【#1】Việc Truyền Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Người Việt Tại Nga

Trao phần thưởng cho các học sinh giỏi tại LB Nga. Ảnh: BaoNga.com

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng đúc kết: “Tiếng Việt của ta giàu và đẹp lắm, mỗi từ mỗi câu là một nốt nhạc trầm bổng” để nói lên sự đa dạng, giàu màu sắc của ngôn ngữ dân tộc. Thực tế, tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhưng đồng thời trong lòng nó cũng chấp nhận những màu sắc địa phương ít nhiều khác biệt. Một điều dễ nhận thấy là giọng nói của cư dân miền đồng bằng sông Hồng và giọng nói của cư dân miền đồng bằng sông Cửu Long, tuy có nhiều điểm khác biệt, song khi tiếp xúc trò chuyện với nhau, không cần phải pha giọng sửa tiếng, họ vẫn có thể hiểu được nhau không mấy khó khăn.

Có thể thấy rằng tiếng Việt ngày nay là kết quả của tất cả những cuộc tiếp xúc ngôn ngữ đã diễn ra trong suốt chiều dài của lịch sử nước ta. Ðể có được một ngôn ngữ như tiếng Việt ngày nay, ông cha chúng ta từ thế hệ này sang thế hệ khác một mặt là chủ động tiếp thu những gì cần thiết và mặt khác là từ chối tất cả những gì gây rối ren cho tiếng mẹ đẻ của mình. Cho nên, giữ gìn và phát triển tiếng nói và chữ viết của dân tộc được đặt ra một cách thường trực, thể hiện tinh thần và lòng yêu nước, như cách nói của học giả Phạm Quỳnh – người tiên phong trong việc quảng bá, bảo vệ chữ Quốc ngữ, dùng tiếng Việt thay cho chữ Nho hay tiếng Pháp: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn, nước Nam còn”.

Tiếng Việt đang dần mất vai trò trong đời sống của trẻ em Việt tại Nga

Hiện nay tiếng Việt đang dần bị lai căng ngay trên quê hương mình bởi tiếng nước ngoài (phổ biến là tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn) xâm lấn… có nguy cơ đe dọa tới việc gìn giữ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Do đó, ở trong nước càng gìn giữ, đảm bảo sự trong sáng của tiếng Việt bao nhiêu, thì người Việt ở nước Nga nói riêng, thế giới nói chung phải chung tay góp sức, gìn giữ nó bấy nhiêu.

Muốn gìn giữ, trân trọng và phát huy một di sản, một giá trị nào đó phải xuất phát từ trách nhiệm, cũng như tình yêu thực sự. Tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh người thanh niên chơi đàn bầu trong buổi mừng Tết Nguyên Đán tại Moskva mùa Xuân trước. Tiếng đàn bầu da diết của anh không chỉ tấu lên những cảm xúc của mình, mà như lời anh nói, còn để thế hệ sau này biết được thêm nhiều bài hát hay, ngôn ngữ trong sáng, để họ biết yêu quê hương, yêu lời ca, tiếng hát bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Những làn điệu dân ca, bến nước, sân đình, con đò và những nhịp cầu tre nơi miền Tây sông nước… tất cả đều được thể hiện bằng thứ ngôn ngữ đa màu sắc của tiếng Việt, khơi gợi trong trái tim chúng ta về một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt. Nhưng một thực tế đáng buồn là thế hệ người Việt thứ hai, thứ ba ở Nga đang ngày càng xa dần với tiếng dân tộc của mình, khiến tiếng Việt bị mai một, nhạt nhòa dần. Thật buồn khi chúng ta phải chứng kiến chính những đứa con, đứa cháu của mình phát âm sượng sạo, ấp úng, lắp bắp khi dạ, thưa bằng tiếng Việt trong khi lại nói rất trôi chảy bằng tiếng bản địa.

Người Việt ở Nga hiện nay chủ yếu là những tiểu thương, mưu sinh bằng công việc buôn bán, không có nhiều thời gian gần gũi để chăm sóc, chỉ bảo thường xuyên cho con cái mình. Đa phần trẻ Việt được gửi cho các bảo mẫu người Nga nuôi từ khi bắt đầu chập chững biết đi. Khi đến tuổi đi học, trẻ Việt cả ngày ở trường, học ăn, học uống, học chơi, học văn hóa của người Nga. Hơn nữa, phần đông cha mẹ các cháu không đánh giá cao tầm quan trọng của việc giáo dục ngôn ngữ, về nết ăn, nết ở theo phong tục Việt cho con em, thường xuyên phó mặc cho nhà trường, xã hội. Sự nhận thức hời hợt đó đã dẫn đến việc nhiều thanh, thiếu niên Việt ở Nga hiện nay không hiểu về lối sống, văn hóa Việt Nam. Đơn giản nhất là mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái, ông bà – cháu chắt trong gia đình ngày càng trở nên xa lạ. Chúng cũng lạ lẫm trong ẩm thực, những món ăn dân dã của người Việt hoặc những giai điệu mang âm hưởng dân gian xưa như tuồng, chèo, cải lương… Những điều nhỏ bé ấy vô tình lấy đi của chúng chỗ dựa tinh thần vững chắc, chúng cũng không có cảm giác thân thương, gắn bó với chính quê hương mình, để một ngày nào đó, khi đã trưởng thành, chúng sẽ thấy cô đơn, trống rỗng và chênh vênh giữa nơi đất khách quê người.

Tham gia những hoạt động cộng đồng sẽ giúp các em hiểu hơn về văn hóa dân tộc Gia đình – nhân tố quyết định trong việc giữ gìn tiếng Việt cho trẻ em

Một điều dễ nhận thấy là không riêng gì trẻ em, mà ngay chính các bậc phụ huynh cũng không hiểu hết tầm quan trọng của việc học tiếng Việt. Họ nghĩ rằng con cái họ học tập ở Nga chỉ cần tiếng Nga giỏi là được, học đọc, viết tiếng Việt không có mục đích rõ ràng. Do đó, hướng trẻ em Việt gần gũi với văn hóa Việt là điều cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Gây dựng một thế hệ trẻ yêu quê hương, biết ngôn ngữ, hiểu văn hóa dân tộc không hề dễ dàng, nhưng cũng không quá khó… Vấn đề cần đặt ra với những người có trách nhiệm là phải bắt đầu từ đâu?

Việc dạy học diễn ra riêng lẻ tại một số nơi, một số cộng đồng không thể giải quyết được vấn đề. Chúng ta có thể tổ chức đón giáo viên từ Việt Nam sang dạy tiếng Việt, nhưng thực sự rất khó khăn, khi nước Nga thì rộng lớn mênh mông, trẻ Việt lại không được sống tập trung thành một cụm dân cư hoặc không có các “Làng Việt Nam” như ở một số nước. Hơn nữa, các em có độ tuổi chênh lệch nhau, rồi trình độ, nhận thức cũng khác nhau. Điều quan trọng hơn cả, để đón được một giáo viên sang cần phải chi phí quá lớn trong việc đi lại, trả lương, nơi ăn, chốn ở, thuê trường lớp và việc hợp pháp hóa thủ tục cho giáo viên được ở lại trên nước Nga là điều rất khó khăn trong giai đoạn hiện nay. Rồi quá trình tuyển chọn giáo viên cũng nhiều rào cản, khi không phải giáo viên tiểu học nào cũng sẵn sang rời xa quê hương, sang Nga làm việc.

Để trẻ em học được tiếng Việt thì điều quan trọng nhất phụ thuộc hoàn toàn vào các bậc phụ huynh. Cha mẹ cần phải kiên trì và dành nhiều tâm huyết. Để các cháu có thể hiểu và cảm nhận rõ nét hơn về văn hóa Việt, thì ngay từ lúc lọt lòng, những câu ca dao, tục ngữ cần được “gieo mầm” trong tâm hồn trẻ qua những lời hát ru mượt mà, đầm ấm.

Để giúp thệ hệ trẻ có thể hiểu và cảm nhận được bản sắc văn hóa dân tộc thì hãy tạo môi trường sinh hoạt, không gian văn hóa Việt nhiều hơn. Hãy sắp xếp thời gian để mỗi ngày những đứa trẻ có thể được ăn một bữa cơm cùng gia đình với những món ăn thuần Việt, tạo thói quen của trẻ với ẩm thực Việt Nam. Việc dạy tiếng Việt cho trẻ trong bữa ăn, trong sinh hoạt là điều dễ dàng nhất, mỗi món ăn, mỗi thứ gia vị, mỗi dụng cụ sinh hoạt và mỗi câu chuyện thân mật của gia đình đều dễ dàng thẩm thấu vào tâm hồn trẻ hơn với việc dạy tiếng Việt theo những giáo trình khô khan. Đưa trẻ đi cùng trong những dịp đến chơi nhà bạn bè, thăm hỏi người ốm đau, bệnh tật, tiệc cưới, tiệc hỏi để trẻ cảm nhận được nét đẹp trong văn hóa thăm hỏi của người Việt Nam. Tạo điều kiện cho trẻ mua sắm hoa quả, dọn dẹp, trang trí ban thờ tổ tiên trong những dịp lễ tết sẽ giúp trẻ hiểu thêm về văn hóa tín ngưỡng, nghi lễ thờ cúng của người Việt. Điều trở ngại lớn nhất ở đây là hầu hết các phụ huynh học sinh phần vì quá bận bịu với công việc buôn bán, phần vì chưa có phương pháp nuôi dạy trẻ đúng cách nên dẫn tới việc trẻ Việt ở Nga đang “mất gốc” tới mức báo động.

Những làn điệu dân ca, bến nước, sân đình, con đò và những nhịp cầu tre nơi miền Tây sông nước… tất cả đều được thể hiện bằng thứ ngôn ngữ đa màu sắc của tiếng Việt, khơi gợi trong trái tim chúng ta về một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt Vai trò của báo chí trong việc dạy và học tiếng Việt ở Nga

Báo chí truyền thông có vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền làm cho người Việt ở Nga hiểu được tầm quan trọng của việc học tiếng Việt. Tuy nhiên, ở Nga hiện nay lượng phóng viên có tâm huyết với đề tài này thật hiếm hoi. Các cơ quan truyền thông của nhà nước như TTXVN, Đài THVN, Đài TNVN đều có cơ quan thường trú ở Nga nhưng do bận quá nhiều công việc, hơn nữa lượng phóng viên ít nên không thể đi sâu, đi sát tới đời sống cộng đồng được, nhất là đề tài “dạy và học tiếng Việt”. Một số trang web, tờ báo của người Việt ở Nga thì không có phóng viên chuyên nghiệp, không được đào tạo cơ bản, không có thẻ báo chí, không được giao phó trách nhiệm, chủ yếu viết theo cảm hứng cho nên hiệu quả công việc chưa cao. Các tờ báo ở Việt Nam, kể cả các báo lớn đều không có phóng viên thường trú ở Nga và thậm chí có rất ít cộng tác viên.

Cộng đồng hiện nay rất cần những bài báo phê phán, những lời khuyên hữu ích tới các bậc phụ huynh đang sao nhãng trong việc chăm sóc trẻ. Cần những bài phân tích, chỉ ra những hậu quả, hệ lụy từ những việc làm ấy. Và càng cần hơn những bài viết, những phóng sự truyền hình hay về những tấm gương, những kinh nghiệm nuôi dạy trẻ thành công, những gia đình luôn giữ gìn được nền nếp Việt và các cháu học sinh giỏi, học sinh xuất sắc trong trường phổ thông Nga, nhưng lại đọc, viết và có vốn tiếng Việt phong phú.

Có thể thấy rằng, việc dạy học tiếng Việt ở Nga hiện nay đang diễn ra tự phát, riêng lẻ mà chưa đưa vào trong một lộ trình cụ thể. Đối tượng học sinh cũng không toàn diện. Cho nên, việc dạy học chỉ mang tính chất tạm thời. Muốn xây dựng và phát triển lâu dài tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài cũng như phát triển ngôn ngữ Việt Nam trên đất Nga thì cần phải có kế hoạch, chiến lược cụ thể, khoa học và sát thực.

Những năm gần đây, Đại sứ quán Việt Nam tại Nga thường xuyên tổ chức trao phần thưởng cho các học sinh Việt Nam đạt danh hiệu học sinh giỏi và học sinh xuất sắc trong các trường phổ thông Nga. Thiết nghĩ, Đại sứ quán Việt Nam tại Nga nên phát động phong trào học tiếng Việt cho trẻ em Việt. Thông qua Hội người Việt, Hội doanh nghiệp, Hội phụ nữ, các hội đồng hương và các chi hội người Việt để lập danh sách trẻ em Việt trên toàn nước Nga, ghi rõ điều kiện, hoàn cảnh, độ tuổi, lớp học của từng cháu; tổ chức phân phát sách dạy tiếng Việt đến tay từng gia đình có trẻ đang đi học; động viên các gia đình quan tâm đến việc học tập của trẻ hơn nữa, tiến tới đạt được mục đích “Mỗi phụ huynh học sinh là một giáo viên tiếng Việt tại gia”; lập ra các thư viện sách tiếng Việt ở các Kí túc xá có người Việt sinh sống, ở các thành phố có đông người Việt trên toàn Liên bang, sưu tầm các bài hát tiếng Việt hay, các phần mềm dạy tiếng Việt, các đĩa video về quê hương đất nước; thường xuyên động viên các cháu tham gia đọc, viết, tạo thư viện thành sân chơi bổ ích cho các cháu; tổ chức các cuộc thi “Vở sạch, chữ đẹp”, tiến tới tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, văn hóa, địa lý, danh nhân, quê hương, đất nước….

Để làm tốt những việc trên, rất cần tới sự tuyên truyền của truyền thông, báo chí.

Là người sống ở nước Nga hơn 20 năm nay, hơn nữa lại rất tâm huyết trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa và tiếng Việt của cộng đồng người Việt ở Nga, tôi đã từng viết rất nhiều bài báo về đề tài này và đã đăng rộng rãi ở một số trang web của người Việt ở Nga cũng như một số báo trong nước. Qua một thời gian tìm hiểu, tôi nhận thấy có rất nhiều phụ huynh quan tâm và phản hồi một cách tích cực. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, để tuyên truyền sâu, rộng và có sức lan tỏa thì phải cần tới sự đồng lòng của các cơ quan truyền thông báo chí trong nước và của cộng đồng người Việt trên nước Nga.

Để báo chí cộng đồng thực sự gần gũi với đời sống người Việt xa xứ và phát huy tốt vai trò trong việc truyền dạy tiếng Việt cho thế hệ trẻ người Việt ở Nga, chúng tôi mong muốn nhận được sự quan tâm của Nhà nước tới những người làm báo cộng đồng, tạo điều kiện bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí cho những người có tâm huyết. Các tờ báo ở Việt Nam, thậm chí cả VTV4 nên tìm những cộng tác viên tốt, làm hợp đồng ràng buộc trách nhiệm pháp lý trong việc cung cấp thông tin, bài viết. Tạo điều kiện cấp thẻ CTV để họ dễ dàng tác nghiệp hơn.

Vì một thế hệ trẻ Việt ở Nga, tôi tha thiết đề nghị tất cả chúng ta, những người có trách nhiệm cùng vào cuộc để các thế hệ trẻ người Việt ở Nga trở thành những công dân Việt Nam hữu ích, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nơi xứ người và góp phần xây dựng quê hương Việt Nam ngày càng giàu đẹp hơn./.

Nguồn: Ngô Tiến Điệp/ Quehuongonline

【#2】Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số Trước Khi Vào Lớp 1

Toàn tỉnh Kon Tum có trên 60% học sinh mẫu giáo là người dân tộc thiểu số. Để tăng cường dạy tiếng Việt trong lớp mẫu giáo, đội ngũ giáo viên phân loại khả năng tiếng Việt của từng trẻ để có phương pháp, nội dung tăng cường tiếng Việt phù hợp, thiết thực; lồng ghép việc tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động giáo dục trong ngày.

Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số 5-6 tuổi, đang hình thành và phát triển những kỹ năng nghe, nói, tiền học đọc, tiền học viết, sẽ được nhận dạng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt; tập tô, tập đồ các nét chữ, sao chép một số kí hiệu, chữ cái; cách cầm bút, để vở, tư thế ngồi viết… thông qua các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động, qua các buổi tham quan.

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum quan tâm đầu tư đủ nguồn tài liệu, học liệu cho giáo viên và trẻ lứa tuổi mẫu giáo; tăng cường việc sử dụng đồ dùng trực quan thông qua những vật thật, tranh ảnh, phim, hình; sử dụng hiệu quả phương tiện hỗ trợ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết…

Ông Nguyễn Hóa, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum cho biết: Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum đã phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ xây dựng các câu lạc bộ đọc sách tại thôn, làng; giao lưu các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tổ chức các trò chơi học tập; thi kể chuyện; tham gia ngày hội nói tiếng Việt; giao lưu tiếng Việt của các em; hướng dẫn cha mẹ của trẻ tạo dựng môi trường tiếng Việt tại nhà và tăng cường giao tiếp với trẻ; tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi giao lưu với học sinh tiểu học; phối hợp với hội cha mẹ, già làng để sưu tầm các tác phẩm văn học dân gian (truyện, thơ, câu đố, bài hát…) của đồng bào dân tộc thiểu số, đưa vào sử dụng trong công tác giáo dục tại lớp mẫu giáo; khuyến khích phụ huynh, các tổ chức đóng góp đồ dùng, đồ chơi, vật dụng sinh hoạt địa phương để sử dụng trong hoạt động tập nói tiếng Việt.

Theo ông Nguyễn Hóa, sắp tới ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum sẽ kết hợp các nguồn kinh phí tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng các chuyên đề nâng cao năng lực cán bộ quản lí, giáo viên dạy trẻ em, học sinh người dân tộc thiểu số và đội ngũ cộng tác viên hỗ trợ ngôn ngữ; tập trung dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như ngôn ngữ thứ hai; phương pháp và cách dạy học phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số. Ngoài ra, ngành sẽ cấp phát tranh, in tài liệu tập nói Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số; xây dựng mô hình điểm về tăng cường môi trường tiếng Việt trong trường mầm non, trường tiểu học có trẻ em người dân tộc thiểu số tại một số địa phương.

Kon Tum phấn đấu đến năm 2021 có ít nhất 20% trẻ em người dân tộc thiểu số trong độ tuổi nhà trẻ được đến trường và 92% trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi mẫu giáo được đến trường.

【#3】Quảng Ninh: Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Người Dân Tộc Thiểu Số

Hiện nay, gần 80% giáo viên dạy trẻ em vùng dân tộc thiểu số là người dân tộc Kinh, không thông thạo tiếng dân tộc của trẻ. Việc bất đồng về ngôn ngữ đang làm hạn chế giao tiếp, giảm hiệu quả truyền đạt ngôn ngữ tiếng Việt giữa giáo viên và học sinh.

Có thể thấy khó khăn về giao tiếp tiếng Việt chính là rào cản lớn nhất của các trẻ dân tộc thiểu số (DTTS) khi vào lớp 1. Vì vậy, thời gian qua, một số tỉnh trên địa bàn cả nước đã tăng cường chỉ đạo các cơ sở giáo dục linh hoạt, sáng tạo thiết kế môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm; tạo điều kiện cho trẻ nhận biết và phát âm tiếng Việt mọi lúc, mọi nơi bằng cách gắn chữ cái lên các thiết bị đồ chơi, đồ dùng…

Ngoài ra, việc tổ chức xây dựng không gian phòng học tại các lớp tiểu học giàu chữ viết tiếng Việt để giúp học sinh có nhiều cơ hội nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, giúp các em có nhiều cơ hội và thuận tiện trong việc kết nối sử dụng tài liệu tiếng Việt trong học tập cũng được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu đó cần phải quan tâm đến công tác xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên công tác tại vùng dân tộc thiểu số. Đây được coi đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng cường tiếng việt cho trẻ em mầm non vùng DTTS.

Chia sẻ về vấn đề này, đại diện phòng Giáo dục Mầm non (Sở GD&ĐT Quảng Ninh) cho biết: “Thời gian qua, ngành giáo dục Quảng Ninh đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ về tăng cường tiếng việt (TCTV) cho trẻ; Thành lập đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán gần 200 người ở các cấp để triển khai hoạt động TCTV cho trẻ em vùng DTTS.

Công tác bồi dưỡng giáo viên về TCTV cho trẻ em vùng DTTS không chỉ được Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh quan tâm mà còn thường xuyên được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Các hình thức bồi dưỡng được đa dạng hóa thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, hội thi, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm…

Đổi mới rõ nét nhất là Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các cơ sở có trẻ em vùng DTTS tăng cường các hoạt động bồi dưỡng thông qua mô hình “sinh hoạt chuyên môn hai chiều” theo hình thức liên tổ, liên trường, liên huyện…”

Cùng với đó là khuyến khích đội ngũ giáo viên tự bồi dưỡng, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong hoạt động TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS, tích cực nghiên cứu, áp dụng các phương pháp tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS.

Xây dựng các câu lạc bộ “Tiếng Việt với trẻ em DTTS”, “Giáo viên mầm non DTTS”… qua đó nhằm chia sẻ những kinh nghiệm hay, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhằm TCTV cho trẻ DTTS.

Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh cũng yêu cầu các phòng GD&ĐT đẩy mạnh xây dựng môi trường TCTV cho trẻ em người DTTS theo các tiêu chí, trong đó quan tâm xây dựng thư viện thân thiện, phù hợp để khuyến khích các bậc cha mẹ cùng đọc sách với trẻ tại trường, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho trẻ.

Đồng thời, các phòng GD&ĐT cũng tăng cường làm tốt công tác xã hội hóa để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng, TCTV cho trẻ em người DTTS; quan tâm phát triển mô hình nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ làm cầu nối ngôn ngữ cho trẻ tại các điểm trường vùng khó khăn, hẻo lánh.

Các phòng GD&ĐT triển khai thực hiện chuyên đề: Tăng cường nghe, nói tiếng Việt cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non có đông trẻ em người DTTS; kịp thời, tuyên dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có sáng kiến hay trong việc nâng cao chất lượng, tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ em người DTTS.

So với mục tiêu cụ thể trong Đề án của Trung ương đặt ra đến năm 2021, thời điểm hiện tại tỉnh Quảng Ninh đã đạt và vượt tỷ lệ trẻ mẫu giáo DTTS ra lớp (cao hơn 4,1%); đạt tỷ lệ 100% trẻ em trong các cơ sở GDMN, học sinh tiểu học người DTTS được tập trung TCTV phù hợp với độ tuổi.

100% cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và tiểu học vùng DTTS được bồi dưỡng công tác quản lý, phương pháp, kỹ năng tổ chức các hoạt động TCTV; 100% trường mầm non, tiểu học học vùng DTTS được bổ sung đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học TCTV.

【#4】‘giờ Tôi Đã Biết Cách Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số’

Huyện Sìn Hồ tại Lai Châu và huyện Kon Plông tại Kon Tum là nơi sinh sống của đa số đồng bào DTTS. Cuộc sống nơi đây còn rất nhiều thách thức. Một số điểm trường ở các bản làng xa xôi hẻo lánh không có hệ thống điện nước. Trẻ em gặp nhiều khó khăn bởi rào cản ngôn ngữ khi đến lớp.

Các em phải học tất cả các môn bằng tiếng Việt trong khi tiếng dân tộc mới là ngôn ngữ các em thường dùng ở nhà. Phần lớn giáo viên cũng là người DTTS nên họ thường xuyên gặp phải vấn đề khi dạy học sinh mà không hiểu rõ phương pháp dạy và học lấy trẻ em làm trung tâm.

Trước những vấn đề này, Dự án được xây dựng nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học, khuyến khích sự chuyển tiếp thuận lợi từ mầm non sang tiểu học, xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện với trẻ em.

Cụ thể, hơn 400 giáo viên mầm non và tiểu học được tham gia tập huấn và nâng cao năng lực; 5.500 học sinh mầm non và tiểu học có cơ hội tiếp cận tới nguồn sách, truyện của Dự án; 9 trường học đã được nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng lớp học với hệ thống vệ sinh nước sạch.

Là đại diện của một trong những cơ quan đối tác chính, ông Ngô Tiến Dũng – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu chia sẻ: “Điều tôi ấn tượng nhất với Dự án là mô hình sinh hoạt chuyên môn. Đó là nơi giáo viên có cơ hội tham dự một tiết học mở (tiết học minh họa) và sau đó chia sẻ lại những vấn đề gặp phải cũng như giải pháp. Cùng với phương pháp dạy và học chủ động, đây sẽ là 2 mô hình chúng tôi cam kết nhân rộng tới các huyện khác trong tỉnh”.

Ông Lò Văn Hòa, một trong những giáo viên nòng cốt của Trường Tiểu học Măng Bút 1 tự hào chia sẻ: “Giờ tôi đã biết cách dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho trẻ em nơi đây. Những em ngày trước từng xao nhãng trong lớp giờ đã tập trung, hứng thú và cảm thấy tự tin hơn nhiều”.

Sau 3 năm, Dự án đã giúp thay đổi cuộc sống của hơn 6.000 học sinh, giáo viên, cán bộ và phụ huynh của 2 huyện Sìn Hồ và Kon Plông. Dự án cũng giúp giáo viên và cán bộ tham gia trong ngành giáo dục thấy được rằng trẻ em DTTS có thể học tốt hơn nếu người lớn xung quanh không từ bỏ niềm tin vào khả năng của các em, đồng thời xây dựng môi trường học tập chất lượng tập trung vào chính các em.

【#5】Giáo Viên Cần Linh Động Khi Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số

Ông Phạm Tất Dong – Phó chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, cho biết công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ cấp mầm non và tiểu học là người dân tộc thiểu số hết sức quan trọng và cấp bách trong quá trình nhận thức được về sự vật, hiện tượng của các cháu.

Vì khi trẻ hiểu câu hỏi của cô thì trẻ mới trả lời được, trẻ thành thạo tiếng Việt mới diễn đạt hết những ý tưởng của mình cho cô giáo hiểu. Tuy nhiên vấn đề đặt ra, chúng ta dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ như thế nào để có hiệu quả?

Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như buổi học, tính linh động của giáo viên, khả năng cảm nhận của trẻ, đồ dùng trực quan cho tiết dạy…

Ông Dong đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò trong sự tác động qua lại giữa giáo viên và các cháu với yêu cầu đặt ra phải phù hợp đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ. Do đó, phải căn cứ vào đối tượng chúng ta đang dạy, tùy vào hoàn cảnh để giáo viên lựa chọn những bài dạy phù hợp với trẻ, được như thế, buổi học mới thành công, các cháu nắm bắt nhanh vấn đề mà cô giáo đưa ra.

Từ thực tế qua các chuyến đi nhằm đẩy mạnh công tác khuyến học tại tỉnh vùng cao, ông Dong cho biết thêm, có nhiều giáo viên vùng cao đã linh động tổ chức dẫn dắt các em tham gia vào những buổi học, những trò chơi đóng vai, qua đó, trẻ học được ngôn ngữ tiếng Việt.

Ví dụ, khi cô giáo tổ chức một trò chơi, đóng các vai nhân vật trong câu chuyện “Dê đen và dê trắng” và khi đảm nhận vai thì phải hiểu được các lời thoại của nhân vật…

Đặc biệt khi trẻ tham gia chơi bắt buộc phải linh hoạt trong ngôn ngữ giao tiếp để giải quyết các tình huống cần dùng đến sự mưu trí của dê đen để chiến thắng sói. Từ ví dụ thực tế này chứng tỏ, ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ mạch lạc thì trẻ lại thích giao tiếp, thích gần gũi với cô giáo, bạn bè và dần dần sự tự tin giao tiếp ấy giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh một cách dễ dàng hơn. “Khi trẻ hiểu được ngôn ngữ tiếng Việt thì quá trình học của trẻ mới có hiệu quả”, ông Dong nhấn mạnh.

Để công tác dạy tiếng Việt cho người dân tộc thiểu số đạt được hiệu quả nhất định, các trường cũng cần: Xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, trong đó xác định nội dung, chương trình dạy cho buổi thứ hai: giãn tiết, tổ chức phụ đạo kiến thức cho học sinh còn hạn chế, bồi dưỡng kiến thức nâng cao cho học sinh năng khiếu hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm khác…

Các trường giao quyền chủ động cho giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học: Điều chỉnh, tích hợp hoặc tăng thời lượng; phân luồng đối tượng học sinh, tổ chức dạy học theo hướng cá thể hóa, chấp nhận sự khác biệt trong lớp học với phương châm “đi chậm mà chắc”, “học đến đâu chắc đến đó”.

Chỉ đạo giáo viên rà soát nội dung dạy học trong sách giáo khoa (SGK), tài liệu học tập đề xuất với tổ chuyên môn chủ động, linh hoạt điều chỉnh, tinh giảm, lược bớt những nội dung trùng lặp, thay đổi ngữ liệu cho phù hợp với vùng miền và học sinh DTTS… trên nguyên tắc đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh.

Bà Nguyễn Thị Hiếu – Phó Vụ trưởng Giáo dục mầm non (Bộ GD&ĐT) cho biết: Một số tỉnh triển khai việc dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS còn chậm, chưa quan tâm bố trí nguồn lực và các giải pháp để thực hiện, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực chỉ đạo, hướng dẫn, khả năng của giáo viên còn hạn chế, sự quan tâm của phụ huynh hay cả nỗ lực của học sinh chưa đến nơi đến chốn….

Để tiếp tục triển khai dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS hiệu quả, các tỉnh, thành phố quan tâm xây dựng thư viện thân thiện phù hợp để khuyến khích phụ huynh cùng đọc sách với trẻ tại trường, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt.

Ngoài ra, các cơ sở giáo dục rèn phát âm và khả năng nghe, nói bằng tiếng Việt cho trẻ, nhất là đối với trẻ thuộc nhóm dân tộc rất ít người, trẻ sống biệt lập tại các thôn, buôn, khu vực hẻo lánh ít được nghe nói tiếng Việt.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; tài liệu, học liệu về tăng cường tiếng Việt cho cơ sở giáo dục mầm non, nhóm lớp có đông trẻ em người DTTS; tổ chức học hai buổi/ngày để trẻ có cơ hội tăng cường tiếng Việt. Đáng chú ý, các địa phương, cơ sở giáo dục thực hiện tốt chính sách hỗ trợ ăn trưa cho trẻ và chính sách hỗ trợ cho giáo viên dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người DTTS theo quy định…

【#6】Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số

Gỡ rào cản về mặt ngôn ngữ

Ngọc Chiến là xã đặc biệt khó khăn của huyện Mường La (tỉnh Sơn La), nhưng công tác giáo dục luôn được chú trọng. Xã có hai trường mầm non, hai trường tiểu học và một trường THCS với gần 1.500 học sinh, chủ yếu là con em các dân tộc Thái, Mông, La Ha. Năm trường học trên địa bàn có đến 18 điểm trường lẻ.

Những khó khăn mà Sơn La gặp phải cũng là thực trạng chung ở các tỉnh có nhiều dân tộc chung sống như Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái, Cao Bằng, Phú Yên… Trẻ em người DTTS thường nói tiếng mẹ đẻ tại gia đình, khi đến trường, cô giáo nói tiếng phổ thông, chương trình giáo dục cũng được thực hiện bằng tiếng phổ thông. Đây là khó khăn rất lớn đối với cả giáo viên và học sinh, cũng như việc bảo đảm chất lượng chương trình giáo dục mầm non.

Rào cản về mặt ngôn ngữ khiến trẻ nhút nhát, rụt rè, thiếu tự tin để tham gia các hoạt động giáo dục. Còn đối với học sinh tiểu học, khi vào lớp một, vốn tiếng Việt ít, trẻ chỉ có khả năng nghe, nói được những câu ngắn, đơn giản cho nên việc học tập cũng như tham gia hoạt động ở lớp, ở trường rất hạn chế. Trong quá trình học tập, nhất là với học sinh lớp 1, lớp 2, học sinh học khó nhớ, hay phát âm sai hoặc thiếu thanh điệu dẫn đến viết sai chính tả, một bộ phận học sinh đọc còn phải đánh vần. Chưa kể, giáo viên gặp nhiều khó khăn khi phải dạy lớp ghép học sinh thuộc nhiều dân tộc, với nhiều độ tuổi, một bộ phận giáo viên chưa hiểu phong tục, tập quán, văn hóa địa phương để giao tiếp, chăm sóc, giáo dục trẻ. Do đó, chưa bảo đảm các điều kiện về diện tích, nhà vệ sinh, chưa xây dựng được môi trường giáo dục, môi trường sư phạm theo quy định. Những hạn chế này là nguyên nhân dẫn đến trẻ mầm non không thích ra lớp, học sinh tiểu học vùng DTTS khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học ở những cấp học tiếp theo tăng cao.

Cả nước hiện có 42 tỉnh, thành phố có đông trẻ em là người DTTS. Có 4.862 trường mầm non có trẻ em người DTTS (chiếm 34% tổng số trường mầm non trên toàn quốc), thu hút gần 830 nghìn trẻ em mầm non người DTTS ra lớp. Tổng số 6.748 trường tiểu học có học sinh DTTS (chiếm tỷ lệ 75% tổng số trường), thu hút hơn 1 triệu 230 nghìn em là người DTTS ra lớp, chiếm tỷ lệ 35% tổng số học sinh tiểu học đến trường.

【#7】Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số

Do vậy, nhà trường đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là vấn đề đọc, nói bằng tiếng Việt. Học sinh được chia thành nhóm nhỏ để rèn kỹ năng đọc, viết, tham gia các hoạt động học nhóm, phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, các tiết đọc thư viện, hoạt động ngoại khóa… Nhờ vậy, tỷ lệ học sinh được tăng cường tiếng Việt ra lớp đúng độ tuổi đạt 100%; các em từng bước tự tin, hòa nhập với tập thể.

Hơn một nửa học sinh tại Trường Mầm non Ninh Tây, xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa con em đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Ê đê và Raglai. Việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ luôn là rào cản trong việc truyền thụ, tiếp thu kiến thức trong các hoạt động giáo dục của nhà trường.

Từ năm học 2021-2017, Trường Mầm non Ninh Tây đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như: tập huấn phương pháp dạy tiếng Việt cho giáo viên, thiết kế môi trường cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với tiếng Việt thông qua đồ dùng, đồ chơi, góc thư viện, hoạt động trải nghiệm thực tế…

Cô Nguyễn Thị Mỹ Huyền, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Ninh Tây chia sẻ: Nhờ được tăng cường tiếng Việt nên qua các năm học, trẻ đã mạnh dạn, tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn.

Huyện miền núi Khánh Vĩnh có 17 trường mầm non với hơn 68% trẻ là người dân tộc thiểu số và 16 trường tiểu học với hơn 81% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh, từ năm 2021 đến nay huyện có 344 cán bộ, giáo viên người Kinh được bồi dưỡng tiếng Raglai để nâng cao kỹ năng, phương pháp giảng dạy.

Ông Đỗ Hữu Quỳnh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa cho biết, qua 5 năm thực hiện đề án, các cấp ủy, chính quyền địa phương, ban, ngành, đoàn thể và cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ trẻ đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức về sự cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Các trường trong dự án coi đây là một trong những giải pháp để duy trì kết quả phổ cập giáo dục tại các địa phương. Thuận lợi về môi trường giao tiếp nên vốn tiếng Việt của học sinh phong phú và nhuần nhuyễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn trong việc triển khai đề án như: học sinh nhút nhát, môi trường rèn luyện tiếng Việt còn hạn chế. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên các em phải theo cha mẹ lên rẫy. Mặt khác, giáo viên đa số là người Kinh nên gặp khó khăn khi giao tiếp với trẻ và trao đổi với cha mẹ của học sinh.

Thời gian tới, để thực hiện tốt hơn đề án, Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa chỉ đạo các đơn vị tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động gia đình người dân tộc thiểu số tạo điều kiện cho trẻ đến trường và học 2 buổi/ngày; trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cũng được tăng cường…

【#8】Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Kiều Bào: Quan Trọng Là Phương Pháp

Sau khi chỉ rõ có trường hợp sau 2 ngày dạy, các em có thể email bằng tiếng Việt về nhà cho bố mẹ, Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam Lê Bá Trình cho rằng, quan trọng là phương pháp giảng dạy.

Là người đã 36 năm công tác tại Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ông Trần Đức Mậu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng, tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu không duy trì được tiếng Việt sẽ không duy trì được bản sắc, văn hóa dân tộc Việt ở nước ngoài, nhất là các thế hệ thứ ba, thứ tư. Giữ gìn phát huy dạy tiếng Việt trong kiều bào là mục tiêu hàng đầu được Ủy ban chú trọng, và cũng là vấn đề được Đảng, nhà nước hết sức quan tâm.

Tuy nhiên theo ông Mậu, quan trọng là làm sao tạo được không gian tiếng Việt vì dạy tiếng mà không có không gian sử dụng thì cũng không phát huy được hiệu quả. “Chương trình đã đi đúng hướng, song vấn đề thế nào là làm phát huy hiệu quả hơn nữa. Hiện nay chúng ta chưa có bộ sách giáo khoa chính thức cho người Việt Nam ở nước ngoài, vì điều kiện ở mỗi nước, chúng ta cũng chưa có cách làm thống nhất vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nơi. Vì vậy làm sao ứng với từng điều kiện đó để có cách dạy, mô hình, sách giáo khoa hiệu quả nhất cho người Việt Nam ở nước ngoài” – ông Mậu đưa ra ý kiến đánh giá.

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn, Vụ Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) hiện nay có khoảng hơn 4 triệu kiều bào đang sinh sống ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc dạy và học tiếng Việt đã có chỉ đạo từ Chính phủ nhưng đến nay chưa được hoàn thiện. Vừa rồi, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Chính phủ đề án đưa tiếng Việt lên mạng internet để nhiều người có thể học tiếng Việt nhiều hơn, nhất là trong điều kiện bà con còn lo làm ăn. “Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam rất quan tâm đến vấn đề này. Thủ tướng vừa phê duyệt đề án tăng cường dạy tiếng Việt trên mạng trực tuyến cho người Việt Nam ở nước ngoài. Mục tiêu của đề án này nhằm xây dựng và duy trì chương trình dạy tiếng Việt trên mạng trực tuyến gồm 6 trình độ căn bản, thiết thực, hiệu quả, phù hợp, dễ tiếp cận cho người Việt Nam ở nước ngoài nhằm giúp cho các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài” – ông Sơn cho hay.

Ông Sơn cũng cho rằng, tài liệu dạy tiếng Việt chỉ mới là bộ khung cơ bản về ngôn ngữ, còn từ đó cần biên soạn lại cho phù hợp hơn vì kiều bào sinh sống ở mỗi nước đều có đặc thù riêng.

Phó Chủ tịch Lê Bá Trình nhấn mạnh rằng, một trong những yếu tố duy trì tình cảm của kiều bào với đất nước, cội nguồn là ngôn ngữ và chữ viết. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc hết sức quan tâm là làm sao để tiếng Việt phổ quát ở cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Chỉ rõ do mỗi nơi có tính đặc thù khác nhau nên chương trình giảng dạy không thể giống nhau, Phó Chủ tịch Lê Bá Trình lưu ý, cần nâng cao phương pháp để việc giảng dạy ngày càng hiệu quả hơn nữa. “Có trường hợp sau 2 hôm giảng dạy, có em học sinh đã tự có thể email được về nhà bằng tiếng Việt. Do đó phương pháp giảng dạy là rất quan trọng”-Phó Chủ tịch Lê Bá Trình nêu rõ.

【#9】Dạy Tiếng Anh Như Ngôn Ngữ Thứ Hai Cho Trẻ Em Việt

Phương pháp dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai (ESL – English as a Second Language) được cung cấp bởi các trường đại học tại Anh, Mỹ, Canada nhằm cải thiện vốn tiếng Anh cho học sinh, sinh viên quốc tế, giúp họ có thể sẵn sàng với môi trường đại học. S au hơn 10 năm nghiên cứu, ông Travis Stewart, người Canada đã áp dụng phương pháp này cho trẻ em Việt Nam.

Cách tiếp cận mới

Theo ông Travis Stewart, nếu như phương pháp truyền thống, trẻ đến lớp, học từ vựng và ghi nhớ đoạn hội thoại dựa trên tình huống, thì với ESL, trẻ bắt đầu tiếp xúc với kiến thức bằng việc hoàn thành bài tập E-learning (học trực tuyến) tại nhà. Cấu trúc bài E-learning giúp cho học sinh khám phá và làm quen với các từ, cụm từ mới trước khi tới lớp.

Gần gũi với trẻ nhỏ

Cũng theo chuyên gia người Canada, trẻ nhỏ thường cảm nhận nhiều hơn và có khả năng thể hiện bản thân thông qua cảm xúc, nên cách tốt nhất để trẻ học ngoại ngữ là cung cấp một môi trường không có bất cứ mối đe dọa nào, nơi các con thấy an toàn và thỏa sức khám phá.

Ông Travis cho biết từng nhiều lần nhìn thấy tại những nơi công cộng ở Việt Nam, phụ huynh bảo con bắt chuyện với người nước ngoài. Với những đứa trẻ hướng ngoại, chúng có thể làm được điều đó, tuy nhiên với trẻ nhút nhát thì không. Việc đẩy một đứa trẻ vào tình huống không thoải mái sẽ khiến chúng ngại học tiếng Anh, thậm chí ảnh hưởng đến sự tự tin trong việc tham gia các hoạt động khác. Trái lại, tạo ra một môi trường mà trẻ nhỏ cảm thấy thoải mái để mắc lỗi, thể hiện bản thân sẽ cải thiện đáng kể sự tự tin của chúng.

Ngoài việc tối ưu hóa môi trường học tập, phương pháp ESL còn khuyến khích trẻ thể hiện bản thân qua các hoạt động như nhảy, hát, múa mà không cần lời nói. “Tôi thấy việc này sẽ giúp tăng mức độ thoải mái của trẻ và xây dựng sự tự tin trong việc nói một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ”, vị chuyên gia cho biết.

Những hoạt động ngoại khóa, tham gia giao lưu tiếng Anh với thần tượng mà trẻ hâm mộ, chơi các trò tương tác cũng là điểm dễ thu hút sự chú ý của trẻ nhỏ. Theo đó, trung tâm Apax English của ông Travis từng tổ chức thành công nhiều chương trình lớn dành cho học sinh với sự tham gia của những nhân vật nổi tiếng, truyền cảm hứng học tập như cầu thủ Lương Xuân Trường, ca sĩ Đức Phúc…

Công nghệ hỗ trợ học tập

Nhiều phụ huynh ở Việt Nam lo lắng trước thực trạng con em thường xuyên sử dụng thiết bị công nghệ từ sớm, gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần và khả năng học tập. Tuy nhiên, chuyên gia người Canada lại dành nhiều thời gian nghiên cứu để đưa ra kết luận nếu biết áp dụng đúng cách, công nghệ sẽ hỗ trợ học tập.

Với phương pháp ESL, công nghệ và chương trình học cơ bản hợp nhất và lồng ghép vào nhau. Cụ thể, E-Learning được thực hiện trên máy tính giúp đẩy nhanh tiến độ học trên lớp. Ngoài ra, giáo viên cũng sử dụng phần mềm GATE để giảng dạy. Phần mềm GATE tương tác trực tiếp với các tệp âm thanh, video, hình ảnh, văn bản và hoạt động.

Khi về nhà, phụ huynh cũng có thể nhờ giáo viên hướng dẫn cách cùng con học và chơi các trò chơi phát triển tư duy bằng tiếng Anh. “Điều này thực sự khác biệt với phương pháp truyền thống, tức là học tiếng Anh như một ngoại ngữ với cách học tiếng Anh như là một ngôn ngữ thứ hai”, ông Travis nhấn mạnh.

Thế Đan

【#10】Nữ Giảng Viên Mỹ Gốc Việt Muốn Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Nghèo

Mười tuổi, Giang Thanh đã sang Mỹ học tiểu học. Trải qua những năm tháng trưởng thành và tự lo cho bản thân bằng nhiều công việc khác nhau, Giang Thanh đã tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp NC State University tại Raleigh, North Carolina (Mỹ).

Khi còn là học sinh trung học phổ thông, vượt qua nhiều thí sinh đến từ các nước, Giang Thanh đã đoạt giải Hoa khôi học đường tại Mỹ năm 2002.

Năm 2003, tại trường Đại học Nông nghiệp – North Carolina State University, Giang Thanh đã đoạt giải Hoa khôi thể thao. Năm 2021, Giang Thanh mang vẻ đẹp Việt tỏa sáng giành danh hiệu Á hậu Việt Nam toàn cầu tại California. Năm 2021, nhan sắc Việt lại một lần nữa ghi tên Giang Thanh với danh hiệu Hoa khôi du lịch tại Bali.

Giang Thanh cho biết, tuy có vẻ ngoài được đánh giá là khá dịu dàng nhưng bản thân cô lại rất mạnh mẽ, tự tin và “thích được tỏa sáng”. Vì vậy, cô tham gia nhiều cuộc thi nhan sắc bởi thích được chú ý và quan tâm từ mọi người. Điều này cũng khiến cho các hoạt động giúp đỡ cộng đồng của cô được lan tỏa nhiều hơn, đặc biệt là trong việc giúp đỡ các du học sinh của Việt Nam ra nước ngoài học tập.

“Ngoài công việc chính là giảng viên đại học, Giang Thanh dành nhiều thời gian hỗ trợ các du học sinh Việt Nam có hoàn cảnh khó khăn tại quê nhà, giúp các em viết tiếp ước mơ khi sang Mỹ học tập”, Hoa khôi cho biết.

Ngoài ra, với khả năng thành thạo bốn thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật, Việt, Giang Thanh còn tích cực làm thông dịch viên tình nguyện tại các bệnh viện; hỗ trợ sinh viên thi bằng lái xe tại Mỹ; hiến máu nhân đạo cứu người…

Khi có thời gian, Giang Thanh về Việt Nam tham gia các chuyến từ thiện, hiến máu nhân đạo, gần nhất là hoạt động từ thiện dành cho trẻ em mồ côi tại Buôn Mê Thuột năm 2021.

Gần đây, Giang Thanh đã dành tâm huyết của mình cho công việc hỗ trợ du học sinh và du lịch khi dịch Covid-19 ảnh hưởng trên toàn cầu, gây cản trở và khó khăn cho nhiều du học sinh và khách du lịch Việt Nam tại nước ngoài.

Linh nguồn:https://vietnamnet.vn/vn/doi-song/gioi-tre/nu-giang-vien-my-goc-viet-muon-day-tieng-anh-cho-tre-em-ngheo-665457.html