Chữ Mông Và Tình Hình Dạy Chữ Mông Trong Trường Phổ Thông

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Từ Điển Lào
  • 2 Phần Mềm Hữu Ích Để Học Tiếng Lào
  • Mua Giáo Trình Học Tiếng Thái Ở Đâu Hcm
  • Mua Sỉ Sách Học Ngoại Ngữ Giá Rẻ
  • Bạn Có Biết, Một Trung Tâm Ngoại Ngữ Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Dạy Tới 19 Thứ Tiếng?
  • Đáp ứng nguyện vọng của người Mông, Nhà n­ước ta đã sớm xây dựng và ban hành bộ chữ Mông. Năm 1961, Chính phủ ban hành Nghị định số 206/CP ngày 27/11/1961 về việc phê chuẩn phương án chữ Mèo (Mông). Kể từ đó chữ Mông đã chính thức ra đời, đáp ứng mơ ước ngàn đời của người Mông ở Việt Nam.

    Ngay sau khi có chữ Mông, Chính phủ đã chỉ đạo ngành giáo dục triển khai dạy chữ Mông trong trường học. Năm học 1962 – 1963, chữ Mông đã được đưa vào dạy trong trường phổ thông ở vùng người Mông thuộc các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La,… Liên tiếp những năm sau đó, việc dạy chữ Mông đã được triển khai rộng khắp vùng người Mông. Việc triển khai dạy học chữ Mông đã thu được những kết quả quan trọng trong việc huy động học sinh đến trường và giúp trẻ em người Mông thực hiện hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học.

    Không chỉ dạy chữ Mông trong trường phổ thông, việc dạy chữ Mông còn được triển khai trong phong trào bình dân học vụ. Tại nhiều địa phương, phong trào học chữ Mông, thanh toán nạn mù chữ bằng chữ Mông phát triển rầm rộ. Tiêu biểu trong phong trào đó phải kể đến thành tích của nhân dân xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã xoá xong nạn mù chữ chỉ trong vòng hai năm và được Chính phủ tặng thưởng Huân ch­ương Lao động hạng Ba vào năm 1964.

    Sau một thời gian triển khai thực hiện dạy chữ Mông trong trường học, do không có sự chuẩn bị đầy đủ về đào tạo giáo viên, chương trình và sách giáo khoa nên việc dạy học chữ Mông bộc lộ những hạn chế. Vì vậy nhiều địa phương đã ngừng dạy chữ Mông. Riêng địa phương tỉnh Yên Bái do làm tốt công tác đào tạo giáo viên (dạy tiếng Mông trong trường sư phạm) nên vẫn duy trì việc dạy chữ Mông suốt từ những năm 60 đến những năm 90 của thế kỷ XX.

    Với những thành công của chương trình thực nghiệm dạy tiếng Mông, năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 75/2008/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2008 về việc Ban hành Chương trình tiếng Mông cấp tiểu học. Sau khi có chương trình, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành bộ sách giáo khoa tiếng Mông cấp tiểu học gồm 3 quyển. Từ đó việc dạy tiếng Mông trong trường phổ thông được thực hiện một cách bài bản và chất lượng.

    Sau khi có chương trình và sách giáo khoa được ban hành chính thức, việc dạy tiếng Mông trong trường học đã được triển khai mạnh mẽ. Năm học 2008 -2009, mới chỉ có tỉnh Yên Bái triển khai dạy tiếng Mông trong 17 trường, 49 lớp và 1.402 học sinh. Sau 5 năm, đến năm học 2013 – 2014 đã có 5 tỉnh (Yên Bái, Lào Cai, Nghệ An, Điện Biên, Sơn La) triển khai dạy học tiếng Mông, mở rộng quy mô gấp gần mười lần với 86 trường, 497 lớp và 9.374 học sinh. Cho đến năm 2022 quy mô dạy học tiếng Mông trong trường phổ thông đã là 114 trường, 584 lớp và 14.277 học sinh.

    Trong hơn 50 năm duy trì và vận động, việc dạy tiếng Mông đã đem lại hiệu quả giáo dục to lớn đối với vùng đồng bào Mông. Việc dạy học tiếng Mông thực sự trở thành một thành tựu giáo dục góp phần làm thay đổi xã hội vùng người Mông. Cùng với thành tựu đó, chữ Mông đã trở thành giá trị văn hóa góp phần to lớn vào sự hưng thịnh của dân tộc Mông ở Việt Nam. Đến nay, người Mông ở Việt Nam vẫn luôn luôn coi chữ Mông Việt Nam là bộ chữ của dân tộc mình. Chữ Mông Việt Nam là một phần giá trị văn hóa của dân tộc Mông, là niềm tự hào của dân tộc Mông.

    Hiện nay, bộ chữ Mông Việt Nam vẫn đang tiếp tục được đưa vào dạy học trong trường học. Tuy vậy, bộ chữ này có quá ít tài liệu, ấn phẩm, phương tiện sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, dẫn đến việc phổ biến và ứng dụng bộ chữ Mông Việt Nam còn hạn chế. Trong khi đó đang có một bộ chữ Mông khác gọi là chữ Mông Mỹ được sử dụng rộng rãi trong các văn bản Kinh thánh (Tin Lành), trang mạng Internet, băng đĩa Karaoke, truyện tranh, tờ rơi,… Do tần xuất sử dụng nhiều và rộng rãi nên bộ chữ Mông Mỹ có nhiều người biết và sử dụng.

    Nếu đem so sánh bộ chữ Mông Việt Nam và bộ chữ Mông Mỹ, thấy rằng bộ chữ Mông Việt Nam có ưu điểm vượt trội. Chẳng hạn như bộ chữ Mông Việt Nam có hệ thống ký tự đơn giản hơn (số âm ghi bằng 3, 4 ký tự ít hơn), có bộ vần nhiều hơn (nhiều gấp 5 lần) và đặc biệt có khả năng ghi âm đầy đủ và chính xác tiếng của năm ngành Mông (chữ Mông Mỹ chỉ ghi âm được tiếng Mông Trắng). Những ưu điểm của chữ Mông Việt Nam đảm bảo cho việc thống nhất và phát triển ngôn ngữ dân tộc Mông.

    Để bộ chữ Mông Việt Nam, cái “Chữ của Đảng, của Bác Hồ” ngày càng được phát huy, phát triển đáp ứng nhu cầu sử dụng của đồng bào Mông, chúng ta cần làm một số việc sau:

    Thứ nhất: Cần tiếp tục mở rộng quy mô dạy học tiếng Mông trong trường phổ thông, trong trung tâm giáo dục thường xuyên. Đẩy mạnh việc đào tạo giáo viên dạy tiếng Mông trong các trường sư phạm vùng dân tộc Mông đảm bảo cung cấp đội ngũ giáo viên dạy tiếng Mông chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu học tiếng Mông của trẻ em dân tộc Mông. Tiếp tục thực hiện đào tạo, bồi dưỡng tiếng Mông và chữ Mông Việt Nam cho đội ngũ cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc Mông, nhất là đội ngũ giáo viên. Các hoạt động dạy và học này sẽ góp phần tích cực trong việc mở rộng không gian sử dụng, thực hành tiếng Mông và chữ Mông Việt Nam.

    Thứ hai: Chính quyền các địa phương vùng dân tộc Mông cần quan tâm công tác tuyên truyền về chữ Mông Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa Mông. Chú trọng công tác sưu tầm văn hóa truyền thống của dân tộc Mông. Tổ chức công bố, giới thiệu các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, văn học, phong tục tập quán, sinh hoạt của người Mông. Chú trọng việc xuất bản các ấn phẩm văn hóa bằng chữ Mông Việt Nam để đồng bào Mông được thường xuyên tiếp xúc với chữ Mông Việt Nam.

    Không gì có thể thay thế được ưu thế của một bộ chữ viết nếu như bộ chữ ấy không đem ra sử dụng trong đời sống. Đó là tình trạng của chữ Mông Việt Nam hiện nay và nó đang đặt ra yêu cầu đối với việc sử dụng chữ Mông. Đáp ứng nhu cầu sử dụng chữ Mông đang đòi hỏi, hy vọng các cấp, các ngành và toàn thể đồng bào Mông tiếp tục chung tay xây dựng môi trường ngôn ngữ và đẩy mạnh sử dụng chữ viết để chữ Mông Việt Nam ngày càng được sử dụng phổ biến hơn và giữ vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Mông ở Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Cụ Học Tập Và Tra Cứu Tiếng Lào
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lý 8 Bài 18
  • Lớp Học Tiếng Lào Địa Chỉ Duy Nhất Tại Hà Nội
  • Du Học Sinh Lào “khóc, Cười” Khi Học Tiếng Việt
  • Học Tiếng Lào Tốt Ở Đâu Hà Nội?
  • Ngữ Văn: Hd Dạy Tiếng H’ Mông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nữ Chủ Nhiệm Clb Sinh Viên H’mông Mở Lớp Dạy Tiếng Anh Miễn Phí
  • Bỏ Thi Chứng Chỉ Ngoại Ngữ: Đừng Bắt Giáo Viên Vùng Cao Phải Thi Chứng Chỉ Tiếng H’mông Rồi Bỏ Xó
  • Chuyển Biến Tích Cực Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Trường Phổ Thông
  • Top Sách Dạy Con Tiếng Anh Hay Nhất Giai Đoạn “vỡ Lòng”
  • Hướng Dẫn Phát Âm Tiếng Mã Lai
  • CHƯƠNG TRÌNH

    TIẾNG HMÔNG CẤP TIỂU HỌC

    (ban hành kèm theo Quyết định số 75/2008/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

    I. MỤC TIÊU

    Môn Tiếng Hmông được dạy ở tiểu học vùng dân tộc Hmông nhằm:

    1. Phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; chú trọng đọc và viết, nắm được những kiến thức sơ giản về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Hmông, góp phần rèn luyện tư duy để học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác ở tiểu học.

    2. Dạy học tiếng Hmông, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Hmông, đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng mẹ đẻ. Mở rộng hiểu biết về truyền thống của dân tộc Hmông và các dân tộc anh em.

    3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ cho học sinh; tạo điều kiện bảo tồn, phát triển góp phần xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa Hmông; phát triển nhân cách con người mới có kiến thức và khả năng hội nhập.

    II. KẾ HOẠCH DẠY HỌC

    1. Chương trình tiếng Hmông được dạy trong 3 năm học (lớp 3, lớp 4, lớp 5) ở cấp tiểu học. Mỗi năm học có 140 tiết dạy trong 35 tuần, mỗi tuần dạy 4 tiết.

    2. Năm thứ nhất (lớp 3) dành cho dạy học – học âm, vần và một số bài cho phân môn tập đọc.

    3. Năm thứ hai (lớp 4, lớp 5) dạy các phân môn Tập đọc – học thuộc lòng, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn.

    III. NỘI DUNG

    NĂM THỨ NHẤT

    1. Kiến thức

    a) Tiếng Hmông

    – Các âm, vần, các chữ ghi thanh điệu.

    – Các chữ có phụ âm ghép.

    – Mở rộng vốn từ ngữ, về gia đình, nhà trường, thiên nhiên, đất nước.

    – Dấu giọng, dấu câu, dấu ngắt câu.

    – Cung cấp cho học sinh khoảng 500 từ.

    b) Văn học

    – Nhận biết, làm quen với văn xuôi, văn vần, ca dao, tục ngữ.

    2. Kỹ năng

    a) Đọc

    – Nhận biết các âm và chữ cái ghi âm, ghi thanh điệu, các vần.

    – Cách ghép

    --- Bài cũ hơn ---

  • Video: Mông Cổ Phản Đối “diệt Chủng Văn Hóa”, Nghi Ngờ Cảnh Sát Cũng Tham Gia Biểu Tình
  • Khai Giảng Lớp Học Tiếng Việt Đầu Tiên Tại Mông Cổ
  • Nữ Quan Chức Mông Cổ Nhảy Lầu Tự Vẫn Để Phản Đối Nạn Diệt Chủng Văn Hóa
  • Biểu Tình Lớn Tại Nội Mông Cổ Vì Chính Sách Giảng Dạy Bằng Tiếng Hán
  • Các Cuộc Biểu Tình Lớn Nổ Ra Vì Trung Quốc Áp Đặt Lệnh Cấm Đối Với Việc Dạy Tiếng Mông Cổ
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Mông Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Mông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Miền Trung
  • Российский Центр Науки И Культуры В Городе Ханое
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Học Tiếng Trung Qua Bài Hát Học Mèo Kêu (學貓叫) ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Lời Bài Hát Học Tiếng Mèo Kêu
  • Nội dung học phần phương pháp dạy học tiếng Mông trong Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Mông được quy định tại Tiết b Tiểu mục 3 Mục IV Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Mông ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo đó bao gồm:

    – Lí luận và phương pháp dạy học tiếng Mông:

    + Các quan điểm cơ bản của phương pháp dạy học dạy học tiếng Mông theo quan điểm giao tiếp: Những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học tiếng dân tộc; các quan điểm cơ bản, phương pháp và kỹ thuật dạy học tiếng Mông như ngôn ngữ thứ nhất;

    + Các phương pháp, kỹ thuật và phương tiện dạy học tiếng Mông theo quan điểm giao tiếp: Hệ thống hóa các phương pháp, kỹ thuật dạy học tiếng Mông; sử dụng phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn dạy học tiếng Mông;

    + Các hình thức tổ chức và quản lí dạy học tiếng Mông theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học: Hệ thống hóa các hình thức tổ chức dạy học và quản lí dạy học để có thể tổ chức và thực hiện các hoạt động giảng dạy tiếng Mông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ;

    + Thiết kế giáo án, nhật kí, hồ sơ sư phạm: Yêu cầu, kỹ thuật thiết kế và hình thức trình bày, cách thức chuẩn bị và việc quản lí và kiểm tra hồ sơ giáo án; nhật kí và các hồ sơ sư phạm trong thực tiễn dạy học tiếng Mông;

    + Thực hành giảng dạy và dự giờ quan sát lớp học tiếng Mông theo quan điểm giao tiếp: Thực hành dạy học một số kiểu bài trên lớp học; kỹ thuật dự giờ và phân tích, đánh giá các bài học khi dự giờ, thăm lớp; đồng thời củng cố các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết khác của người giáo viên (kỹ năng thâm nhập vào thực tiễn nhà trường, kỹ năng tìm hiểu và quản lí người học).

    – Phát triển các kỹ năng giao tiếp tiếng Mông:

    + Dạy học luyện từ và câu tiếng Mông: Các kiểu bài tập và phương pháp hỗ trợ quá trình phát triển vốn từ, luyện kỹ năng sử dụng thành thạo từ và câu trong các hoạt động giao tiếp tiếng Mông phù hợp với việc lĩnh hội và tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất của người học.

    Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thầy Giáo Hơn 20 Năm Dạy Tiếng Mông
  • Thầy Giáo 48 Năm Dạy Tiếng Mông Nơi Rẻo Cao
  • Cô Giáo Mường Dạy Tiếng Anh Trên Đất Khách
  • Hòa Bình: Xây Dựng Bộ Gõ, Biên Soạn Tài Liệu Dạy Và Học Chữ Mường
  • Người Thầy “gọi Hồn” Cho Tiếng Mường
  • Thầy Giáo Hơn 20 Năm Dạy Tiếng Mông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Mông Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Mông
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Miền Trung
  • Российский Центр Науки И Культуры В Городе Ханое
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Học Tiếng Trung Qua Bài Hát Học Mèo Kêu (學貓叫) ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Năm 1991, thầy Vũ Cảnh Lâm tốt nghiệp Trung học Sư phạm rồi về huyện Mù Cang Chải, nơi còn nhiều khó khăn của tỉnh Yên Bái để dạy học. Sau nhiều năm dạy tại các điểm trường Púng Luông, Nậm Khắt, thầy dừng chân ở Tiểu học & THCS Dế Xu Phình, gắn bó với những học trò người Mông suốt 15 năm nay.

    Những tháng ngày đầu tiên đi dạy, bản ở xa, đường đi khó, người dân còn nghèo, thầy Lâm phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào để dạy học. Khi đó, thầy không chỉ dạy chữ cho học trò ở trên lớp mà còn tham gia cấy cày, đi làm nương, làm rẫy cùng dân bản.

    Tiếp xúc nhiều với họ, thầy dần dần nói được tiếng Mông, hiểu phong tục tập quán như người bản địa. “Thứ tiếng ấy cứ ngấm dần vào người như lẽ tự nhiên phải ăn cơm, uống nước ở đời”, thầy tâm sự.

    Đứng lớp được vài năm, thầy Lâm bắt đầu tham gia dạy lớp tiếng Mông cho học sinh. Trường có hơn 400 em, nhưng chỉ 2 em người dân tộc Kinh, còn lại là người Mông. Học sinh ở đây khi lên lớp 3 sẽ được học một môn tự chọn là tiếng Mông. Dù các em phát âm tốt tiếng bản địa nhưng khi đọc, viết thì còn khá ngượng ngùng.

    “Về căn bản, các em dùng toàn bộ hệ chữ Latinh để ghi lại âm vần, chỉ có một số từ khác tiếng Việt. Vì vậy, học tiếng Mông vừa giúp các em củng cố thêm nền tảng vững chắc khi học tiếng Việt, vừa giúp giữ gìn được bản sắc văn hóa, chữ viết của dân tộc mình”, thầy nói.

    Ngoài dạy tiếng Mông, thầy Lâm còn làm công tác quản lý với cương vị Phó hiệu trưởng nhà trường, đồng thời hướng dẫn cho giáo viên học, đọc tiếng Mông để dễ dàng giao tiếp với học sinh. Thầy Lâm chia sẻ, điều khó nhất đối với giáo viên khi học và dạy tiếng Mông không chỉ là cách phát âm, ghép vần mà còn phải am hiểu về phong tục, tập quán của người dân, gần gũi với học trò thì mới có thể dễ dàng truyền đạt trong khi giảng dạy.

    Tiếng Mông được đưa vào chương trình học ở Mù Cang Chải đã nhiều năm. Trải qua thời gian, nhiều giáo viên không còn ưa thích công việc dạy tiếng Mông nữa nên việc dạy tiếng dân tộc cũng mai một dần. Hiện, môn học tiếng Mông hầu như không còn được dạy ở điểm trường lẻ mà chỉ được dạy ở một vài điểm chính trong huyện.

    Nhiều năm gắn bó với Mù Cang Chải, điều khiến thầy gắn bó nhất là nghĩa tình cùng sự thật thà của người vùng cao. Ngày Tết thầy cô, có học sinh ở xa nhà đi bộ cả chục km đến thăm, tình cảm ấy không tiền bạc nào mua được. Những lứa học trò đầu tiên thầy dạy, giờ hầu hết đã trưởng thành, có người đi làm, đi học xa, có học sinh lớn lên rồi lại trở thành đồng nghiệp, về thực tập, giảng dạy tại chính ngôi trường Dế Xu Phình năm xưa.

    Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó phòng Giáo dục huyện Mù Cang Chải cho biết, hiện nay trên địa bàn chỉ còn một số trường tiểu học duy trì môn học tiếng Mông. Số giáo viên dạy môn tiếng Mông cũng rất ít, vì muốn dạy được môn học này cần yêu thích và phải có quá trình gắn bó lâu dài với người dân. Phòng Giáo dục huyện đang hướng tới công tác dạy tiếng Mông cho giáo viên, để họ có thể giao tiếp tốt với học sinh, nhằm truyền thụ kiến thức dễ dàng hơn.

    Hoàng Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thầy Giáo 48 Năm Dạy Tiếng Mông Nơi Rẻo Cao
  • Cô Giáo Mường Dạy Tiếng Anh Trên Đất Khách
  • Hòa Bình: Xây Dựng Bộ Gõ, Biên Soạn Tài Liệu Dạy Và Học Chữ Mường
  • Người Thầy “gọi Hồn” Cho Tiếng Mường
  • Kinh Nghiệm Dạy Tiếng Anh Lớp 4 Tăng Hứng Thú Học Cho Bé
  • Thầy Giáo 48 Năm Dạy Tiếng Mông Nơi Rẻo Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Thầy Giáo Hơn 20 Năm Dạy Tiếng Mông
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Mông Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Mông
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Miền Trung
  • Российский Центр Науки И Культуры В Городе Ханое
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Do thành thạo tiếng Mông, thầy Mâu có dịp gần gũi, nắm tâm tư nguyện vọng và hiểu phong tục, tập quán của bà con bản địa, nhờ đó, thầy dễ dàng truyền đạt kiến thức bằng tiếng Mông cho bà con. Theo chia sẻ của thầy Mâu: Ngày ấy trên địa bàn vùng cao huyện Tủa Chùa, nhiều người dân tộc Mông chưa biết tiếng của dân tộc mình, do đó để dạy kiến thức phổ thông, các thầy cô giáo phải dành ít nhất 3 tháng để truyền đạt tiếng Mông, chữ Mông cho bà con. Nhớ lại những ngày gian khổ nắng mưa, lặn lội đi điểm bản vận động học sinh ra lớp, những buổi tối dạy học tiếng Mông dưới ngọn đèn dầu le lói… thầy Mâu cho biết: “Ngày ấy kham khổ nhưng giáo viên trẻ chúng tôi ai cũng tâm huyết với việc xóa mù, dạy học vùng cao với mong muốn nỗ lực của mình có thể truyền đạt được tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mông đến bà con, giúp họ tiếp thu được kiến thức và nâng cao hiểu biết”.

    Ngoài dạy tiếng Mông, thầy Mâu còn làm công tác quản lý. Với cương vị Hiệu trưởng Trường Tiểu học cơ sở xã Tả Sìn Thàng, thầy tích cực hướng dẫn cho giáo viên nhà trường học, đọc thành thạo tiếng Mông để dễ dàng giao tiếp với học sinh và phụ huynh của các em. Theo thầy Mâu: Ðiều khó nhất đối với giáo viên khi học và dạy tiếng Mông không chỉ là cách phát âm, ghép vần mà còn phải am hiểu về phong tục, tập quán của người dân, gần gũi với học trò thì mới có thể dễ dàng truyền đạt trong khi giảng dạy.

    Năm 1985, thầy Mâu chuyển về công tác tại Phòng Giáo dục & Ðào tạo huyện Ðiện Biên, tham gia giảng dạy tiếng Mông tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn cho đến khi về hưu (năm 2010). Sau khi nghỉ chế độ theo quy định của Nhà nước, nhưng với tâm huyết của mình, thầy Mâu vẫn thường xuyên đi dạy tiếng Mông cho cán bộ, giáo viên, lực lượng vũ trang ở vùng cao các huyện: Mường Nhé, Tủa Chùa, Nậm Pồ, Ðiện Biên Ðông, Mường Chà… do Sở Giáo dục & Ðào tạo, Trung tâm Tin học Ngoại ngữ tỉnh và một số sở, ngành mời dạy.

    Nói về tầm quan trọng của việc học tiếng Mông, nhất là với những cán bộ công tác vùng có đồng bào dân tộc mông rất hữu ích, vì nó giúp mình hiểu biết sâu văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc Mông. Thầy Mâu cho biết thêm: “Về cơ bản, tiếng Mông hiện nay dùng toàn bộ hệ chữ Latinh để ghi lại âm vần, chỉ có một số từ khác tiếng Việt (tiếng phổ thông). Do đó, tiếng Mông rất dễ học, đọc. Cần chuyên tâm học hơn 2 tháng là có thể nói thành thạo và giao tiếp được với người Mông. Ðến nay, ngoài việc đi dạy học, tôi đang nghiên cứu để biên soạn sách dạy tiếng Mông cho Sở Giáo dục & Ðào tạo”.

    Nói về thầy giáo Ðinh Văn Mâu, thầy giáo Vì A Hao, Chủ tịch Hội Cựu giáo chức huyện Tủa Chùa cho biết: “Tôi cùng đi dạy tiếng Mông vùng cao với thầy Mâu đã nhiều năm. Tôi thấy, thầy Mâu rất tâm huyết với việc truyền đạt tiếng nói, chữ viết dân tộc Mông cho nhiều thế hệ giáo viên, cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh nói chung. Ðến nay, nhiều thế hệ học trò của thầy Mâu là người dân tộc Mông ở các xã Tả Sìn Thàng, Sính Phình, Tả Phìn… đều đã trưởng thành, là cán bộ xã, huyện và vẫn thường xuyên về thăm thầy, để ôn lại kỷ niệm những ngày đầu được thầy bảo ban, truyền đạt từng nét chữ Mông, tiếng Mông…”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Giáo Mường Dạy Tiếng Anh Trên Đất Khách
  • Hòa Bình: Xây Dựng Bộ Gõ, Biên Soạn Tài Liệu Dạy Và Học Chữ Mường
  • Người Thầy “gọi Hồn” Cho Tiếng Mường
  • Kinh Nghiệm Dạy Tiếng Anh Lớp 4 Tăng Hứng Thú Học Cho Bé
  • 5 Lưu Ý Giúp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Lớp 4 Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Trường Quân Sự Tỉnh Khai Mạc Lớp Dạy Tiếng Mông Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Dạy Học Tiếng Nga Tại Tphcm
  • Khóa Học Tiếng Nga Cho Người Bắt Đầu
  • Bí Quyết Học Tiếng Đức Online Hiệu Quả Không Nên Bỏ Qua
  • Lớp Tiếng Pháp Cho Trẻ Em (Từ 4 – 11 Tuổi)
  • Học Tiếng Pháp Ở Trẻ Đúng Cách
  • Quang cảnh lễ khai mạc lớp tiếng Hmông năm 2022. (Ảnh: Phạm Hồ Trúc)

    Với chương trình rút gọn trong thời gian 2 tháng, các đồng chí học viên được nghiên cứu học tập giáo trình tiếng Mông do Bộ Giáo dục – Đào tạo biên soạn do các đồng chí sĩ quan có nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp tiếng Mông trực tiếp giảng dạy.

    Chương trình học bao gồm: hệ thống âm ngữ bộ phận tiếng Mông, luyện từ câu, luyện cách kể chuyện, phương pháp làm bài tập làm văn… Trong chương trình học tập, Ban tổ chức lớp học còn bố trí cho các đồng chí học viên đi thực tế tại các thôn, bản của địa phương để tiếp xúc, trao đổi trò chuyện trực tiếp với đồng bào Mông để củng cố thêm kiến thức đã học…

    Các đại biểu dự lễ khai mạc. (Ảnh: Phạm Hồ Trúc)

    Thông qua các nội dung học tập, học viên sẽ nắm chắc các nội dung cơ bản của giáo trình tiếng Mông. Từ đó, vận dụng hiệu quả vào công tác tuyên truyền vận động quần chúng tại cơ sở. Góp phần nâng cao nhận thức cho đồng bào thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, giữ vững ổn định an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội; phòng chống có hiệu quả âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhất là ở cơ sở vùng sâu, vùng xa trong tình hình hiện nay.

    Phạm Hồ Trúc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Mường – Một Số Câu Cơ Bản Nhé Các Bạn!
  • Khoa Họctiếng Anh Lớp 4
  • Học Tiếng Lào Ở Đâu?
  • Một Số Câu Thông Dụng
  • Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Indonesia Uy Tín, Chất Lượng
  • Học Tiếng Và Chữ Dân Tộc Mông

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Kiểm Tra Và Cấp Chứng Chỉ Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Trang Tin Điện Tử Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô
  • Ngày Hội Giao Lưu Tiếng Việt Hs Dân Tộc Thiểu Số Cấp Tiểu Học
  • Tình Hình Sử Dụng Ngôn Ngữ Của Học Sinh Dân Tộc Pako Ở Huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế (The Use Of Language Of Pako Pupils In A Luoi District, Thua Thien Hue Province)
  • Các phụ âm trong tiếng Mông được chia thành 04 nhóm theo cách phát âm sau

    A- Nhóm đầu lưỡi chân răng gồm 5 phụ âm: X; CX; NX; TX; NZ

    1- “x” là phụ âm sát đầu lưỡi chân răng không nhấn hơi ( xơưx)

    Ví dụ: xaz iz (mồng một), xaz aoz (mồng hai). … xaz câuv (mồng mười).

    – hli xaz: (đầu tháng), xiz têl: (lòng bàn tay);

    2- ” cx”: Là phụ âm tắc sát đầu lưỡi chân răng có nhấn hơi (cxơưx);

    Ví dụ: cxuô lênhx (mọi người); cxiv trăng (xây dựng); cxêv jâuz ( nhặt rau); cxix cxuô (đầy đủ); cxôngr greix (thái thịt); cxuô cxuô (vân vân).

    – Cxiv tsăng jêl jaol bluô nux(Xây dựng nông thôn giàu có)

    3- ” nx”: Là phụ âm tắc sát đầu lưỡi chân răng , nhấn hơi và có tiền âm mũi( ưxơưx)

    Ví dụ: Tul nxư(con voi); câul nxư (ngà voi); nxeik nzơưv (con gái út); nxuôr mil (râu ngô); nxuôz (rêu, rong).

    – Cur nxeik nhưl cơưv tuôv shux (Con gái lớn của tôi học đại học)

    4- ” Tx”: là phụ âm tắc sát đầu lưỡi chân răng không nhấn hơi ( txơưx).

    Ví dụ: Txir đuôx (quả đào); txir khơưz (quả mận);naox (ăn); blêx txuô (thóc tẻ); txir nzơưv (chú ruột).

    – Cur nav txar ntâuz xơưk yao yaz

    (Mẹ tôi cắt vải may áo mới)

    – Nưl ziv txâuk naox txâuk zôngv

    (Nhà anh ta đủ ăn đủ tiêu)

    – Lênhx nxeik haor txơưx uô lâus thêv

    (Cô gái ấy giỏi thêu thùa)

    – Lênhx nxeik kreir môngl zuôr txir lơưv

    (Cô gái đó đi lấy chồng rồi)

    – Xangr cuôs uô lênhx bluô, sơưr đơưl zuôr txơưx gruôs txuôs.

    (Muốn cuộc sống khá giả, mọi người cần biết tiết kiệm)

    5- ” nz”: Là phụ âm tắc sát đầu lưỡi chân răng , không nhấn hơi, có tiền âm mũi (ưzơưx)

    Ví dụ: nzuôr muôs(rửa mặt); nzuôr chêr (tắm); nzur (sớm); nzâus (gầy), luz nzuôv (cái quạt).

    – Tul ntông nor nzas jưl hưngr fuô tsi tơưs

    (cây gỗ này quánh quá, bổ không được)

    – Caox nzangz nzơưv muôz luz ntiv heik maor naox.

    (Anh tiện thể lấy bát xới cơm ăn)

    – Năngs lul nzêx nzâuv thơưv iz caz (iz khư).

    (Mưa dầm dề suốt một tuần)

    – Năngs lul nzux nzaos thơưv iz hnuz.

    – Hnăngz blêx tăngz chuô nzuôx nzaos.

    (Bông lúa rập rờn trong gió)

    – Lax têz nzâus, zuôr zuôv ntâu qir.

    (Ruộng nương bạc màu, phải bón nhiều phân)

    B- Nhóm cuống lưỡi hàm mềm gồm 11 phụ âm: S, J, NJ, TS, GR, K, KR, NKR, W, Y, NY

    1- ” S”:là phụ âm sát cuống lưỡi hàm mềm ,không nhấn hơi (sơưx)

    Ví dụ: siz(nhẹ); sơưr nzur (dạy sớm); sâu kông (thu hoạch), naox su(ăn trưa), suôz jêz (cát) …

    2 – ” J”: là phụ âm sát cuống lưỡi hàm mềm ,không nhấn hơi ( jơưx)

    Ví dụ: jê (gần); jông (tốt); jôngr (rừng); jêx jaol (bản làng); jiz mur(mật ong)…

    3 – ” nj”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , có tiền âm mũi, không nhấn hơi (ư jơưx)

    Ví dụ: njê (sắc), njêr (muối); njêl (cá); njuôz (xanh); jâuz njuôz (rau cải); njaz (gạo)

    4-” Ts”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , không nhấn hơi ( tsơưx)

    Ví dụ: tsêr (nhà); tsêz nor (năm ngoái); txir tsơưz(qủa chuối); naox tsâu (ăn no);

    5 – ” Gr”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , có tiền âm mũi, không nhấn hơi (ư grơưx)

    Ví dụ: greix(thịt); greix buô(thịt lợn); gruôs cơưv (chăm học), gruôv tav (vân tải).

    6 – ” k”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , không nhấn hơi (kơưk)

    Ví dụ: tul keiz (gà); keiz kuô (gà gáy); kaok kei ( khoai sọ); kaok laz (khoai lang); kaok ntông (củ sắn).

    7 – ” kr”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , nhấn hơi (krơưx)

    Ví dụ: kruô (khách); kruôr (khô hạn); kruôz kra(giáo dục, dạy dỗ); krar (gừng); jâuz krưr (cải bắp)

    8 – ” nkr” là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , nhấn hơicó tiền âm mũi, ( ư nkrơưx)

    Ví dụ: nkrêk đêx (khát nước); nkruôz saz (thèm, khao khát); nkrang đris (sáng sủa); nkrang saz (hả lòng hả dạ).

    9 – “w”: là phụ âmsát cuống lưỡi hàm mềm , không nhấn hơi ( wơưx)

    Ví dụ; wav txưr (đôi tất); wa wa ( oa oa); wav wav (tiếng họ trâu dừng lại); woangx chuôz (họ vương).

    10 -” y”:là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm , nhấn hơi ( yơưx)

    Ví dụ: yik (con dê); yưk (con mèo); yeiz plăngz (đói bụng); yur kênhx (thổi khèn); yuôx zêx (chè); yêz(xe); yao yaz (áo mới)

    11 – “ny”:Là phụ âm tắc sát cuống lưỡi hàm mềm, nhấn hơi, có tiền âm mũi( ư nyơưx)

    Ví dụ: nyaz jâuv(trong vắt, trong sạch); nyei(sợ hãi); nyangr( huyết, tiết); nyâur ( con chấy); tul nyuôz ( con rái cá).

    C- Nhóm phụ âm môi môi, môi răng gồm 11 phụ âm: M, P, PH, B, BL, FL, F, MF, MFL, PL, MN

    (trong các phụ âm trên có các phụ âm m, p, ph, giống hoàn toàn tiếng Việt)

    1-Phụ âm b: Là phụ âm môi môi không nhấn hơi có tiền âm (ừbơưx)

    Ví dụ: buô têz (lợn rừng); buô tsaz (lợn tết); )

    2-Phụ âm bl: là phụ âm môi môi không nhấn hơi ( blơưx)

    Ví dụ: blêx blâuv (thóc nếp); blêx txuô (thóc tẻ)

    3-phụ âm f: là phụ âm môi môi, đọc như ph tiếng Việt nhưng bật hơi ( fơưx)

    Ví dụ: fơưr (bồ), fôngx zưl (bạn bè); fax (bia); fangv tas (mập thật). faov (súng, bở, xốp); angr faov: đất xốp

    4-Phụ âm fl: là phụ âm môi môi, đọc như f tiếng Việt nhưng bật hơithêm l ( flơưx)

    Ví dụ: flu (mặt, má); flâuz (vỏ); flâuz qaox (vỏ chăn);flư (vuốt, xoa)

    5-Phụ âm mf:là phụ âm môi môi, bật hơi, có tiên âm (ưmfơưx).

    Ví dụ: mfaoz(tàn, hơi cũ); mfông (rắc). đeiv mfuôz (biển cấm); mfêv mfur (bùng nhùng).

    6-Phụ âm mfl: là phụ âm môi môi, bật hơi, có tiền âm, rồi thêm l( ừmflơưx)

    Ví dụ: mfleiz (nhẫn);mfleiz cuz ( nhẫn vàng), mflaok (châm); mflar (lảnh lót)

    7-Phụ âm pl: là phụ âm môi môi không nhấn hơi ( plơưx)

    Ví dụ: plaz (bẹp); plơưr (tim); plâuz (bốn); plăngz (bụng);

    8-Phụ âm mn: Là tổ hợp phụ âm tắc sát hai môi đầu lưỡi hàm ếch cứng, không nhấn hơi có tiền âm ẩn ( ừ nơưx)

    Ví dụ: Mno: tiếng mèo kêu; mnôngl hu gâux: tiếng khèn lá gọi bạn

    D. Nhóm phụ âm đầu lưỡi, mặt lưỡi hàm ếch trên gồm 31 phụ âm:

    C, CH, Đ, ĐR, ĐH, G, H, HL, HM, HMN, HN, HNH,KH, L, N, ND, NG, NH, NKH, NQ, NR, NT, NTH, Q, R, SH,T, TH, TR, V,Z

    ( Trong đó có 11 phụ âm giống tiếng Việt hoàn toàn là: c, đ, h, kh, l, n, ng, t, th, tr, v)

    1-Phụ âm ch:Là phụ âm mặt lưỡi hàm ếch trên, đọc gần giống ch trong tiếng Viết, có giới âm(i). ( chìa)

    Ví dụ:Chaoz chêv (dặn dò); chax sar (sự sống);cheix yaz (mùa xuân);cheix cuz (mùa hè).

    2-Phụ âmĐr: Đọcgần nhưTrtrong tiếng Việt miền Trung và có âm mũi ở trước (ưđrơưx)

    Ví dụ:đraor (tiếng kêu); đraos (cỏ, cây); đrơưv (nhanh); đriv têz qơư (biên giới nước) đrê (nếp gấp); đrông (kêu).

    3-Phụ âmĐh: Là phụ âm mặt lưỡi hàm ếch trên,đọcgần nhưthtrong tiếng Việt, có bật hơi (đhơưx).

    Ví dụ:Đha (chạy), đha đhâu (chạy qua); đhuôr (ngán).

    4-Phụ âm G: Là phụ âm xát mặt lưỡi hàm ếch trên, không nhấn hơi (và có tiền âm mũi không biểu thị).

    Ví dụ: guôx buô (chuồng lợn); gơưv khâu (đôi giầy, đôi dép); luz gaox (cái thuyền)

    5-Phụ âm Hl: Đọc nhưLtrong tiếng Việt , khi phát âm lùa hơi qua hai bên cạnh lưỡi( hlơưx)

    Ví dụ:hlangr (nẩy lộc); hlâu (sắt); hleik (cắt); hlôngr (thay đổi); hluô (dây); hlơưr (đốt).

    6- Phụ âm Hm:Đọc như m nhưng có nhiều hơi qua mũi. Có tiền âm mũi (ư hmơưx)

    Ví dụ: Hmao: đêm; Hmôngz: Mông; lênhx Hmôngz: người Mông; Hmaor yuô: thân mến

    7 -Phụ âm hmn: Đọc như hm nhưng có thêm n ở cuối(ư hmnơưx)

    Ví dụ: hmnuôr ; (trong Mông Đơưz: móp, méo)

    8-Phụ âm hn: Đọc nhưn trong tiếng Việt nhưng có nhièu hơi qua mũi. Có tiền âm mũi (ư hnơưx)

    Ví dụ; hna (ngửi); hnuz (ngày); hnar (răng); hnaor (nghe); hnaor kangz (quên)

    9- Phụ âm hnh:Đọc như nh thêm tiền âm.(ư hnhơưx)

    Ví dụ: hnhăng (nhăn nhó); hnhăngr (nặng); hnhur maos (ruột non);

    10- Phụ âmnd: đọc như d trong tiếng Việt, có tiền âm(ư ndơưx)

    Ví dụ: Nduôr (bánh); nduôr blâuv (bánh nếp); nduôr txuô (bánh tẻ); nduôr pak (bánh mạch).

    11- Phụ âmnh: Đọcgần như nhtrong tiếng Việt có giới âm (i) , mặt lưỡi hàm ếch (nhơưx)

    Ví dụ: nhuôs(trẻ nhỏ);nhaoz tsêr (ở nhà); nhaoz tưs (ở đâu) nhax (tiền); nhênhv nntơưr(đọc sách)

    12- Phụ âm nkh: Đọc như kh trong tiếng Việt có tiền âm mũi (ừ khơưx)

    Ví dụ: nkhaoz (trũng); luz nkhangk keiz (cái bu, lồng gà); cêr nkhâuk (đường quanh co); nkhik (sứt, mẻ); nkhiz têl (kẽ tay)

    13-Phụ âm q: Là phụ âm tắc sát mặt lưỡi hàm ếch trên. Đọc như S trong tiếng Việt có giới âm (i) ẩn và nhấn hơi (qơưx)

    Ví dụ: qơư nhaoz (nơi ở); qaox păngx (chăn bông); tul qaox (cây cầu).

    14- Phụ âm r: Là phụ âm tắc sát mặt lưỡi hàm ếchcứng, nhấn hơi rung đầu lưỡi. (rơưx)

    Ví dụ: râuz đêx (đun nước); reik blôngx(cắm lá cấm); luz rơưr (thùngđựng nước); ruô (cây hẹ).

    15-Phụ âm nq: Đọcgần nhưQ ở trên nhưng bật hơi và có tiền âm mũi (ư nqơưx)

    Ví dụ; nqông (bao phủ); nqu (khói);nquôr nhax (đúc bạc); nquôr kheik (đúc cày).

    16- Phụ âm nr:là phụ âm tắc sát đầu lưỡihàm ếch cứng, có tiền (ư nrơưx).

    Ví dụ: nrar (tìm); nrăngr (cây vông); nrôngz (xà cạp)

    17- Phụ âm nt: là phụ âm tắc sát đầu lưỡi hàm ếch trên,không nhấn hơi,có tiền âm (ư ntơưx)

    Ví dụ; ntaox nênhx(cuộc đời); ntâu (nhiều); ntâuk (đánh); ntâuk ntir (đánh cầu).

    18-Phụ âm nth: là phụ âm tắc xát đầu lưỡi hàm ếch trên, đọc như th có thêm tiền âm (ư nthơưx)

    Ví dụ:nthăngz (gác bếp), nthê chuôv(cãi nhau); nthênh par (rán bánh); nthênh njêl (rán cá).

    19- Phụ âm z: là phụ âm tắc sát mặt lưỡi hàm ếch trên, không nhấn hơi, có giới âm (i).( zơưx).

    Ví dụ: luz zal (cái chảo); zơưv (ông); zaos (phải); zaoz zux (giáo dục).

    20- Phụ âm sh:là phụ âm tắc sát mặt lưỡi hàm ếch trên, không nhấn hơi, có giới âm (i). (shơưx)

    Ví dụ: shang (bẩy), shuv xênhz (học sinh); shangv (ảnh); đeiv shangv (bức ảnh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Và Học Tiếng Khmer Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Các Nghệ Nhân Nghệ An, Điện Biên Trình Diễn Âm Nhạc Của Người Khơ Mú
  • Nét Độc Đáo Tết Cổ Truyền Của Dân Tộc Khơ Mú
  • Nhiều Ưu Đãi Tại Hội Thảo Du Học Trung Quốc
  • Nội Dung Học Phần Hệ Thống Hóa Những Kiến Thức Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Mông Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Mông

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Vốn Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Bằng Song Ngữ
  • 3 Cách Giảm Mỡ Mông Tại Nhà Cấp Tốc
  • 12 Liệu Pháp Thần Thánh Trị Thâm Mông Cấp Tốc
  • Khách Tây Bất Ngờ Đến Nhà, Chàng Trai H’mông ‘trúng’ Lớn
  • Bế Mạc Lớp Học Tiếng H’mông Khóa Ii Tại Trung Tâm Mục Vụ Hưng Hóa
  • Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    Nội dung học phần hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và văn hóa Mông trong bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Mông được quy định tại Tiết b Tiểu mục 2 Mục IV Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Mông ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo đó:

    Nội dung học phần hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và văn hóa Mông trong bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Mông bao gồm:

    – Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ tiếng Mông:

    + Giới thiệu chung về tiếng Mông;

    + Hệ thống ngữ âm: Cấu trúc âm tiết tiếng Mông, nguyên âm, phụ âm, vần; chữ viết tiếng Mông và những vấn đề cần lưu ý về chữ viết;

    + Vấn đề phương ngữ và xử lí hiện tượng phương ngữ trong dạy học tiếng Mông.

    + Cấu tạo từ: Từ và hình vị; từ đơn tiết, từ đa tiết, từ ghép, từ láy; tiền âm tiết và phụ tố; các phương thức cấu tạo từ: Phương thức phụ tố, phương thức láy, phương thức ghép;

    + Từ gốc và từ mượn;

    + Nghĩa của từ, từ nhiều nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Mông;

    + Các biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ.

    + Từ loại: Danh từ và cụm danh từ, động từ và cụm động từ, tính từ và cụm tính từ, đại từ, quan hệ từ, thán từ, trợ từ, thành ngữ, tục ngữ tiếng Mông;

    + Câu và cấu tạo câu: Quan niệm về câu, các thành phần câu;

    + Các kiểu câu: Phân loại câu theo mục đích nói (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến); phân loại câu theo cấu tạo (câu đơn, câu ghép; câu bình thường, câu đặc biệt, câu rút gọn).

    – Hệ thống hoá kiến thức cơ bản về văn hóa dân tộc Mông

    + Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đồng bào dân tộc Mông sinh sống: Núi cao, địa hình khó đi lại, đất đai phù hợp phát triển vùng kinh tế gắn với một số loại cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc và mối quan hệ của nó với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước;

    + Một số đặc điểm về văn hóa dân tộc Mông trong quan hệ với tính thống nhất và đa dạng của văn hóa Việt Nam: Văn hóa giao tiếp (văn hóa giao tiếp của người Mông trong cộng đồng người Mông và ngoài xã hội); tín ngưỡng, tôn giáo, dòng họ; lễ thức dân gian (cưới xin, tang lễ); lễ hội (lễ hội Gầu Tào, lễ hội Cấm Rừng); trang phục truyền thống và đồ trang sức; ẩm thực truyền thống (mèn mén); luật tục của dân tộc Mông;

    + Một số đặc điểm cơ bản của văn học Mông trong quan hệ với sự phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam: Văn học dân gian (thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ, thành ngữ, dân ca, câu đố); văn học viết Mông trước đây và hiện nay.

    Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Giảng Lớp Học Tiếng H’mông Khóa 1
  • Lớp Học Tiếng H’mông Khóa 1 Diễn Ra Thành Công Tốt Đẹp
  • Sử Thi “đẻ Đất Đẻ Nước” Của Người Mường Với Sự Tích Trống Đồng
  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 5 Môn Tiếng Việt Trường Tiểu Học Mường Mìn, Thanh Hóa Năm 2022
  • Tiếng Mường Trên Sóng Phát Thanh
  • Nữ Chủ Nhiệm Clb Sinh Viên H’mông Mở Lớp Dạy Tiếng Anh Miễn Phí

    --- Bài mới hơn ---

  • Bỏ Thi Chứng Chỉ Ngoại Ngữ: Đừng Bắt Giáo Viên Vùng Cao Phải Thi Chứng Chỉ Tiếng H’mông Rồi Bỏ Xó
  • Chuyển Biến Tích Cực Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Trường Phổ Thông
  • Top Sách Dạy Con Tiếng Anh Hay Nhất Giai Đoạn “vỡ Lòng”
  • Hướng Dẫn Phát Âm Tiếng Mã Lai
  • Chương Trình Giảng Dạy Tiếng Anh Tại Thái Lan
  • Lồ Thị Sáy đang là sinh viên năm 3 ngành Sư phạm tiếng Anh của trường ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG Hà Nội. Hiện tại, Sáy đang là chủ nhiệm Câu lạc bộ Sinh viên H’Mông tình nguyện tại Hà Nội.

    Sáy tuy có ngoại hình nhỏ bé nhưng luôn tràn đầy năng lượng. Hình ảnh cô chủ nhiệm với nụ cười luôn thường trực trên môi, lan tỏa năng lượng tích cực đến mọi người xung quanh đã quá quen thuộc với các thành viên CLB.

    Trò chuyện cùng Sáy, cô nữ sinh quê Sa Pa (Lào Cai) hào hứng kể về những ngày bén duyên với công tác tình nguyện của mình. Vốn là một cô gái có mong muốn được cống hiến nên từ khi còn học phổ thông, Sáy đã tự tổ chức những nhóm tự phát đi vùng sâu, xa của xã mình để làm tình nguyện.

    Đến khi lên đại học, vô tình biết đến CLB sinh viên H’Mông thông qua một chương trình lên Sa Pa, Sáy đã mạnh dạn đăng ký tham gia. “Mình quê ở Sa Pa, lại là người Mông nên không có lý do gì để mình không tham gia cả. Sau đó, mình đã cố gắng ứng tuyển và tham gia với tư cách cộng tác viên”, Sáy chia sẻ.

    Tiếp đó, cô bạn đã không ngừng cố gắng ứng tuyển để được trở thành một thành viên chính thức của CLB. Sau khoảng thời gian hoạt động, nhờ được các thành viên tín nhiệm nên năm 2022, Lồ Thị Sáy chính thức lên làm chủ nhiệm.

    Sáy cho biết các bạn sinh viên người H’Mông học ở Hà Nội không hề ít. Nhưng số lượng không có nhiều ở các trường đại học mà tập trung chủ yếu ở các trường cao đẳng, trung cấp. Vì vậy để liên hệ được với các bạn là điều không hề dễ dàng.

    May mắn nhờ có cơ hội tham gia rất nhiều chương trình như Tết H’Mông xuống phố, chương trình gặp mặt hội đồng hương cho các bạn dân tộc nên Sáy đã cố gắng tìm kiếm các thành viên có khả năng, có thể phối hợp cùng cô bạn trong quá trình phát triển hoạt động của CLB sau này.

    Vì là dân tộc thiểu số lại có ngôn ngữ nói riêng nên Sáy tâm sự phần lớn các sinh viên H’Mông khá thu mình. Đây là khó khăn chính của CLB. Ngoài ra, trong quá trình gây quỹ, tổ chức sự kiện các bạn đều gặp phải khó khăn do chưa có kinh nghiệm.

    Vượt qua những rào cản đó, với tinh thần của tuổi trẻ, Sáy và CLB đặt mục tiêu sẽ tích lũy dần, từ những bước chân đầu tiên. “Bước đầu không cần quan tâm quá nhiều đến kết quả đạt được mà tụi mình sẽ cố gắng hết sức mình, làm tốt nhất có thể”, Sáy nói.

    Tự học tiếng Anh từ năm 7 tuổi và mở lớp dạy ngoại ngữ miễn phí

    Sinh ra và lớn lên ở Sa Pa nên cô bạn Lồ Thị Sáy có nhiều lợi thế về môi trường giao tiếp với người nước ngoài. Từ năm 7 tuổi, Sáy đã bắt đầu nói chuyện được bằng tiếng Anh.

    “Nhà mình nằm trong bản du lịch nên khách đi qua nhà, mình sẽ cố gắng giao tiếp tiếng Anh với khách bằng bất cứ cách nào. Khi đó, chỉ gọi là bập bẹ, bắt đầu nói tiếng Anh bồi”, Sáy kể.

    Đến năm học lớp 6, cô bạn cảm thấy tiếng Anh khá thú vị nên học tiếp. Năm lớp 8,9 Sáy thấy rất thích ngôn ngữ này và đến năm lớp 12, cô bạn đã có thể tự đi làm, kiếm tiền bằng tiếng Anh thông qua việc làm hướng dẫn viên.

    Lên đại học, nhờ có vốn tiếng Anh sẵn có, Sáy mạnh dạn mở lớp tiếng Anh miễn phí cho các em nhỏ. Lớp được tổ chức vào dịp hè và ban đầu chỉ dạy trong họ hàng, hàng xóm xung quanh.

    Nhưng rồi dần dần cả làng biết và đưa con đến xin học. Để đáp ứng được nhu cầu cho tất cả mọi người, Sáy đã xin mượn lớp ở trường để dạy và hiện tại cô bạn có hơn 100 em học sinh.

    “Quá trình dạy học tiếng Anh của mình cũng khá là khó vì mình chưa qua trường lớp nào, chưa qua lớp gia sư, thậm chí là chưa từng biết cuộc thi IELTS.

    Tuy nhiên mình may mắn sinh ra và lớn lên ở Sa Pa, có cơ hội được tiếp xúc với người nước ngoài từ bé. Vì vậy mình có lợi thế về phát âm, lợi thế vì bản thân mình thích”, Sáy tâm sự.

    Cũng nhờ lợi thế này mà khi đi học, Sáy luôn cố gắng sử dụng cách phát âm, ngữ điệu mình học được ở thực tế kết hợp với ngữ pháp học ở trường để tích lũy và dạy cho các em.

    Cô sinh viên dân tộc Mông tiêu biểu

    Hiện tại, Lồ Thị Sáy là sinh viên dân tộc duy nhất trong lớp Sư phạm tiếng Anh cô bạn đang theo học. Với nhiều bạn đồng môn, việc ôn và thi đỗ vào đại học cần sự cố gắng một thì với Sáy, để thi đỗ được phải cố gắng và nỗ lực rất nhiều lần.

    Sáy kể về cơ duyên đến với trường ĐH Ngoại ngữ: “Mình mong muốn lắm nhưng ban đầu chỉ đăng ký để đấy vì không nghĩ bản thân có thể đủ điểm vào học tại trường. Tuy nhiên may mắn năm mình thi có nhiều lợi thế về cách thức thi, chuyển sang thi trắc nghiệm nên cũng dễ dàng hơn.

    Đồng thời mình được cộng điểm từ sự khó khăn nên mình đã kiên trì lựa chọn trường. Mình học Sư phạm vì được miễn một phần học phí, trường lại đặc thù về ngoại ngữ nên sẽ giúp mình thực hiện ước mơ dạy học”.

    Ngoài tham gia các hoạt động tình nguyện, Sáy cũng là thành viên của CLB phát triển kỹ năng sư phạm. Năm thứ 2, cô bạn lên làm Phó chủ nhiệm CLB. Về học tập, Sáy cũng có một số thành tích nhất định và vừa qua cô bạn cũng nhận được học bổng Vừ A Dính.

    Mong mong muốn lâu dài của Sáy là sau khi tốt nghiệp sẽ trở về quê hương làm việc. Tuy nhiên cô bạn dự định sẽ học hỏi ở đây những kinh nghiệm, tích lũy thêm kiến thức mới có thể về quê nhà để giúp đỡ mọi người được.

    Ngoài ra, điều cô gái H’Mông ấp ủ lớn nhất là có thể thay đổi một phần nhận thức của đồng bào người H’Mông. Thông qua các hoạt động của CLB, Sáy muốn lan tỏa thông điệp rằng những bạn trẻ về tình nguyện không chỉ có người Kinh mà còn có người H’Mông, cộng đồng của họ.

    Đó sẽ là minh chứng để người dân có thể cho con em mình đi theo, nhìn vào hoạt động của sinh viên H’Mông và thúc đẩy con em họ đi học để có một tương lai tốt đẹp hơn.

    Kim Bảo Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngữ Văn: Hd Dạy Tiếng H’ Mông
  • Video: Mông Cổ Phản Đối “diệt Chủng Văn Hóa”, Nghi Ngờ Cảnh Sát Cũng Tham Gia Biểu Tình
  • Khai Giảng Lớp Học Tiếng Việt Đầu Tiên Tại Mông Cổ
  • Nữ Quan Chức Mông Cổ Nhảy Lầu Tự Vẫn Để Phản Đối Nạn Diệt Chủng Văn Hóa
  • Biểu Tình Lớn Tại Nội Mông Cổ Vì Chính Sách Giảng Dạy Bằng Tiếng Hán
  • Đào Tạo, Cấp Chứng Chỉ Tiếng Mông (0965281455)

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Malaysia Nói Tiếng Gì? Những Sắc Màu Ngôn Ngữ Ở Malaysia
  • Malaysia Nói Tiếng Gì ? Ngôn Ngữ Được Sử Dụng Nhiều Nhất Malaysia
  • Học Tiếng Malaysia Giao Tiếp Căn Bản : Học Về Số Đếm
  • Top 15 Trường Đại Học Nổi Tiếng Hàng Đầu Nước Mỹ
  • Top 10 Trường Đại Học Hàng Đầu Nước Mỹ
  • Học tiếng mông, 0965281455 chứng chỉ tiếng mông, tiếng trung, tiếng nhật, chứng chỉ tiếng trung, chứng chỉ tiếng nhật, học tiếng mông tại trung tâm nào ? nơi nào cấp chứng chỉ tiếng mông? Làm chứng chỉ tiếng mông, bán chứng chỉ tiếng mông, làm nhanh chứng chỉ tiếng mông

    Bạn đang có nhu cầu muốn học tiếng mông ? Học và thi tiếng mông ở đâu tốt nhất ?

    Trung Tâm Dạy Nghề Đông Nam Á

    Liên kết tuyển sinh đào tạo cấp chứng chỉ Tiếng Mông, tiếng dân tộc, Tiếng Trung, Tiếng nhật, Tiếng hàn

    Thời gian đào tạo: 03 tháng

    Lệ phí tuyển sinh: 100.000đ

    Đối tượng tuyển sinh: là cán bộ công nhân viên chức công tác tại vùng cao có nhu cầu học tiếng mông, tiếng tày, tiếng dân tộc. Học viên thi công chức, viên chức tại các xã vùng sâu, vùng xa.

    Hoàn thành khóa học, học viên được cấp chứng chỉ tiếng Mông, tiếng tày, tiếng nùng

    Thời gian học: học buổi tối các ngày trong tuần hoặc đăng ký lịch học ngày t7, chủ nhật

    Đối với học viên ở tỉnh xa đã biết Tiếng mông, Tiếng tày, tiếng dân tộc…. có nhu cầu đăng ký thi cấp chứng chỉ tiếng Mông, chứng chỉ tiếng tày, chứng chỉ tiếng dân tộc khác Liên hệ số: 0965281455 để đăng ký lịch thi cụ thể. Và hướng dẫn đóng học phí nộp hồ sơ

    Hồ sơ gồm có:

    – Sơ yếu lý lịch

    – Chứng minh nhân dân photo 2 mặt

    – 02 ảnh 3*4 ( ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh sau ảnh)

    Học tiếng mông, 0965281455 chứng chỉ tiếng mông, tiếng trung, tiếng nhật, chứng chỉ tiếng trung, chứng chỉ tiếng nhật, học tiếng mông tại trung tâm nào ? nơi nào cấp chứng chỉ tiếng mông? Làm chứng chỉ tiếng mông, bán chứng chỉ tiếng mông, làm nhanh chứng chỉ tiếng mông

    Văn phòng tuyển sinh:

    Số 26/72 Nguyến trãi, Thanh xuân, Hà nội

    Sđt: 0965281455

    Email:[email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đừng Bắt Giáo Viên Vùng Cao Phải Thi Chứng Chỉ Tiếng Anh Rồi Bỏ Xó
  • Bài Nói Tiếng Anh Về Thời Tiết
  • Có Một Giọng Trung Chuẩn Hơn Hà Nội, Huế, Sài Gòn?
  • Gia Sư Tiếng Anh Lớp 1 Gia Sư Dạy Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 1
  • Cần Thơ: Không Bắt Buộc Học Sách Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100