sinh dịch tễ của nhà trường, một môn học quan trọng và cần thiết nhưng các bác sĩ và sinh viên thời đó phải học vì nhiệm vụ, theo sự phân công của tổ chức. Theo gương thầy Hoàng Tích Mịnh – Chủ nhiệm Bộ môn, đã từng đi du học y khoa – ngành vệ sinh học tại Pháp, không nhằm trở thành quan đốc-tờ khám chữa bệnh để dễ kiếm tiền.

    Thầy tốt nghiệp năm 1934 và trở về nước để phục vụ nhân dân mình. Thầy Chủ nhiệm phân công anh đi chuyên ngành dịch tễ học, một chuyên khoa mới mà thuở ban đầu có rất ít tài liệu. Bác sĩ Dương Đình Thiện yên tâm với chuyên ngành, miệt mài học tập – lặng lẽ, kiên trì và quyết liệt, để chiếm lĩnh những tri thức khoa học cần thiết cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

    GS. Dương Đình Thiện (bên phải) tại buổi lễ Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân tại Văn Miếu (tháng 11/2008).

    Từ hai cuốn sách bằng tiếng Pháp và tiếng Nga kết hợp giữa lý thuyết của sách và thực tiễn bệnh học Việt Nam, một đất nước có khí hậu nóng ẩm, kinh tế chưa phát triển, có nhiều bệnh tật, ông đã biên soạn hàng trăm trang giáo trình lý thuyết và các kỹ năng phòng chống dịch. 2 năm sau, năm 1962, bác sĩ Dương Đình Thiện biên soạn xong cuốn sách Bài giảng Dịch tễ học và một năm sau ông biên soạn cuốn Dịch tễ học đại cương, và tiếp theo là cuốn Dịch tễ học từng bệnh.

    Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật trong các cộng đồng và tạo nền tảng cho những kế hoạch y tế trong việc chữa trị và phòng ngừa bệnh tật. Dịch tễ học giúp chuyên viên y tế xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh, phát triển và tối ưu hóa phương thức điều trị của y học lâm sàng. Đó là các cuốn sách giáo khoa dành cho sinh viên năm thứ 5 các trường đại học y của cả nước trong gần 50 năm qua.

    Trong nhiều năm qua, lớp lớp bác sĩ học trò của ông, được trang bị những kiến thức vệ sinh và dịch tễ ở Trường đại học Y vững vàng công tác tại các trạm vệ sinh phòng dịch các tỉnh, đã hoạt động có hiệu quả, dập tắt nhanh các vụ dịch tại địa phương. Với nhiệm vụ trưởng hoặc phó đoàn các đoàn chống dịch của Bộ Y tế, bác sĩ Thiện thường xuyên cùng các học trò là các bác sĩ trẻ, sinh viên các năm cuối, xông pha các nơi phòng chống dịch với nhiều thành công. Ông không quan ngại việc phải tiếp xúc với các ổ dịch nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo.

    Người triển khai khoa học dịch tễ học hiện đại ở Việt Nam

    Sau 20 năm giảng dạy và làm việc với thực tế phòng chống các bệnh truyền nhiễm, như đã ngăn chặn thành công dịch tả ở Quảng Bình trong khi bên kia vĩ tuyến 17 Mỹ ngụy chiếm đóng luôn có dịch tả hoành hành, hay tham gia phòng chống thành công bệnh dịch hạch tại Nha Trang, Khánh Hòa và nhiều vụ dịch khác tại các địa phương. Bác sĩ Thiện trong những đợt đi công tác tại nước ngoài, được tiếp cận với những thay đổi và phát triển của dịch tễ học thế giới, hình thành một khoa học mới: dịch tễ học hiện đại. Ông đã tâm huyết viết cuốn sách Dịch tễ học hiện đại và đã đưa vào chương trình giảng dạy tại Trường đại học Y Hà Nội và các trường đại học y trong cả nước.

    Bác sĩ Thiện tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các cán bộ các trường đại học và các cán bộ y tế các địa phương về dịch tễ học hiện đại, nhằm đưa khoa học này nhanh chóng được phát triển ở nước ta. Từ đó giúp cho cán bộ ngành y tế nước ta dễ dàng hòa nhập với trình độ khoa học y học khác, lấy dịch tễ học hiện đại làm nòng cốt mà các chuyên gia nước ngoài sau này sang giúp đỡ nước ta đã đề cập đến trong quá trình hội nhập về nhiều khía cạnh y tế khác nhau.

    Người thầy về dịch tễ học lâm sàng tại Việt Nam

    Năm 1986-1987, bác sĩ Dương Đình Thiện được cử đi học tập và công tác tại nước ngoài. Ông nhận thấy có những vấn đề mới, dịch tễ học đã được vận dụng tốt vào y học lâm sàng và có những kết quả nổi bật. Nhiều nước đã bắt đầu xây dựng một bộ phận rất quan trọng của dịch tễ học hiện đại là khoa học dịch tễ học lâm sàng.

    Ở Việt Nam, khoa học dịch tễ học hiện đại vừa mới được tiếp cận và triển khai trong khó khăn, nhưng để theo kịp với trình độ dịch tễ học lâm sàng thế giới, bác sĩ Thiện đã cố học tập, sưu tầm, tập hợp nhiều tài liệu của các nước Âu Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhà dịch tễ học lâm sàng các nước tiên tiến để nắm bắt được những vấn đề cốt lõi của môn khoa học này.

    Trở về nước, với cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Dịch tễ, ông miệt mài tiếp tục viết sách giáo khoa về dịch tễ học lâm sàng. Ông đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, đưa nhiều danh từ chuyên môn mới từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng Việt tương đối chính xác.

    Nội dung sách đã chỉ ra rằng dịch tễ học lâm sàng là một trong những khoa học cơ bản làm nền móng cho y học lâm sàng hiện đại. Trước kia các thầy phải mất nhiều năm mới đúc kết được các kinh nghiệm để chẩn đoán bệnh, ngày nay các thầy thuốc trẻ nếu áp dụng lý thuyết và thực hành dịch tễ học lâm sàng sẽ sớm trở thành bác sĩ giỏi, đưa ra được việc chẩn đoán bệnh điển hình để xác định bệnh, đưa ra các yêu cầu xét nghiệm thật cần thiết để rồi có các chỉ định thuốc điều trị hợp lý.

    GS. Dương Đình Thiện tại lớp Tập huấn về ứng dụng dịch tễ học và thống kê trong nghiên cứu khoa học tại Tây Nguyên.

    Môn dịch tễ học lâm sàng mới phát triển trong những năm gần đây nhưng đã nhanh chóng được y học các nước trên thế giới trong đó có các nước đang phát triển đón nhận và quan tâm, nhất là các thầy thuốc lâm sàng. Cho đến nay người ta đã coi dịch tễ lâm sàng là một môn học cơ sở của y học lâm sàng.

    Để phổ biến rộng rãi các kiến thức chuyên ngành, ông đã thành lập Trung tâm Dịch tễ học lâm sàng đặt tại Trường đại học Y Hà Nội để tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn qua các dự án, và sự quan tâm đầu tư của Bộ Y tế. Từ trung tâm, nhiều lớp đào tạo lại được tổ chức tại các tỉnh cho anh chị em bác sĩ các địa phương. Trung tâm cũng mời được nhiều vị giáo sư nước ngoài tới Việt Nam để mở rộng hiểu biết về dịch tễ học lâm sàng cho cán bộ Y tế Việt Nam.

    Hơn 50 năm làm thầy giáo, mang nhiều tâm huyết với chuyên ngành dịch tễ, ông mong muốn các cán bộ của ngành phải sớm tiếp thu và phát triển các lý thuyết về dịch tễ học và dịch tễ học lâm sàng tại Việt Nam. Ông nắm vững lý thuyết, cùng với một tri thức đầy ắp những kinh nghiệm thực tế tại nước ta, những buổi lên lớp ông giảng bài trên các giảng đường các trường đại học, hay tại các địa phương đầy hào hứng, hấp dẫn và sôi nổi.

    Ông đã truyền được sự say mê nghề nghiệp cho các học trò và đồng nghiệp trẻ và rất đông học trò đã theo nghề của ông. Dịch tễ học là môn học chính khóa và dịch tễ học lâm sàng là một tín chỉ cần thiết cho các học viên sau đại học. Nhiều thế hệ thầy thuốc đã học ông, hoặc đọc sách của ông. Tất cả đều kính trọng và cảm mến ông về sự nghiêm túc trong giảng dạy, tính kỷ luật trong nghiên cứu, song lại thẳng thắn, vui vẻ, chan hòa đầy tình thương yêu trong đời thường.

    Cũng như nhiều giáo sư, từ lâu GS. Dương Đình Thiện đã hình thành cho mình sự gắn kết giữa giảng dạy và nghiên cứu. Tính đến nay ông đã cho công bố nhiều công trình, đã hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh. Ông là chủ biên, là tác giả 7 cuốn sách giáo khoa đại học và sau đại học, là đồng tác giả trong 5 cuốn sách giáo khoa khác.

    GS. Dương Đình Thiện hoàn thành luận án Tiến sĩ năm 1989, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 1991, Giáo sư năm 2003; được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân năm 2008 và Huân chương Lao động hạng Ba về những đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ông đã 80 tuổi, 50 năm tuổi nghề, vẫn phát huy vai trò của một người thầy đầu ngành, hiện đang tâm huyết triển khai chuyên đề mới về Thống kê dịch tễ học vào nước ta. Giáo sư Dương Đình Thiện là Chủ tịch Hội Y tế công cộng từ khi thành lập (2002) đến nay. Ông vẫn giảng dạy, hiện hướng dẫn luận án cho 2 nghiên cứu sinh và là cố vấn chuyên môn cho một số dự án lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Form Bản Dịch Học Bạ Cấp 3 (Tiếng Anh)
  • Chuyên Ngành Tiếng Anh Là Gì
  • Tìm Hiểu Về Tên Các Ngành Học Trong Tiếng Anh
  • Truyện Cười Tiếng Anh Cho Giây Phút Giải Trí Ở Mọi Nơi, Mọi Lúc
  • Học Tiếng Anh Qua Truyện Cười Thật Sự Là Một Cách Học Khôn Ngoan
  • Dinh Dưỡng Quan Điểm Dịch Tễ Học (Nutrition

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyệt Kỹ Chinh Phục 62 Bài Luyện Nghe Voa Nâng Trình Tiếng Anh “vù Vù”
  • Đại Cương Về Miễn Dịch Học
  • Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Trên Điện Thoại
  • Có Nên Học Ngành Tiếng Anh Phiên Dịch?
  • Học Nghề Phiên Dịch Ở Đâu?
  • Trong các trường đại học ở Việt Nam, mọi chương trình giới thiệu về Y tế công cộng cho sinh viên y khoa hoặc cho chuyên gia y tế công cộng tương lai đều bao gồm một khóa học về lĩnh vực “dinh dưỡng”. Tên của khóa học được gọi là “Dinh dưỡng và Vệ sinh thực phẩm” hoặc “Dinh dưỡng và An toàn vệ sinh thực phẩm”, và thường được dịch sang tiếng Anh là “Nutrition and Food Safety”. Khóa học như thế này có cấu trúc khá truyền thống, bắt đầu bằng việc liệt kê các thành phần dinh dưỡng của thực phẩm như nước, protein, lipid, cacbonhydrat và các vi chất dinh dưỡng khác. Nó phân tích các loại thực phẩm có nguồn gốc khác nhau bằng cách chỉ ra thành phần của chúng. Tiếp đó, nó mô tả những thành phần có thể gây hại của thực phẩm, cụ thể là các chất độc, vi sinh vật gây nhiễm khuẩn, và nghiên cứu các bệnh do thực phẩm gây ra. Cuối cùng, khóa học xem xét một số biện pháp phòng tránh những chất có hại như vậy; ở đây cơ sở tự nhiên sẽ là vệ sinh truyền thống.

    Chính quan điểm dịch tễ học này cũng cho phép chúng ta điều tra nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng về lâu về dài. Với nó, tập hợp các bệnh đích trở nên rộng hơn rất nhiều, bao gồm, ví dụ, nhiều dạng khác nhau của ung thư, bệnh lý tim mạch, tiểu đường và các bệnh thoái hóa khác. Trên thực tế, như đã nói trong phần mô tả sơ lược về “Dịch tễ học dinh dưỡng” ở Chương 25, cuốn về sức khỏe môi trường. Ở đó, chúng ta đã xem xét những yếu tố đến từ bên ngoài cơ thể con người. Ở đây, chúng ta tiếp tục nghiên cứu tác động của những yếu tố được đưa vào bên trong cơ thể thông qua đường miệng. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi hai cuốn sách này được xây dựng theo nhiều làn cấu trúc tương tự nhau. Tuy nhiên, ranh giới giữa hai lĩnh vực được định nghĩa theo cách thức truyền thống nhiều hơn là theo các quy tắc logic. Ví dụ, ngộ độc thực phẩm do Salmonella được coi là một phần của lĩnh vực “an toàn thực phẩm”, trong khi hậu quả của việc ăn, uống phải dư lượng thuốc trừ sâu trong các bữa ăn bình thường được coi là một vấn đề của môi trường.

    Quan điểm dịch tễ học mà chúng ta chấp nhận không bao gồm điều trị các bệnh cụ thể bằng các chất dinh dưỡng, bữa ăn hoặc chế độ ăn uống thích hợp. Những điều trị như vậy thuộc về lĩnh vực dược lý. Chúng tôi có thể minh họa bằng hai ví dụ điển hình như sau: – Điều trị suy thận hoặc suy gan bằng cách giảm khẩu phần protein của bệnh nhân; và – Bù nước cho trẻ bị tiêu chảy. Điều trị một bệnh nhân cụ thể theo một cách như vậy thực ra là một phần của y học lâm sàng, tương tự, ví dụ như, điều trị nhiễm herpes bề mặt của mắt bằng thuốc nhỏ mắt chống vi rút.

    Chúng tôi đã cấu trúc cuốn sách này theo cách sau, tập trung chủ yếu vào các khía cạnh dịch tễ học:

    • Các chất dinh dưỡng và thực phẩm.
    • Một nghiên cứu trường hợp điển hình trong một bối cảnh của Việt Nam.
    • Lịch sử dịch tễ học dinh dưỡng.
    • Đo lường chế độ dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng.
    • Ảnh hưởng của thực phẩm lên sức khoẻ.
    • Một số nghiên cứu đặc biệt.
    • Hướng dẫn người dân trên cơ sở sử dụng kết quả của những điều tra nghiên cứu này.

    Chúng tôi cố gắng làm cho người đọc nắm được bố cục này khi đọc cuốn sách.

    Quá trình khai thác và áp dụng các kết quả nghiên cứu dịch tễ học về dinh dưỡng chủ yếu dựa vào giáo dục sức khoẻ. Chúng tôi đã đề cập đến khía cạnh này trong Chương 4 của cuốn [2]. Trên thực tế, việc này chủ yếu đặt trên vai các nhân viên y tế, đặc biệt là những y bác sĩ tham gia chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nhất là ở các Trạm y tế xã. Do đó thực sự phù hợp khi đưa một khóa học về dinh dưỡng vào các nghiên cứu y học cơ bản.

    Cuối cùng, chúng ta cần thêm vào hai nhận xét “kỹ thuật”. Thứ nhất, ở các trường đại học Việt Nam, phần lớn giảng viên về y tế công cộng là nữ. Do đó, để đơn giản hóa ngôn ngữ và văn phong, chúng tôi sẽ sử dụng thể nữ giới một cách có hệ thống khi nói về bất kỳ đối tượng vào. Phải luôn luôn hiểu rằng nội dung cũng bao gồm cả nam giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Thầy Của Dịch Tễ Học
  • Form Bản Dịch Học Bạ Cấp 3 (Tiếng Anh)
  • Chuyên Ngành Tiếng Anh Là Gì
  • Tìm Hiểu Về Tên Các Ngành Học Trong Tiếng Anh
  • Truyện Cười Tiếng Anh Cho Giây Phút Giải Trí Ở Mọi Nơi, Mọi Lúc
  • Biên Phiên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Nghề Biên Phiên Dịch Có Gì “hot”?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phiên Dịch Tiếng Anh Du Lịch
  • Nghề Phiên Dịch Tiếng Anh
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Trực Tuyến
  • Các Bước Để Có Một Bài Dịch Tiếng Việt Sang Tiếng Anh Chuẩn Nhất
  • Review Một Số Nơi Mà Mình Đã Học Tiếng Anh (Phần 2)
  • 1.1. Biên dịch tiếng Anh là gì?

    Biên dịch là công việc mà người ta thực hiện chuyển đổi ngôn ngữ trong văn biển từ ngôn ngữ nước này sang ngôn ngữ nước khác. Và biên dịch tiếng Anh chính là chuyển văn bản từ ngôn ngữ tiếng Anh sang ngôn ngữ khác (tùy vào kiến thức ngôn ngữ khác của người biên dịch và yêu cầu từ người cần dịch) và họ cũng có thể từ ngôn ngữ khác dịch sang tiếng anh.

    Với nghề biên dịch, người dịch không cần phản ứng tức thì với từng câu nói như dịch nói, thời gian dịch cũng không bị gò bó nhưng lại chịu yêu cầu chính xác cao, văn phong trôi chảy nhưng vẫn truyền đạt được ý nghĩa như văn bản gốc. Từ đó đòi hỏi người phiên dịch không những có kiến thức ngoại ngữ ở trình độ cao mà còn yêu cầu cả khả năng văn chương. Nếu bạn có trình độ ngoại ngữ giỏi chưa đủ điều kiện đảm bảo rằng bạn sẽ là một biên dịch giỏi. Việc biết và việc truyền đạt cho người nghe đòi hỏi người biên dịch hai kỹ năng riêng biệt.

    1.2. Phiên dịch tiếng Anh là gì?

    Nếu biên dịch tiếng Anh là công việc chuyển một văn bản viết từ ngôn tiếng Anh sang ngôn ngữ khác thì phiên dịch có thể chuyển một chữ, một câu, một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà nghĩa của chúng vẫn không thay đổi. Công việc của phiên dịch viên nhằm mục đích giúp hai người không cùng sử dụng chung một ngôn ngữ mà vẫn có thể nói chuyện được với nhau. Họ chính là trung gian kết nối các mối quan hệ trong giao tiếp nhiều hơn một ngôn ngữ.

    Người phiên dịch thường đi nhiều nơi, được gặp gỡ giao tiếp với nhiều người thậm chí với những người có trình độ cao họ còn được tham gia vào nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hỗ trợ cho người đại diện của các nước trao đổi đàm phán với nhau. Lúc này yêu cầu quan trọng nhất của người phiên dịch là phải trung thực, dịch đúng ý đối phương để hai bên không hiểu nhầm ý nhau dẫn đến những bất đồng.

    Khác với biên dịch, làm phiên dịch người ta chỉ được nghe một lần, xem một lần, chịu áp lực về thời gian nhiều hơn, cơ hội sửa chữa ít hơn. Vậy nên trình độ người phiên dịch có thể sẽ cao hơn người biên dịch và các yêu cầu của biên dịch và phiên dịch cũng không hoàn toàn là giống nhau. Hiện nay tiếng anh phiên dịch đang là ngôn ngữ được nhiều bạn trẻ lựa chọn bởi đây là loại ngôn ngữ giao tiếng thứ 2 trên thế giới được sử dụng phổ biến để giao tiếp giữa những người không cùng dùng chung ngôn ngữ mẹ đẻ.

    2. Làm biên phiên dịch cần những yêu cầu nào?

    Để làm nghề biên phiên dịch trước tiên bạn phải đáp ứng được yêu cầu về khả năng ngoại ngữ. Bạn phải thông thạo ít nhất hai thứ tiếng để đảm bảo có ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ mục tiêu khi dịch.

    Riêng với nghề biên dịch, ngoài thông thạo ngoại ngữ bạn phải đảm bảo cả khả năng văn chương. Trong tiếng Anh ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói sử dụng ngữ pháp, câu cú không giống nhau, hơn nữa đa số trường hợp dịch tiếng Anh sang tiếng Việt câu cú rất lủng củng cần người biên dịch phải viết lại có rõ ràng, trôi chảy mà không làm mất ý nghĩa gốc của câu văn. Người biên dịch tuyệt đối không dịch theo kiểu “word by word” (dịch từng chữ) mà phải dịch theo câu, theo ngữ cảnh đặt câu và ý nghĩa mà câu văn muốn truyền tải cho người đọc.

    Với nghề phiên dịch, khi dịch nói, không yêu cầu khả năng văn chương nhưng lại yêu cầu nhạy bén, ghi nhớ nhanh lời mà người cần truyền tải nói ra để phiên dịch sang ngôn ngữ mục tiêu chính xác, rõ ràng nhất. Từ đó đòi hỏi phiên dịch viên phải có cả kỹ năng giao tiếp hỗ trợ công việc phiên dịch suôn sẻ, tạo được nhiều mối quan hệ mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp trong tương lai.

    Dù cả biên dịch và phiên dịch đều làm việc trên nguồn tài liệu có sẵn thế nhưng việc dịch lại không đơn giản như người ngoài nghề vẫn nghĩ. Biên phiên dịch viên không phải chỉ dựa trên những cái có sẵn để dịch mà để ra đời một tác phẩm theo ngôn ngữ mục tiêu hay, câu nói được truyền tải đúng ý, họ phải để tâm tới quan điểm của tác giả, hỏi lại ý tác giả cụ thể khi có điều kiện.

    Trong trường hợp biên phiên dịch không hiểu chắc chắn quan điểm của tác giả, không thể lấy kiến thức chủ quan của mình áp đặt cho tác giả để xuyên tạc nội dung. Kiến thức là vô tận và mỗi người lại sở hữu nguồn tri thức khác nhau vậy nên khi dịch bạn phải vừa nghĩ mình là tác giả vừa đặt mình vào vị trí của người đọc để hiểu tâm niệm truyền tải của tác giả cũng như để biết độc giả cần gì. Điều này giúp bạn trở nên xuất sắc hơn, đạt được yêu cầu diễn tả đúng điều tác giả cần nói, người đọc dễ hiểu và quan trọng là phù hợp với văn hóa từng quốc gia, xu hướng phát triển tại thời điểm dịch.

    2.3. Tính cách cũng được yêu cầu

    Cả biên dịch và phiên dịch đều rất quan trọng tính trung thực khách quan và tuyệt đối không để tình cảm cá nhân lấn át công việc. Đặc biệt trong trường hợp biên dịch những cuốn tài liệu mật mang tính chính trị hay những chiến lược quan trọng trong kinh doanh và phiên dịch những cuộc đàm phán, đối thoại ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác, an ninh chính trị của các quốc gia, biên phiên dịch phải có những lời dịch thật sát nghĩa, phải kiểm soát được bản thân khi nóng giận để không nói ra những lời lẽ nặng nề.

    Tính cách của biên phiên dịch cần có chính là sự hòa nhã, lịch thiệp, cách ứng xử khôn khéo, biết kiềm chế được bản thân và điều tiết được hướng suy nghĩ của chính mình,… để đạt được hiệu quả công việc tuyệt đối nhất.

    2.4. Đạo đức nghề biên phiên dịch

    Đạo đức nghề nghiệp chính là trách nhiệm của một biên phiên dịch viên, bạn phải luôn nhớ vai trò của mình là gì, vị trí và trách nhiệm phiên dịch của mình quan trọng như thế nào?… Các khóa học biên phiên dịch tiếng Anh ngoài kiến thức chuyên môn nên đào tạo ứng viên cả về đạo đức.

    Làm phiên dịch tiếng Anh sang tiếng Việt, ngoài những yêu cầu trên, bạn phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc của mình, kiên trì cùng ước muốn không ngừng nỗ lực vươn lên với mục tiêu trở thành một biên phiên dịch giỏi nắm chắc cơ hội thăng tiến lên vị trí cao hơn, tham dự những buổi phiên dịch quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của đất nước và bạn sẽ trở thành nhân tố góp mặt trong những thành công to lớn mà Việt Nam đạt được.

    Để nâng cao kinh nghiệm, kiến thức của biên phiên dịch không chỉ dừng lại ở việc học dịch tiếng Anh mà thường xuyên phải tạo cơ hội cho bản thân thử sức với các tài liệu khác, chăm chỉ kết nối lấy kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước và đồng nghiệp. Hãy rèn luyện khả năng lĩnh hội, sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, bồi dưỡng khả năng ghi nhớ vấn đề nhanh chóng.

    Xem Thêm : Hướng dẫn cách viết hồ sơ xin việc một cách nhanh nhất

    3. Cơ hội việc làm nghề biên phiên dịch hiện tại và tiềm năng “bùng nổ” trong tương lai

    Việt Nam đang trong bối cảnh hội nhập với thế giới ở hầu hết mọi lĩnh vực và đó là cơ hội lớn nhất để nghề biên phiên dịch thu hút lao động lựa chọn đặc biệt là lao động trẻ hiện nay. Chính sách hội nhập không phải mới được ban hành mà nó đã được áp dụng trong nhiều năm nay và đang phát huy rất hiệu quả công dụng của mình. Việt Nam với lợi thế “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu” trở thành lựa chọn đầu tư của nhiều nhà kinh doanh, số lượng các doanh nghiệp có mặt trên khắp lãnh thổ Việt Nam cũng từ đó mà gia tăng. Sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia không còn là hiện tượng hiếm thấy mà ngày nay nó giống như một thông lệ của nền kinh tế Việt Nam. Và để hoạt động kinh tế trên đất Việt đồng thời để kết nối với Công ty tổng bên nước ngoài và hơn hết để làm việc với các đối tác trên thế giới, yêu cầu tuyển dụng nhân viên thông thạo ngoại ngữ là không thể thiếu trong tiêu chí đánh giá của nhà tuyển dụng. Đây chính là thông tin cho lao động lựa chọn nghề nghiệp theo xu thế phát triển hiện tại để có thể tìm cho mình một công việc phù hợp với mức đãi ngộ hấp dẫn.

    Nếu bạn đã có kiến thức chuyên môn về trình độ ngoại ngữ đồng thời đảm bảo cơ bản được những yêu cầu bắt buộc trên, bạn có thể trở thành biên phiên dịch tham gia ứng tuyển vào các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế, các công ty du lịch, các tòa soạn báo, các nhà sản xuất, đài truyền hình, trung tâm dịch thuật,… với các thông tin tuyển dụng biên phiên dịch tiếng Anh tại TP. Hồ Chí Minh, tuyển biên dịch tiếng Anh online, tuyển biên dịch tiếng Anh tại nhà, tuyển biên dịch sách tiếng Anh,… rất nhiều công việc cho bạn lựa chọn và thâm chí thực tập biên dịch tiếng Anh cũng là cơ hội tốt để bạn nâng cao khả năng của bản thân trước khi trở thành một biên phiên dịch tiếng anh chuyên ngành hoặc bất kỳ lĩnh vực nào với vị trí nhân viên chính thức.

    Còn nếu hiện tại bạn đang đứng trước nhiều lựa chọn nghề nghiệp và đang mông lung với những quyết định ảnh hưởng tới tương lai thì việc tham gia chuyên ngành ngôn ngữ hoặc học biên phiên dịch bạn nên cho vào danh sách ưu tiên để cân nhắc. Nhưng học ngành này ở đâu? Học biên phiên dịch tiếng Anh ở đâu TP. Hồ Chí Minh?… Một ngành nghề hot như vậy không thiếu địa chỉ, cơ sở để bạn đăng ký học. Nếu bạn đã có nền tảng kiến thức về ngôn ngữ cơ bản việc thi vào các trường Cao Đẳng, Đại học có chuyên ngành biên phiên dịch là không hề khó. Một số cơ sở đào tạo biên phiên dịch để bạn tham khảo như:

    + Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội

    + Trung tâm Đào tạo – Dịch thuật HACO

    + Trung tâm Ngoại ngữ Hà Nội

    + Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

    + Trường Đại học Kinh tế – Tài chính

    + Cơ sở Ngoại ngữ – Hội nghiên cứu ngoại ngữ dịch thuật TP. Hồ Chí Minh

    + Trường Đại học Tôn Đức Thắng

    Theo tìm hiểu về thông tin các cơ sở đào tạo, TP. Hồ Chí Minh là nơi có nhiều địa chỉ đào tạo biên phiên dịch tiếng Anh tập chung nhất có thể bởi đây là nơi có cơ hội nghề nghiệp biên phiên dịch chiếm ưu thế. Người lao động có thể tìm việc làm tại TP. Hồ Chí Minh thông qua website chúng tôi

    Việc làm biên phiên dịch có cả công việc dịch thuật tiếng Anh tại nhà không yêu cầu bạn phải làm giờ hành chính và không cần làm việc cố định tại một địa điểm. Phiên dịch tiếng anh tại nhà hoặc làm phiên dịch tiếng anh online bạn sẽ giảm bớt đi áp lực về thời gian, và đây cũng có thể là một lựa chọn công việc làm thêm cho sinh viên ngành ngôn ngữ/ ngành biên phiên dịch hay dành cho các bà mẹ bỉm sữa.

    Mức lương của một biên phiên dịch phụ thuộc vào khối lượng công việc và chất lượng bản dịch. Vậy nên mức lương nhiều hay ít phụ thuộc vào năng lực và sự cố gắng của bạn. Nếu bạn có trình độ và kỹ năng, bạn hoàn toàn có thể kiếm được vài trăm USD/ ngày từ những buổi dịch quan trọng. Cơ hội kiếm tiền nghề phiên dịch đang chờ đợi ứng viên trên chúng tôi với vô vàn các thông tin tuyển dụng biên phiên dịch hấp dẫn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Thuật Bảng Điểm Học Bạ Chính Xác, Uy Tín Tại Hcm 2022
  • Dịch Mẫu Học Bạ Sang Tiếng Anh Chuẩn Xác Nhất Lấy Nhanh
  • Top 5 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Cho Máy Tính Chuẩn Nhất
  • Dịch Bảng Điểm Sang Tiếng Anh
  • Phiên Dịch Tiếng Anh Tại Hà Nội
  • Google Dịch: Google Dịch Là Gì? Dịch Bằng Google Dịch Nhanh Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Nổi Tiếng: Đừng Làm Những Kẻ Phát Ngôn Vô Trách Nhiệm Về Dịch Bệnh!
  • Bá Đạo Chửi Khách “mất Dạy” Vì Đi Ăn Sát Giờ Đóng Cửa, Nữ Nhân Viên Nhận Cái Kết Đắng Từ Cư Dân Mạng
  • Học Ngay 20 Thành Ngữ Nói Về Bóng Đá Để Tự Tin Giao Tiếp Tiếng Anh
  • Tin Ngày 5;trump Dẫn Đầu Về Quỹ Tranh Cử; Facebook Dám Xóa Post Của Tt; Trump
  • ‘hoa Hồng Trên Ngực Trái’ Tập 7, Trà Tiểu Tam Bị Khuê Chửi Là ‘đồ Mất Dạy’
  • Google Dịch là gì?

    Google Dịch (tên tiếng Việt chính thức, lúc đầu gọi là Google Thông dịch, tên tiếng Anh là Google Translate) là một công cụ dịch thuật trực tuyến do Google phát triển. Nó cung cấp giao diện trang web, ứng dụng trên thiết bị di động cho hệ điều hành Android và iOS và giao diện lập trình ứng dụng giúp nhà phát triển xây dựng tiện ích mở rộng trình duyệt web và ứng dụng phần mềm. Google Dịch hỗ trợ hơn 100 ngôn ngữ ở các cấp khác nhau và kể từ tháng 5 năm 2022, đã phục vụ hơn 500 triệu người mỗi ngày.

    Nó dùng để dịch tự động một đoạn văn ngắn, hoặc một trang web sang ngôn ngữ khác, đối với tài liệu có kích thước lớn người dùng cần tải lên cả tài liệu để dịch. Người dùng sau khi xem bản dịch có thể hỗ trợ Google cách dịch khác khi thấy kết quả không được tốt, hỗ trợ này có thể được sử dụng trong các lần dịch sau.

    Ra mắt vào tháng 4 năm 2006 như một dịch vụ dịch máy thống kê, nó đã sử dụng bảng điểm Quốc hội của Liên Hợp Quốc và Châu Âu để thu thập dữ liệu ngôn ngữ. Thay vì dịch trực tiếp ngôn ngữ, trước tiên nó dịch văn bản sang tiếng Anh và sau đó sang ngôn ngữ đích. Trong khi dịch, nó tìm kiếm các mẫu trong hàng triệu tài liệu để giúp quyết định bản dịch tốt nhất. Độ chính xác của nó đã bị chỉ trích và nhạo báng nhiều lần. Vào tháng 11 năm 2022, Google đã thông báo rằng Google Dịch sẽ chuyển sang một công cụ dịch máy mô phỏng dây thần kinh – Google Neural Machine Translation ( GNMT) – dịch “toàn bộ câu tại một thời điểm, chứ không phải từng mảnh một. Nó sử dụng ngữ cảnh rộng hơn này để giúp nó tìm ra bản dịch phù hợp nhất, sau đó nó sắp xếp lại và điều chỉnh để giống như một người nói với ngữ pháp thích hợp hơn”. Ban đầu GNMT chỉ được kích hoạt cho một vài ngôn ngữ trong năm 2022, nhưng nó đang dần được sử dụng cho nhiều ngôn ngữ hơn.

    Theo Wikipedia

    Google dịch có chức năng gì?

    Google Dịch có thể dịch nhiều dạng văn bản và phương tiện, bao gồm văn bản, giọng nói, hình ảnh, trang web hoặc video theo thời gian thực, từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Đến thời điểm tháng 2 năm 2022, công cụ này đã hỗ trợ đến 103 ngôn ngữ với mức độ khác nhau và phục vụ mỗi ngày 200 triệu lượt người sử dụng. Đối với một số ngôn ngữ, Google Dịch có thể phát âm văn bản được dịch, làm nổi bật các từ và cụm từ tương ứng trong văn bản nguồn và văn bản đích, và hoạt động như một từ điển đơn giản cho các từ đơn được đưa vào. Nếu chọn “Phát hiện ngôn ngữ”, văn bản bằng ngôn ngữ không xác định có thể được xác định tự động. Nếu người dùng nhập URL vào văn bản nguồn, Google Translate sẽ tạo ra một liên kết đến một bản dịch máy của trang web. Người dùng có thể lưu các bản dịch vào “một kho từ đã dịch” để sử dụng sau này. Đối với một số ngôn ngữ, văn bản có thể được nhập thông qua bàn phím ảo, thông qua nhận dạng chữ viết tay, hoặc nhận dạng tiếng nói.

      Chức năng hỗ trợ từ phía người dịch: người dùng có thể sửa bản dịch của Google đưa ra nếu muốn, chức năng này có tác dụng gia tăng chất lượng theo thời gian và có hầu hết trong các dịch vụ dịch tự động trực tuyến. Đây là hoạt động tương tác rất quan trọng, là một hình thức huy động trí tuệ của cả cộng đồng.

    • Tích hợp vào dịch vụ tìm kiếm của Google: trong tìm kiếm nếu phát hiện trong kết quả tìm kiếm có đường dẫn là một ngoại ngữ, ngay bên cạnh có liên kết trong dấu ngoặc vuông là [dịch trang này] màu xanh.
    • Tìm kiếm được dịch (Translated Search): là chức năng tìm kiếm bằng tiếng mẹ đẻ trên các trang web bằng tiếng nước ngoài, chẳng hạn muốn tìm về máy tính trên các tư liệu bằng tiếng Pháp nhưng lại không biết nghĩa tương đương của từ này. Khi đó người dùng vẫn có thể tìm kiếm bằng cách gõ cụm từ “máy tính” vào ô “ngôn ngữ của tôi” và chọn ngôn ngữ tiếng Pháp của website mà họ cần tìm kiếm, Google sẽ tự động phiên dịch từ khóa thành ordinateur (nghĩa tiếng Pháp của máy tính) và tìm kiếm trong kho lưu trữ sau đó cho ra kết quả phù hợp với từ khóa đã được dịch đó. Kết quả được chia làm hai cột, cột bên trái là các liên kết đã được dịch ra tiếng Việt, cột bên phải là các liên kết của ngôn ngữ gốc mà trong ví dụ này là tiếng Pháp.
    • Dịch nhanh: là chức năng được mặc định, theo đó thì khi người dùng khi copy đoạn văn bản vào ô cần dịch thì ngay lập tức đoạn văn bản sẽ được chuyển sang ngôn ngữ đích mà không cần phải nhấn nút Dịch, điều này có mục đích tích kiệm thời gian.
    • Đóng góp tài liệu: nếu có một lượng lớn tài liệu song ngữ người dùng có thể trợ giúp cho Google Dịch thuật bằng cách cung cấp các tài liệu song ngữ này, điều đó làm tăng chất lượng các bản dịch với điều kiện các tài liệu đó phải có chất lượng cao.

    2 cách sử dụng google dịch chuẩn nhất là đây:

    • Vào trang chủ của Google Dịch tại địa chỉ: https://translate.google.com/

    Google Dịch được tìm kiếm nhiều nhất

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Tình Huống “hại Não” Với Google Dịch Nói Bậy
  • Dạy Kèm Tiếng Anh Giao Tiếp
  • Giáo Viên Dạy Kèm Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà
  • Gia Sư Dạy Kèm Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà Uy Tín
  • Cần Tìm Gia Sư Giỏi Nhận Dạy Kèm Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà Tphcm
  • Học Tiếng Anh Chuyên Ngành Qua Bài Dịch Kỹ Sư Qs Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Cho Một Bài Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán
  • Biên Phiên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Và Những Hiểu Biết Lý Thú
  • Sinh Viên Đại Học Ngoại Ngữ Có Thể Làm Những Công Việc Nào Sau Khi Tốt Nghiệp?
  • Biên Phiên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Ngành Hot Nhất Hiện Nay
  • Tìm Hiểu Chung Về Ngành Biên Phiên Dịch Tiếng Anh
  • Học tiếng Anh chuyên ngành qua bài dịch Kỹ sư QS là gì? What is quantity surveyor?

    Về Quantity Surveyor in English:

    Every time I hand out my business card, I get the same question, what is a quantity surveyor ? I’m not a land surveyor or a building serveyor. I measure of your construction investment from concept to completion. I’m part architect, part engineer, part general contractor, part lawyer, part accountant. I’m a cost consultant who knows all the trades, a shoulder of building owners developers and contractors. I’m knowledgeable in architecture, engineering and construction design, while most professionals simply view our project in black and white. I’m specially trained to see the craze and keep the project out of the red, whatever you’re building, I ensure you build a return on your investment, so if you build anything and don’t know what a quantity surveyor is perhaps this time you did.

    Về nghề QS bằng tiếng Việt (bài dịch):

    Mỗi lần gửi danh thiếp cho ai đó tôi đều nhận được cùng một câu hỏi: Kỹ sư Quản lý chi phí xây dựng (Kỹ sư QS) là gì ? Tôi không phải kỹ sư trắc địa hay kỹ sư hiện trường. Tôi xác định giá trị đầu tư xây dựng từ khi phác thảo thiết kế cho tới khi hoàn thành công trình. Trong tôi có một phần là kiến trúc sư, một phần là kỹ sư xây dựng, một phần là tổng thầu, một phần của luật sư, một phần của kế toán. Tôi đưa ra các ý kiến tư vấn về giá và chi phí đầu tư xây dựng, tôi phải rất am hiểu về thị trường (xây dựng), là người chịu trách nhiệm cho các dự án đầu tư phát triển của Chủ đầu tư và Nhà thầu. Tôi am hiểu về kiến trúc, về xây dựng và thiết kế xây dựng, trong khi đa phần các chuyên gia nhìn một cách đơn giản về những dự án của chúng tôi như phân rõ trắng và đen. Tôi phải đặc biệt cố gắng để có sự đam mê và giữ cho dự án nằm trong giới hạn báo động đỏ, cho dù bạn xây gì, tôi chắc rằng bạn muốn sinh lợi nhuận từ sự đầu tư của bạn, do đó, nếu bạn xây dựng bất kỳ thứ gì và không biết kỹ sư khối lượng là gì thì có lẽ đây là thời điểm để bạn làm điều đó.

    Vocabulary:

    business card: danh thiếp dùng cho công việc, giao dịch

    land surveyor: kỹ sư trắc địa

    building serveyor: kỹ sư hiện trường, kỹ sư công trình

    in black and white (idiom): rất rõ ràng, phân rõ trắng đen

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Học Tiếng Anh Qua Phim Hiệu Quả. ” Dịch Thuật Công Chứng Trans24H
  • Học Tiếng Anh Bằng Cách Đọc Báo Nước Ngoài
  • Đọc Báo Tiếng Anh: Cách Nâng Cao Vốn Từ Vựng Hiệu Quả
  • Học Tiếng Anh Qua Lời Bài Hát: All Of Me (John Legend And Lindsey Stirling)
  • Học Từ Vựng Tiếng Anh Qua Tin Tức Hàng Ngày
  • Biên Phiên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Ngành Hot Nhất Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Chung Về Ngành Biên Phiên Dịch Tiếng Anh
  • Chuyên Ngành Tiếng Anh Biên
  • Tất Tần Tật Về Ngành Biên Dịch Và Phiên Dịch
  • 3 Cách Dịch Nhanh Văn Bản Tiếng Anh Trên File Pdf Đơn Giản Nhất
  • Cách Dịch Văn Bản Nhanh Từ Tiếng Anh Sang Tiếng Việt
  • 1. Tìm hiểu bản chất khái niệm biên phiên dịch tiếng anh là gì?

    Biên phiên dịch là từ viết tắt của biên dịch và phiên dịch, đây là một trong nhiều ngành nghề được sự quan tâm của người lao động hiện nay. Nhiều người đánh đồng phiên dịch và biên dịch là giống nhau bởi chúng có sự tương tự về khái niệm, tuy nhiên bạn đọc cần nắm rõ biên dịch và phiên dịch là hai hình thức thông dịch khác nhau. Chúng khác nhau về hình thức, cách thức cũng như phương tịch dịch từ tiếng này sang tiếng khác.

    1.1. Thông tin khái niệm biên dịch tiếng anh là gì?

    Nghề biên dịch có tên tiếng anh là translation profession, đây là nghề chuyển tiếp từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thông qua các cách gián tiếp như thông qua văn bản, chuyển dịch các loại ngôn ngữ nước ngoài trong các văn bản, giấy tờ sang loại ngôn ngữ khác theo yêu cầu. Trong nhiều trường hợp và ngữ cảnh thì biên dịch còn được gọi bằng tên khác là dịch thuật viên. Đôi khi, dịch thuật tài liệu là cần thiết của thông dịch viên trong quá trình phiên dịch liên tiếp. Dịch thuật kết hợp giải thích và dịch thuật; trình thông dịch phải kết xuất tài liệu ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích như thể nó được viết bằng ngôn ngữ đích. Dịch thuật thị giác thường xảy ra, nhưng không độc quyền, trong công tác tư pháp và y tế.

    Ngoài ra, biên dịch còn xuất hiện dưới dạng ghi chú phiên dịch hay phiên dịch ghi chú. Nó được sử dụng bởi một số phiên dịch viên, những người diễn đạt lại giao tiếp bằng miệng (như bài phát biểu) toàn bộ hoặc một phần. Những ghi chú như vậy có thể được sử dụng khi trình thông dịch làm việc ở chế độ liên tiếp. Mục đích của việc ghi chú giải thích không phải là để ghi lại những lời nói nguyên văn. Ghi chú phiên dịch không phải là một hình thức tốc ký. Mục đích của họ là viết các ghi chú tối thiểu, trong nháy mắt, gợi ra trong tâm trí của người phiên dịch ý định của một giao tiếp bằng miệng để nó có thể được diễn đạt lại bằng một ngôn ngữ khác.

    1.2. Thông tin khái niệm Phiên dịch tiếng anh là gì?

    Trong tiếng anh phiên dịch là interpter, Phiên dịch là một hoạt động tịnh tiến trong đó người ta tạo ra bản dịch đầu tiên và bản dịch cuối cùng trên cơ sở tiếp xúc một lần với một biểu thức bằng ngôn ngữ nguồn.

    Hai chế độ thông dịch phổ biến nhất là phiên dịch đồng thời, được thực hiện tại thời điểm tiếp xúc với ngôn ngữ nguồn và phiên dịch liên tiếp, được thực hiện khi nghỉ giải lao. Phiên dịch là một hoạt động của con người cổ đại có trước khi phát minh ra văn bản. Tuy nhiên, nguồn gốc của nghề phiên dịch có từ cách đây chưa đầy một thế kỷ.

    Có thể hiểu đơn giản hơn về khái niệm phiên dịch là quá trình chuyển đổi ngôn ngữ của người thứ 3 giữa các bên đang trao đổi thông tin bằng lời, việc phiên dịch diễn ra trực tiếp qua hình thức lời nói, cử chỉ hay điệu bộ giữa các bên nhằm dịch nghĩa, giữ nguyên ngữ nghĩa, giải thích cho các bên để các bên nắm bắt được thông tin.

    Dịch vụ phiên dịch có thể được cung cấp trong nhiều phương thức. Phương thức phổ biến nhất thông qua đó cung cấp dịch vụ phiên dịch là phiên dịch tại chỗ. Phiên dịch tại chỗ hay còn gọi là phiên dịch trực tiếp hoặc đôi khi thông tục là “trực diện”, phương thức phân phối này yêu cầu người phiên dịch phải có mặt thực tế để diễn giải. Trong cài đặt phiên dịch tại chỗ, tất cả các bên muốn nói chuyện với nhau thường được đặt ở cùng một nơi. Đây là phương thức phổ biến nhất được sử dụng cho hầu hết các cài đặt dịch vụ công cộng và xã hội.

    Ngoài hình thức phiên dịch trực tiếp còn có phiên dịch qua điện thoại và phiên dịch qua video. Phiên dịch qua điện thoại cho phép phiên dịch qua điện thoại, phiên dịch qua điện thoại có thể được sử dụng trong cài đặt cộng đồng cũng như cài đặt hội nghị. Phiên dịch qua điện thoại có thể được sử dụng thay cho phiên dịch tại chỗ khi không có thông dịch viên tại chỗ tại địa điểm cần dịch vụ. Tuy nhiên, nó thường được sử dụng cho các tình huống mà tất cả các bên muốn liên lạc đã nói chuyện với nhau qua điện thoại (ví dụ: ứng dụng điện thoại cho bảo hiểm hoặc thẻ tín dụng hoặc yêu cầu qua điện thoại từ người tiêu dùng đến doanh nghiệp). Với phiên dịch video, trình thông dịch ngôn ngữ ký hiệu hoạt động từ xa với nguồn cấp dữ liệu video và âm thanh trực tiếp để người phiên dịch có thể thấy bên điếc hoặc câm, trò chuyện với bên nghe và ngược lại. Giống như phiên dịch qua điện thoại, phiên dịch video có thể được sử dụng cho các tình huống không có thông dịch viên tại chỗ. Tuy nhiên, phiên dịch video không thể được sử dụng cho các tình huống trong đó tất cả các bên đang nói chuyện qua điện thoại một mình. Giải thích VRI và VRS yêu cầu tất cả các bên phải có thiết bị cần thiết. Một số thiết bị tiên tiến cho phép người phiên dịch điều khiển máy quay video, để phóng to và thu nhỏ, và hướng máy ảnh về phía bên đang ký.

    2. Cơ hội nghề nghiệp đối với nghề biên phiên dịch

    Nghề biên phiên dịch ngày càng hot và có xu hướng tăng mạng trong thời gian gần đây. Nhu cầu tuyển dụng tăng cao, người lao động có cơ hội tìm được nhiều vị trí ứng tuyển phù hợp trong ngành phiên dịch. Cùng tìm hiểu một vài vị trí tuyển dụng biên phiên dịch tiếng anh tại TPHCM, Hà Nội đang được tuyển dụng nhiều hiện nay đó là:

    2.1. Vị trí thông dịch tiếng anh

    Công việc của những thông dịch viên tiếng anh có nhiệm vụ chính là phiên dịch tiếng anh sang tiếng việt. Thông thường để đảm nhiệm những vị trí này thì người ứng viên cần phải học phiên dịch tiếng anh theo các lớp, khóa đào tạo thông dịch viên. Vị trí thông dịch viên ở từng nơi sẽ có sự khác nhau về yêu cầu tuyển dụng. Tuy nhiên thông thường họ cần những người đã qua đào tạo, có trình độ bằng cấp, chứng chỉ cao sẽ được ưu tiên hơn.

    Hiện nay khi tuyển vị trí thông dịch, các cơ quan hay doanh nghiệp sẽ định hướng rõ cho việc tuyển phiên dịch hay biên dịch. Tùy từng loại mà công việc của ứng viên cần thực hiện cũng như yêu cầu tuyển dụng sẽ khác nhau.

    Ví dụ khi tuyển biên dịch thì thường là các nhà xuất bản sách sẽ tuyển biên dịch sách tiếng anh, công việc chủ yếu là dịch các loại ngôn ngữ khác nhau dịch sang tiếng anh, nhiều ngành sẽ yêu cầu dịch tiếng anh chuyên ngành. Còn phiên dịch thường tuyển dụng ở những doanh nghiệp nước ngoài để dịch trong các cuộc họp.

    2.2. Vị trí biên phiên dịch tiếng anh tại nhà

    Các thông tin tuyển biên dịch tiếng anh tại nhà hiện nay được khá nhiều người có trình độ tiếng anh quan tâm, bởi việc làm ở nhà có thể linh động thời gian cũng như nơi làm việc. Chỉ cần bạn có trình độ tiếng anh đủ tiêu chuẩn là bạn đã đủ đáp ứng yêu cầu. Bạn có thể nhận làm biên dịch tiếng anh tại nhà cho nhiều bên, bạn chỉ cần sắp xếp thời gian hợp lý và hoàn thành công việc theo đúng deadline là được.

    Với công việc này, tùy theo mức độ cũng như trình độ biên dịch cũng như độ khó, hạn deadline mà mức lương sẽ có sự thay đổi. Tuy nhiên sẽ không có mức cao nhất bởi bạn làm càng nhiều, lương sẽ càng cao.

    Công việc dịch thuật tiếng anh tại nhà được khá nhiều người quan tâm và muốn ứng tuyển cho vị trí này. Thông thường, các trung tâm, doanh nghiệp sẽ thuê dưới dạng cộng tác viên theo dự án nếu cần và các thông tin tuyển biên dịch tiếng anh tại nhà, tuyển biên dịch tiếng anh online luôn là những thông tin tuyển dụng được quan tâm hàng đầu.

    2.3. Vị trí phiên biên dịch tiếng anh online tại nhà

    3. Những thông tin cần biết thêm về biên phiên dịch tiếng anh là gì?

    Phần lớn các phiên dịch viên hội thảo toàn thời gian chuyên nghiệp làm việc cho các cơ quan phiên dịch điện thoại, tổ chức chăm sóc sức khỏe, tòa án, hệ thống trường học và các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, (cho Dịch vụ Phiên dịch Liên Hợp Quốc ), Liên minh Châu Âu hoặc Liên minh Châu Phi. Không có cơ quan kiểm tra hoặc chứng nhận trên toàn thế giới tồn tại cho tất cả các loại thông dịch viên. Đối với phiên dịch hội nghị, có Hiệp hội phiên dịch quốc tế, hay AIIC.

    Các khu vực, quốc gia cụ thể hoặc thậm chí các thành phố sẽ có tiêu chuẩn chứng nhận riêng. Trong nhiều trường hợp, sinh viên tốt nghiệp của một chương trình đại học tầm cỡ nhất định hoạt động như một chứng nhận thực tế để giải thích hội nghị.

    Tuy nhiên, để trở thành những nhà thông dịch viên chuyên nghiệp thì bạn cần có cơ hội trải nghiệm, thực tập biên dịch tiếng anh thực tế tại các cuộc họp hay biên dịch các cuốn sách chuyên ngành. Sau một thời gian nhất định bạn sẽ có được những kinh nghiệm đáng quý cho quá trình làm việc sau này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Viên Đại Học Ngoại Ngữ Có Thể Làm Những Công Việc Nào Sau Khi Tốt Nghiệp?
  • Biên Phiên Dịch Tiếng Anh Là Gì? Và Những Hiểu Biết Lý Thú
  • Tiêu Chuẩn Cho Một Bài Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán
  • Học Tiếng Anh Chuyên Ngành Qua Bài Dịch Kỹ Sư Qs Là Gì?
  • Bí Quyết Học Tiếng Anh Qua Phim Hiệu Quả. ” Dịch Thuật Công Chứng Trans24H
  • Despacito Là Gì? Lời Dịch Tiếng Việt Bài Hát Despacito (Lyrics)

    --- Bài mới hơn ---

  • Despacito Là Gì? Ý Nghĩa Của Bài Hát Despacito, Nguồn Gốc Ra Đời Và Lời Bài Hát Despacito
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Liệu Có Khó Không?
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Có Khó Không ?
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Dễ Hay Khó ” Amec
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Có Khó Khăn?
  • Ca sĩ Puerto Rico Daddy Yenkee đã mang một làn gió không thể nào đặc biệt hơn trong kỷ nguyên nhạc số của nhân loại. Tính đến thời điểm này, bài hát Despacito đang có lượng người xem cực khủng lên đến hơn 6.5 tỷ view trên Youtube.

    Nghe nhiều là thế nhưng trên thực tế, rất nhiều người vẫn luôn thắc mắc không biết từ Despacito là gì? Despacito có nghĩa là gì? Ý nghĩa thực sự ẩn sâu trong bài hát nổi tiếng lọt vào top đầu của bảng xếp hạng hơn 40 quốc gia là gì?

    Despacito trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là chậm lại, khẽ thôi, nhẹ nhàng thôi nào. Despacito cũng là một ca khúc được 2 nghệ sĩ nhạc pop xuất chúng là Puerto Rico và Luis Fonsi phát hành.

    Despacito hiểu sang tiếng Việt là gì?

    Despacito là tiếng Tây Ban Nha, khi dịch sang tiếng Việt sẽ tồn tại ở 2 dạng từ:

    • Tính từ: dịch là nhẹ nhàng
    • Động từ: dịch là khẽ thôi, chậm lại

    Bản chất chính của từ này dùng để chỉ hành động rất nhẹ nhàng với cảm xúc lâng lâng và thăng hoa khó tả.

    Vào tháng 1 năm 2022, những giai điệu đầu tiên của ca khúc Despacito được vang lên, với những câu từ giàu ý nghĩa, dồi dào chất pop, bài hát đã nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng của hơn 40 quốc gia.

    Ý nghĩa của bài hát Despacito

    Nội dung chính của bài hát Despacito chính là miêu tả cuộc vui trong một quán bar. Với sự hòa mình vào điệu nhạc, nhảy múa vui cười bỏ qua hết mọi buồn vui của thế giới ngoài khia để tận hưởng sự mới mẻ và ma mị của cảm xúc thăng hoa trong men say tình ái.

    Ca sĩ Puerto Rico Daddy Yankee đã đưa ca khúc Despacito đến với tất cả mọi người trên thế giới. Lời bài hát bay bổng, bốc lửa, mang đậm chất Mỹ Latin. Tác giả đã đưa âm nhạc của người Mỹ Latin lên tầm cao mới.

    Sức hút của Despacito nằm ở đâu?

    Despacito chính là một bài hát hội tụ rất nhiều yếu tố để thành công vang dội như ngày hôm nay. Trước hết thì Despacito là ca khúc với giai điệu khiến bạn không thể gạt ra khỏi đầu sau khi đã nghe vài lần. Despacito đang gây sốt này đã nhanh chóng có được 1 bản remix kết hợp với ngôi sao quốc tế – Justin Bieber.

    Tại Mỹ thì cộng đồng người nói tiếng Tây Ban Nha thuộc top đông đảo nhất so với các ngôn ngữ khác, nhưng vẫn sau tiếng Anh, và với khoảng 56.6 triệu người thì đã giúp Despacito nhanh chóng tăng nhiệt tại Mỹ và nhiều nước trên khắp thế giới.

    1. Thứ nhất, về khía cạnh tâm lý và cảm xúc người nghe

    Nếu như bạn không rành tiếng Tây Ban Nha nhưng khi nghe qua Despacito thì bạn sẽ rất dễ hiểu, dễ ghi nhớ và cũng phát âm chúng một cách dễ dàng. Và khi bài hát được phát lên thì giai điệu sẽ ngay lập tức hiện lên trong đầu họ. Chính điều này cũng góp phần giúp cho bài hát Despacito ngày càng trở nên phổ biến hơn.

    2. Thứ hai, về khía cạnh giai điệu

    Giai điệu là một phần quan trọng quyết định sự thành công của một bài hát. Ca khúc Despacito có nhịp điệu nhanh, giọng hát cao pha trộn với nhiều tình tiết bất ngờ nên được phát ở nhiều địa điểm khác nhau như siêu thị, nhà hàng, đường phố, cửa hàng cafe,…

    Lời bài hát Despacito dịch sang tiếng Việt

    Em yêu ưi, em có biết từ nãy đến giờ anh vẫn mải ngắm nhìn em

    Anh đã thấy em nhìn anh như thể

    Tựa như chỉ đường cho anh đến bên em.

    Em là cục nam châm

    Anh là kim loại

    Anh đến gần, lên kế hoạch tấn công

    Chỉ cần nghĩ thế thôi, đã thấy rộn ràng trong lòng.

    Anh thấy thích em hơn bình thường rồi đấy

    Các giác quan của anh căng lên như đang đòi hỏi

    Nhưng anh biết điều này

    Chẳng thể nào nên vội

    Chậm thôi em à

    Anh muốn hít hà cổ em thật chậm rãi

    Hãy để anh ghé tai em thì thầm một điều gì đấy

    Để cả khi anh vắng mặt

    Em vẫn phải nhớ đến anh

    Chậm thôi em à

    Anh muốn cởi em ra và hôn chầm chậm

    Như viết vào những bức tường ma trận mê hoặc

    Để biến cơ thể em thành một bản viết tay

    Lên đi, lên nà, lên đi, lên đi nà cưng à

    Anh muốn thấy tóc em cũng nhảy

    Bị cuốn theo nhịp điệu của anh

    Hãy cho đôi môi của anh được biết

    Những nơi nào em thích nhất …. cưng à

    Hãy để anh mơn man những vùng nguy hiểm

    Cho đến khi em thét lên vì sung sướng

    Đến quên luôn bản thân mình là ai

    Nếu anh có đòi hôn

    Anh biết là em đang nghĩ

    Từ lâu anh đã muốn rồi

    Em ơi, cưng à

    Cái này là trao, là cho

    Và em có biết

    Trái tim em bên anh sẽ nổ tung trời

    Bum bùm

    Hãy thử hôn anh xem mùi vị thế nào

    Để em biết mình yêu được bao nhiêu.

    Anh không vội đâu cưng à

    Anh muốn hai ta bắt đầu chuyến đi chầm chậm

    Rồi nhanh dần đến hoang dại em ơi

    Từng bước một, từng bước một thôi em à

    Nhẹ nhàng, nhẹ nhàng như thế

    Em hôn anh mới khéo làm sao

    Anh thấy em thật là ranh mãnh

    Với sự tinh tế của mình

    Từng bước thôi, khẽ thôi cưng à

    Bởi vì cái đẹp của em thật là hóc búa

    Nhưng để giải nó

    Anh có miếng ghép này.

    – Điệp khúc –

    Chậm thôi cưng à

    Và chúng ta sẽ làm điều đó

    Ở một bãi biển của Puerto Rico

    Cho đến khi sóng cũng phải thốt lên

    Cưng ơi, lạy Chúa.

    Để dấu ấn từ anh mãi mãi theo em.

    ( Điệp khúc) Khẽ thôi cưng à!

    Lời bài hát này mang tính chủ quan và tự biên của bản thân. Nhưng chúng ta có thể thấy đây là một bài hát mô tả mối quan hệ của nam và nữ đang ở trong giai đoạn mê mị, mượt mà và lãng mạn nhất. Cùng với phong cách biểu diễn đậm chất Latin. Despacito đã đạt được những thành công rất lớn ở cả 2 mặt nghệ thuật và doanh thu kỷ lục trong ngành công nghiệp âm nhạc của làng nhạc thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Chỉ Học Tiếng Pháp Ở Tp Biên Hòa
  • Học Tiếng Pháp Ở Tp Biên Hòa
  • Tác Dụng Của Việc Học Tiếng Tây Ban Nha Qua Bài Hát Thiếu Nhi
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Qua Những Bài Hát Hay
  • Học Tiếng Tây Ban Nha Qua Bài Hát Như Thế Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100