【#1】Đặc Điểm Tiếng Anh Chuyên Ngành Dược Học Trong Sự Đối Chiếu Với Tiếng Việt Tt

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ BÊ

ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH

DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2021

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Văn Vân

Phản biện 1: chúng tôi Lê Quang Thiêm

Phản biện 2: GS. TS. Nguyễn Quang

Phản biện 3: chúng tôi Nguyễn Văn Chính

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội

Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

vào hồi…giờ….phút, ngày….tháng….năm 2021

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

– Thư viện Quốc gia Việt Nam

– Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Dược học trước đây từng là một bộ phận trong ngành Y học. Song

với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật trong thế giới hiện đại,

Dược học đã nhanh chóng tách ra thành một ngành độc lập nhưng vẫn còn

giữ mối liên hệ chặt chẽ với Y học, các ngành khoa học cơ bản và khoa học

ứng dụng khác (Lê Văn Truyền, 2014). Ngành dược chuyên về bào chế, sản

xuất các loại thuốc (hay còn gọi là dược phẩm) cũng như thực hiện việc

khám chữa bệnh, phân phối thuốc và có trách nhiệm đảm bảo an toàn, hiệu

quả của các loại dược phẩm. Vì vậy, khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên

ngành thành thạo sẽ giúp những người làm trong ngành Y Dược có thể tiếp

cận với tri thức cũng như với những tiến bộ của ngành một cách nhanh

nhất. Bàn về vai trò của tiếng Anh khoa học, Robert Goldbort (2006) khẳng

định: “Tiếng Anh khoa học có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cộng đồng các

nhà nghiên cứu khoa học”. Trên thực tế, những tài liệu nghiên cứu hay

những phát minh, ứng dụng mới về dược học trên thế giới hầu hết đều được

công bố bằng tiếng Anh. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành (ví

dụ, Halliday et al.,1964; Widdowson, 1979; Johns & Dudley-Evans, 1991)

cho rằng hiểu biết được những đặc điểm ngôn ngữ và văn bản của ngôn ngữ

chuyên ngành sẽ giúp quá trình đọc hiểu được nhanh hơn, viết các bài viết

về chuyên ngành có hiệu quả hơn và dịch chuyên ngành từ ngôn ngữ này

sang ngôn ngữ kia một cách chính xác hơn và thoát ý hơn. Hơn nữa, hiện

nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có công trình nghiên cứu

nào phân tích, đối chiếu những đặc điểm của VBCNDH tiếng Anh với tiếng

Việt dựa trên quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Thực tế trên

đây là động lực chủ yếu để chúng tôi triển khai đề tài ĐẶC ĐIỂM TIẾNG

ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI

TIẾNG VIỆT.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: (i) Mục đích

nghiên cứu: Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất,

phân tích bản chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội

trong văn bản chuyên ngành dược học (VBCNDH) tiếng Anh và tiếng Việt từ

quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ

vực (Register). Thứ hai, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt về

đặc điểm ngôn ngữ trong hai loại văn bản trên để tìm ra những nét tương

1

đồng và khác biệt về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể là

về đặc điểm: Hệ thống chuyển tác, Tham thể/Chủ ngữ, thuật ngữ, cấu

trúc/dạng, thức, tình thái, đề ngữ, quy chiếu và liên kết logic; (ii) Nhiệm vụ

nghiên cứu: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên

ngành, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng

Việt trên thế giới và ở Việt Nam; (ii) Tổng quan những đặc điểm cơ bản về

cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để xây dựng khung lí

thuyết cho luận án ngữ vực; (iii) Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập

để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và

tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương

diện Trường, Không khí và Cách thức; (iv) Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ

trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo các phương diện đã nêu, từ

đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ; và (v)

Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về đặc điểm Trường,

Không khí, Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án: (i) Phạm vi nghiên

cứu của luận án gồm những đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức

trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm

ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (iii) Nguồn ngữ liệu là

VBCNDH được thu thập từ Tạp chí chuyên ngành dược, cụ thể là: Tiếng Anh:

British Journal of Pharmaceutical Research (Tạp chí nghiên cứu Dược học

Anh); Tiếng Việt: Tạp chí Dược học – Bộ Y tế. Luận án lựa chọn 25

VBCNDH tiếng Anh và 25 VBCNDH tiếng Việt được xuất bản từ năm 2011

đến 2021 về các loại thuốc, dược chất, bệnh, hay hướng nghiên cứu kết hợp sử

dụng các loại thuốc để miêu tả, phân tích và đối chiếu.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án: (i)

Phương pháp miêu tả: được sử dụng để giúp luận án miêu tả để tìm ra một

số đặc điểm ngôn trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Phương

pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa về đặc điểm

của Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH như thế nào; (iii)

Phương pháp so sánh – đối chiếu được sử dụng để đối sánh các đặc điểm

ngôn ngữ nổi trội của VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra

những điểm tương đồng và khác biệt trong hai văn bản. Khung lỳ thuyết

luận án dùng để phân tích chủ yếu dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng

hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực và một số nhà nghiên cứu

khác như Halliday & Hassan (1976), Hoàng Văn Vân (2005) v.v và lý

2

3

thể. Tuy nhiên, về cơ bản, ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành

ở Việt Nam (Lâm Quang Đông, 2014). Khi nghiên cứu về bản chất các văn

bản khoa học trong mối quan hệ với dịch thuật, đi theo cách tiếp cận của

Halliday (1993), Hoàng Văn Vân (2005, 2010) đã chỉ ra một số đặc điểm có

thể khu biệt văn bản khoa học với các kiểu ngữ vực. Ông đã phác thảo một

bức tranh khái quát về ngữ vực trong ngôn ngữ khoa học. Ông cũng cho

thấy các văn bản khoa học trong tiếng Anh thường có những thuật ngữ bằng

tiếng Latinh hay có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Như vậy, xét trên bình diện

nghiên cứu diễn ngôn, Hoàng Văn Vân (1993, 2005, 2006) v.v. và một số

công trình nghiên cứu khác của ông đã có những đóng góp đáng kể vào

nghiên cứu ngữ pháp, dịch thuật, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói

chung và đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng. Ngoài ra, đã có rất

nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ chuyên ngành,

mặc dù những chuyên ngành này không gần với chuyên ngành dược học

như công trình của Nguyễn Hòa (1999), Lê Hùng Tiến (1999), Nguyễn

Xuân Thơm (2001), Đỗ Tuấn Minh (2001), Nguyễn Thị Thanh Hương

(2003), Đỗ Kim Phương (2012), Trần Bình Tuyên (2017) v.v.

Bên cạnh những công trình về tiếng Anh chuyên ngành, đã có nhiều

nghiên cứu về tiếng Việt trên các bình diện khác nhau dựa trên các quan

điểm lí thuyết khác nhau như Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban

(1989, 2005), Cao Xuân Hạo (1991, 2004), Hoàng Văn Vân (1997,

2002), Nguyễn Văn Hiệp (1999, 2007, 2008), Lâm Quang Đông (2007,

2011, 2014), Nguyễn Hồng Cổn (2000, 2004) và rất nhiều công trình

nghiên cứu khác. Trong các nghiên cứu trên, Cao Xuân Hạo là người

đầu tiên áp dụng triệt để quan hệ Đề – Thuyết vào phân tích cú pháp câu

tiếng Việt (dẫn theo Nguyễn Hồng Cổn, 2008). Ngoài ra, trong tiếng

Việt, trên lĩnh vực nghiên cứu về thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ tiếng

Việt, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu nổi bật như Đỗ Hữu Châu

(1962), Nguyễn Thiện Giáp (1978), Hoàng Văn Hành (1983), Nguyễn

Đức Tồn (2002, 2010, 2021), Nguyễn Văn Khang (1999, 2007), Hà

Quang Năng (2009, 2010) và nhiều nghiên cứu khác.

1.3. Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành dược học

trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1. Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược

học trên thế giới:

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về tiếng Anh chuyên

ngành dược trên các bình diện và hình thức khác nhau. Cụ thể là nghiên cứu

của Boudemagh Wided (2010), Lukasz Grabowski (2013, 2021) v.v. Những

nghiên cứu này đã cho thấy một số phát hiện hữu ích không những về mặt sư

5

phạm cho cả giáo viên và học viên tiếng Anh chuyên ngành dược học mà còn

có thể mở rộng đối với những loại văn bản chuyên ngành khác.

1.3.2. Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược

học ở Việt Nam

Về lĩnh vực khoa học ngành dược có công trình của Lâm Thị Thùy

Linh (2011). Nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm

ngôn ngữ của hai loại văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc trong tiếng Anh và

tiếng Việt. Công trình đã có ý nghĩa to lớn đối với việc dạy học tiếng Anh

chuyên ngành y dược cũng như trong việc dịch thuật tiếng Anh như là một

ngoại ngữ. Tiếp theo là công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp trong diễn

ngôn dược học của Vũ Thị Mẫu (2012). Nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm

của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn dược học tiếng Anh và mối quan

hệ mật thiết giữa việc sử dụng ẩn dụ ngữ pháp và sự tạo thành của văn bản

dược học. Như vậy, có thể cho thấy ngôn ngữ chuyên ngành có thể được

tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ và trên các bình diện của diễn ngôn

chuyên ngành (Nguyễn Xuân Thơm, 2008).

1.4. Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre

analysis)

1.4.1. Khái niệm diễn ngôn: Trên thế giới, khái niệm diễn ngôn đã

được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra những quan điểm khác

nhau. Khái niệm diễn ngôn lần đầu được Z. Harris (1952) cho rằng diễn

ngôn là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu. Nó là một đơn vị mở, có khả

năng phân tích. Sau này Halliday và Hassan (1976) cũng nhận định diễn

ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi nó nhấn mạnh văn bản hay

diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp. Ở Việt Nam, đi theo

khuynh hướng về quan điểm diễn ngôn của Halliday và Hassan, Hoàng Văn

Vân (2006) đã khẳng định ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử

dụng. Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ diễn

ngôn và văn bản thay thế cho nhau để mô tả đặc điểm văn bản chuyên

ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt.

1.4.2. Khái niệm phân tích diễn ngôn: Cho đến nay đã có nhiều

quan điểm về phân tích diễn ngôn. Halliday (1994) đã có quan điểm khái

quát hơn về phân tích diễn ngôn. Ông cho rằng: “Phân tích diễn ngôn phải

được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ. Đồng thời,

lý do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng tỏ ngôn bản –

điều mà người ta nói và viết, nghe và đọc. Cả hệ thống và ngôn bản đều

phải nằm trong tiêu điểm của sự chú ý. Nếu không thì sẽ không có cách nào

để so sánh ngôn bản này với ngôn bản kia, hay với cái mà chính nó có thể

đã là như vậy nhưng trong thực tế thì nó lại không phải là thế. Và, có thể

6

tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng cũng có các phương tiện liên

kết tương tự trong tiếng Anh. Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy cấp độ

của các chỉ tố liên kết văn bản. Như vậy, đặc trưng về Cách thức trong

VBCNDH tiếng Anh được tiến hành tìm hiểu các loại cấu trúc đề thuyết,

các cách thức tổ chức diễn ngôn cả ở phương tiện quy chiếu cũng như liên

kết logic sẽ được dựa chủ yếu vào khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ

thống của Halliday cũng tham khảo lý thuyết của nhà ngôn ngữ Nguyễn

Văn Hiệp và một số nhà Việt ngữ học khác trong tiếng Việt.

1.6. Lý thuyết về ngữ vực

Halliday & Hassan (1989) mô tả như sau: (i) Trường của ngôn bản là

chỉ ra cái gì đang xảy ra, bản chất của hành động xã hội đang diễn ra (ii)

Không khí của ngôn bản là chỉ ra việc ai đang tham gia vào, bản chất của

những người tham gia, các vai diễn và vị thế của họ; (iii) Cách thức của ngôn

bản là chỉ ra vai trò của ngôn ngữ đang đóng, cái mà những người tham gia

đang chờ đợi ngôn ngữ thực hiện cho họ trong tình huống đó là gì. Như vậy,

trong phạm vi luận án, nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ chuyên ngành

dược học trên các phương diện ngữ vực theo quan điểm ngữ pháp chức năng

hệ thống của Halliday chính là nghiên cứu các đặc điểm về Trường, Không

khí và Cách thức được thực hiện hóa qua các bình diện về kinh nghiệm, liên

nhân và văn bản.

1.7. Lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu

Luận án áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh

Hùng (2008). Bước một, mô tả (luận án mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ

pháp – từ vựng, văn bản sử dụng chủ yếu khung ngữ pháp chức năng hệ

thống của Halliday và tham khảo một số nhà nghiên cứu khác. Bước hai,

xác định những thông số để so sánh đối chiếu (dựa vào những đặc điểm

ngôn ngữ qua mô tả chúng tôi sẽ chọn các đặc điểm ngôn ngữ điển hình của

văn bản chuyên ngành dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt để so sánh

đối chiếu). Bước ba, đối chiếu.

1.8. Tiểu kết

Chương này luận án đã điểm lại tình hình nghiên cứu tiếng Anh

chuyên ngành nói chung cũng như ngôn ngữ chuyên ngành dược trong

tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và Việt Nam. Hơn nữa, luận án đã trình

bày một số đặc điểm quan trọng nhất của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ

thống về phương diện ngữ vực và lí thuyết ngôn ngữ học so sánh đối chiếu.

Như vậy, những quan điểm của Halliday về lý thuyết ngữ vực và các siêu chức

năng của ngôn ngữ sẽ là công cụ để luận án tiến hành phân tích VBCNDH

tiếng Anh và tiếng Việt trên các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức.

9

phương pháp ghép; (vi) phương thức viết tắt. Thứ tư, thuật ngữ dược học

tiếng Anh đều là các từ loại mở, bao gồm danh từ, tính từ, động từ, và có thể

có cả trạng từ (dẫn theo Vương Thị Thu Minh, 2005).

2.1.4. Kết quả phân tích cấu trúc/dạng

Thứ nhất, dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh

(chiếm 31%), đặc biệt là ở phần thân bài. Kết quả này cũng minh chứng cho

quan điểm khi phân tích ngữ vực của tiếng Anh khoa học của Ewer &

Latorre’s đã được Tom Hutchinson & Alan Waters chỉ ra “There was little

that was distinctive in the sentence grammar of Science English beyond a

tendency to favour particular forms such as the psent simple tense, the

passive voice, and nominal compounds” (1987). Thứ hai, dạng bị động

trong VBCNDH tiếng Anh thường có dạng: Chủ ngữ + be + Quá trình ở

mẫu phân từ quá khứ + by. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số cú dạng bị động bị

lược bỏ quá trình be. Thứ ba, một số phụ ngữ chỉ sự đánh giá hay tần suất

được đứng trước các quá trình trong nhiều cú dạng bị động.

2.2. Đặc điểm về Không khí trong văn bản chuyên ngành dược

học tiếng Anh

2.2.1. Kết quả phân tích Thức

Kiểu thức được sử dụng duy nhất trong VBCNDH tiếng Anh đó là

thức tuyên bố. Trong đó, thức tuyên bố khẳng định chiếm tỷ lệ đa số. Bên

cạnh đó, một số thức tuyên bố phủ định cũng được sử dụng để khẳng định

những kết quả của người viết diễn ngôn đã đưa ra. Kết quả này hoàn toàn

phù hợp với nghiên cứu của Derewianka (2011).

2.2.2. Kết quả phân tích tình thái

Thứ nhất, việc sử dụng các động từ tình thái đặc biệt như may, might,

could với tần số cao để chỉ mức độ khả năng chắc chắn của một tuyên bố trong

VBCNDH tiếng Anh. Kết quả này đã chứng tỏ đây là đặc điểm yêu cầu trong

một văn bản khoa học (Tony Dudley-Evan, 1998). Ngoài ra, tần số sử dụng

động từ tình thái cao vượt trội trong VBCNDH tiếng Anh cũng cho thấy “Dạng

ngôn ngữ chung được tìm thấy trong văn bản khoa học đó là các động từ đặc

biệt, ví dụ như động từ tình thái” (Hutchíon & Waters, 1984). Thứ hai, Phụ

ngữ tình thái xuất hiện không đáng kể trong VBCNDH tiéng Anh. Như vậy,

với cách kiến tạo của các động từ tình thái và Phụ ngữ tình thái chỉ ra tình

thái trong VBCNDH tiếng Anh phù hợp với khung cảnh của khoa học hiện

đại, đó là một khung cảnh trong đó phần nhiều kiến thức được khám phá chỉ

mang “tính sác xuất” (Probability) hay “tính không chắc chắn” (uncertainty)

(Halliday, 1993) và Moss (2000).

11

khoa học khác. Đây là một trong những phương tiện quan trọng nhất

mang lại cho VBCNDH tiếng Anh khác với các văn bản khoa học khác.

Ngoài ra, luận án chỉ ra số lượng vượt trội của các Chủ ngữ không phải

là người mà là các sự vật về một loại dược liệu, dược chất, hóa chất,

thuốc, hay hiện tượng của một bệnh nào đó. Đồng thời, luận án cũng cho

thấy dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh; (ii) Đặc

điểm về Không khí: với sự xuất hiện đại đa số các cú tuyên bố khẳng

định và số lượng đáng kể của các yếu tố tình thái chứng minh rằng trong

VBCNDH tiếng Anh, những luận điểm khoa học được khẳng định một

cách khách quan với cách diễn tả thông qua kiểu tình thái hóa với tư cách

là đặc điểm của cú trong hai ý nghĩa “khả năng” và “sự thường lệ” (Tony

Dudley-Evans, 1998). (iii) Đặc điểm về Cách thức: sự kết hợp của kiểu

Đề hóa cùng với quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định và liên kết logic cao

đã mang lại cho VBCNDH tiếng Anh tính liên kết và minh xác cao.

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH

DƯỢC HỌC TIẾNG VIỆT

3.2. Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học

tiếng Việt

3.2.1. Kết quả phân tích các kiểu quá trình

Thứ nhất, quá trình vật chất và quá trình quan hệ chiếm ưu thế tuyệt

đối (chiếm 40% cú quá trình vật chất). Thứ hai, quá trình phát ngôn được sử

dụng như là quá trình giải thích ‘hành động hữu ngôn’ hay hành động phát

ngôn. Thứ ba, quá trình hiện hữu chỉ xuất hiện 3,3% nhưng VBCNDH tiếng

Việt đã thể hiện hay thừa nhận một thực thể nào đó hiện hữu. Thứ tư,

quá trình tinh thần tri giác trong VBCNDH tiếng Việt có thể được biểu hiện

quá trình chỉ cảm giác như nhận thấy, quan sát thấy. Thứ năm, VBCNDH

tiếng Việt thể hiện các ngữ vực khoa học, vì vậy chúng chỉ có thể tồn tại

hay hoạt động, chúng không thể ứng xử như các thực thể có tư duy (Hoàng

Văn Vân, 2021).

3.2.2. Kết quả phân tích Tham thể/ Chủ ngữ

Thứ nhất, các cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn phân bố không

đồng đều trong VBCNDH tiếng Việt. Thứ hai, đối với các cú không có

Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn được tái hiện lại đa phần các sự vật, hiện

tượng hình thành nên một phần của văn bản. Tuy nhiên, các cú không có

Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn ở phần kết luận khi được tái hiện lại thì đại đa

số là Tham thể/Chủ ngữ chỉ người hoặc sự vật.

13

3.2.3. Kết quả phân tích thuật ngữ khoa học

Thứ nhất, thuật ngữ khoa học xuất hiện trong tất cả các cú. Chính đặc

điểm này đã minh họa cho nhận định của Halliday về đặc điểm cơ bản của

văn bản khoa học “Các khái niệm đan xen nhau, tính kỹ thuật, và mật độ từ

vựng cao” (Halliday, 1993). Thứ hai, các thuật ngữ xuất hiện trong Chủ

ngữ tập trung hầu hết trong quá trình vật chất và quá trình quan hệ (ví dụ:

Viêm khớp là chứng bệnh thường gặp với biểu hiện viêm sưng và đau

khớp). Thứ ba, thuật ngữ dược học tiếng Việt được vay mượn theo nguyên

dạng viết tắt hoặc dựa trên cơ sở các yếu tố thuần Việt, Hán – Việt, và Ấn

Âu. Thứ tư, thuật ngữ dược học tiếng Việt có thể được hình thành từ

phương thức dịch nghĩa như: dược trị liệu (pharmacotherapy), dược động học

(pharmacodynamics) v.v. Thứ năm, đặc điểm từ loại của thuật ngữ dược học

tiếng Việt bao gồm: (i) danh từ; (ii) tính từ; (iii) động từ; và (iv) ngữ danh từ.

3.2.4. Kết quả phân tích cấu trúc/dạng

Thứ nhất, dạng chủ động chiếm ưu thế, dạng bị động được sử dụng

trong các trường hợp cú có Tham thể chủ ngữ hiển ngôn và cú có Tham thể

chủ ngữ không hiển ngôn. Kết quả này có thể được giải thích như sau: “Nếu

xét về mặt lý thuyết, trong tiếng Việt luôn luôn có đầy đủ ý niệm về tính chủ

động và hậu quả bị động của các hành động tích cực, có ý thức tác động lên

sự vật của con người. Nếu xét về mặt thực hành, trong văn phong khoa học

các cấu trúc bị động được sử dụng khá rộng rãi và thường xuyên” (Nguyễn

Văn Thành, 2003). Thứ hai, ý nghĩa bị động thường được thể hiện bằng tiểu

từ bị động được.

3.3. Đặc điểm về không khí trong văn bản chuyên ngành dược

học tiếng Việt

3.3.1. Kết quả phân tích thức

Thứ nhất, cú tuyên bố chiếm vị trí độc tôn trong VBCNDH tiếng Việt,

trong đó cú tuyên bố khẳng định chiếm đại đa số. Thứ hai, khi nhận định về

những bằng chứng hay kết quả của những nghiên cứu thì giá trị liên nhân được

thể hiện thông qua các cú tuyên bố để chỉ ra những nhận định chủ quan của tác

giả thông qua những bằng chứng, kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, các cú tuyên

bố còn chỉ rõ tính mục đích của tác giả trong VBCNDH tiếng Việt.

3.3.2. Kết quả phân tích tình thái

Thứ nhất, chức năng liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt được hiện

thực hóa bằng tình thái, trong đó phương tiện phù hợp để thể hiện là kiểu tình

thái chỉ “khả năng” và nghĩa đặc thù của kiểu tình thái này là có thể, có khả

năng. Thứ hai, về ý nghĩa tình thái chỉ “sự thường lệ”, chỉ có Phụ ngữ tình thái

xuất hiện là thường/thông thường và luôn/luôn luôn. Ngoài ra chỉ xuất hiện duy

nhất 1 lần Phụ ngữ tình thái chỉ sự thường lệ khác.

14

3.4. Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược

học tiếng Việt

3.4.1. Kết quả phân tích Đề ngữ

Thứ nhất, kiểu Đề ngữ không đánh dấu được sử dụng phổ biến hơn

Đề ngữ đánh dấu. Điều này cho thấy, trong VBCNDH tiếng Việt kiểu Đề

ngữ trong cú “cú như là thông điệp” (Halliday, 1998), nó giữ chức năng

tuyền tải thông điệp, đề cập thẳng đối tượng được nói đến người nghe/người

đọc. Thứ hai, các Đề ngữ đánh dấu tuy xuất hiện ít hơn Đề ngữ không đánh

dấu, nhưng VBCNDH tiếng Việt muốn nhằm tới mục đích đảm bảo tính chân

thực, tính chính xác của các hành động, các sự việc diễn ra về không gian,

thời gian, cách thức v.v. Thứ ba, Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Việt

có chức năng liên kết thông điệp, tạo nên sự logic trong văn bản. Thứ tư, Đề

ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt bao gồm các phụ ngữ tình thái với

chức năng liên nhân có giúp người viết/ người nói bộc lộ cách đánh giá tạo

nên sự tương tác với người đọc/ người nghe.

3.4.2. Kết quả phân tích liên kết

Thứ nhất, Quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định được sử dụng không

đáng kể. Kết quả này cũng nhận định quan niệm của Brown (dẫn theo

Nguyễn Quang, 2002) “Việc sử dụng tên riêng chính là xác định cá nhân

như một thể duy nhất”. Thứ hai, VBCNDH tiếng Việt đã sử dụng liên kết

logic cao để diễn đạt trong lập luận của diễn ngôn. Thứ ba, các tổ hợp từ

ngoài ra, hơn nữa làm liên tố và chỉ cái dùng để so sánh (cách nói khác:

hơn thế nữa) trong cú chứa nó, đồng thời nêu lên quan hệ bổ sung với

những điều đã nói đến trước đó trong VBCNDH tiếng Việt.

3.5. Tiểu kết

(i) Đặc điểm về Trường: quá trình quan hệ được khai thác cao nhất

trong VBCNDH tiếng Việt đồng thời độ đậm đặc các thuật ngữ khoa học

cao kết hợp với sự xuất hiện của nhiều thuật ngữ khoa học khác đặc biệt là

thuật ngữ Latinh và từ Hán – Việt. Đây là một trong những phương tiện quan

trọng nhất mang lại cho VBCNDH tiếng Việt khác với các văn bản khoa học

khác. Hơn nữa, luận án cũng chỉ ra số lượng chiếm ưu thế của các Tham

thể/Chủ ngữ hiển ngôn. Thêm vào đó, có sự xuất hiện số lượng đáng kể của

dạng bị động trong VBCNDH tiếng Việt. (ii) Đặc điểm về Không khí: kiểu

thức tuyên bố khẳng định chiếm ưu thế tuyệt đối trong VBCNDH tiếng Việt.

Ngoài ra, các kiểu tình thái hóa cũng được sử dụng để xây dựng ý nghĩa

khách quan trong VBCNDH tiếng Việt. Với việc sử dụng đại đa số các cú

tuyên bố khẳng định và một số lượng các yếu tố tình thái cho thấy cách thức

trong VBCNDH tiếng Việt thể hiện thái độ đối với thông tin nhìn từ chức

năng liên nhân. (iii) Đặc điểm về Cách thức: việc phân tích Đề ngữ đã cho

thấy ba bình diện cấu trúc ngữ nghĩa của cú trong VBCNDH tiếng Việt.

15

tồn tại những đơn vị từ vựng mà nó vừa có mặt trong ngôn ngữ thông thường,

vừa có mặt trong ngôn ngữ chuyên ngành dược học. Điều này được Lê Quang

Thiêm (2006) gọi “đây là quá trình trí tuệ hóa các từ thông thường”. Thứ ba,

số lượng lớn mật độ thuật ngữ khoa học dày đặc trong đó có sự kết hợp của thuật

ngữ dược học với các thuật ngữ khoa học khác như thuật ngữ hóa học, sinh học,

y học v.v. đây cũng là một trong những đặc điểm của ngôn ngữ khoa học mà Lưu

Trọng Tuấn đã chỉ ra “Dùng những thuật ngữ đặc thù cho từng ngành khoa học,

tuy nhiên có khuynh hướng trao đổi thuật ngữ giữa các ngành khoa học khác

nhau” (2008).

4.2.2.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, tỉ lệ cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển

ngôn trong VBCNDH tiếng Anh cao hơn trong tiếng Việt. Thứ hai, tần số

xuất hiện của thuật ngữ khoa học trong các cú có Tham thể làm chủ ngữ

trong VBCNDH tiếng Anh cao hơn không đáng kể so với chúng có trong

tiếng Việt. Nhưng về nguồn gốc thì có sự khác nhau cơ bản về hệ thuật ngữ

dược học trong hai ngôn ngữ. Điều này cho thấy “Thuật ngữ thường gắn liền

với nơi sản sinh ra nó, vì thế một thuật ngữ tiếng Anh đôi khi không tìm thấy

tương đương hoàn toàn trong tiếng Việt, có thể do khái niệm đó chỉ có ở văn

hóa phương Tây chưa chuyển di sang văn hóa Việt, song cũng có thể do cách

nhìn khác nhau từ hai nền văn hóa khác nhau cho cùng một khái niệm”(Lưu

Trọng Tuấn, 2008). Sự khác biệt đáng kể này cũng có thể được giải thích

theo Nguyễn Văn Khang đó là: “chỉ như vậy mới có thể thể hiện chính xác

được nội dung của khái niệm vừa nêu” ; NP2 + V1 (bị động) + NP2 + V2 [bị động]

(Hoàng Văn Vân, 2002). Hoặc, các cú ở dạng bị động trong VBCNDH

tiếng Việt, ngoài cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị (theo cách gọi của ngữ pháp

truyền thống) + Động từ (quá trình) + Chu cảnh (chu cảnh chỉ nguyên

nhân) thì còn có nhiều cú được sử dụng với cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị +

Chủ ngữ + Quá trình (Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên, 2004).

4.3. Đối chiếu đặc điểm về Không khí trong VBCNDH tiếng Anh

với tiếng Việt

4.3.1. Kết quả đối chiếu đặc điểm Thức

Thứ nhất, việc khai thác tỉ lệ cao của cú tuyên bố trong cả hai

ngôn ngữ kết hợp xu hướng tạo Phụ ngữ tình thái nhằm diễn tả quan điểm

của người viết diễn ngôn trong VBCNDH. Thứ hai, dạng thức nghi vấn hoặc

thức mệnh lệnh vắng mặt trong cả hai ngôn ngữ mặc dù cùng chỉ sử dụng

dạng thức tuyên bố và chủ yếu là thức tuyên bố khẳng định để kiến tạo văn

bản. Kết quả này cũng thể hiện rõ nét VBCNDH tiếng Anh cũng như tiếng

Việt mang những đặc trưng chung của văn bản khoa học đã được Lưu Trọng

Tuấn (2008) chỉ ra như sau: “Văn bản khoa học có chức năng thông báo là

chủ yếu, thường trình bày những hiện tượng, quy luật của tự nhiên v.v”.

4.3.2. Kết quả đối chiếu đặc điểm Tình thái

4.3.2.1. Những nét tương đồng: Thứ nhất, Tình thái trong cả hai văn

bản cao hơn so với các văn bản thông thường (Ewer & Hughes-Davies, 1971),

đây cũng chính là đặc điểm khác biệt giữa văn bản chuyên ngành dược học so

với các văn bản khác. Thứ hai, VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt cùng sử dụng

động từ tình thái nhiều hơn tình thái chỉ sự thường lệ, có nghĩa là người nói/

người viết muốn đưa ra nhận xét, quan điểm của mình một cách khách quan hơn

khi họ dùng trạng từ, tính từ hoặc danh từ (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2012)

4.3.2.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh dường

như phù hợp hơn với kiểu kiến thức khám phá chỉ mang “tính xác suất” hay “tính

không chắc chắn” (Halliday, 1993), Moss (2000). Như vậy, mặc dù không có sự

khác biệt đáng kể nhưng với cách kiến tạo văn bản theo kiểu này trong

VBCNDH tiếng Anh đã giúp người đọc có khả năng đàm phán văn bản cao hơn

so với văn bản tiếng Việt. Thứ hai, trong văn phong khoa học tiếng Anh và tiếng

Việt, xu hướng sử dụng động từ tình thái (có thể/ có khả năng/ có năng lực/ được

phép/ biết) được sử dụng nhiều hơn so với các phụ ngữ tình thái. Thứ ba, kiểu

kiến tạo văn bản với các phụ ngữ tình thái chỉ “sự thường lệ” xuất hiện ở cả

hai ngôn ngữ cho thấy “Phụ ngữ tình thái rất quan trọng về mặt chức năng

trong cú” (Halliday, 1993). Tuy nhiên, phụ ngữ tình thái xuất hiện chỉ có

12 lần/2.101 cú (chiếm 0,6%) trong VBCNDH tiếng Anh, trong khi đó

chúng xuất hiện 20 lần/1.161 cú (chiếm 1,7%) trong VBCNDH tiếng Việt.

Kết quả này có thể lý giải sự khác nhau về về việc ưa chuộng cách sử dụng

18

【#2】Phương Pháp Dạy Trẻ Học Bảng Chữ Cái Tiếng Việt Dễ Nhớ Nhất

Bảng chữ cái tiếng Việt có gì đặc biệt?

Bảng chữ cái tiếng Việt là các kí hiệu theo chữ Latinh dùng để ghép chữ có nghĩa. Với mục đích ghi lại ngôn ngữ thành dạng văn bản và theo cách phát âm của người Việt. Ở bảng này các chữ được viết hoa khác hoàn toàn với chữ cái viết thường.

Bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn nhất trong năm 2021

Các em học sinh khi mới bước vào đầu cấp 1, học bảng chữ cái là bước đầu tiên. Hiểu và ghi nhớ các chữ cái là việc cha mẹ, thầy cô cần dạy cho các bé. Đó là bước cơ bản không thể thiếu trong việc học, hiểu ngôn ngữ tiếng Việt của các con.

Theo đúng chuẩn của Bộ giáo dục và đào tạo. Bảng chữ cái tiếng Việt viết hoa bao gồm 29 chữ cái. Trong đó:

+ Có 12 nguyên âm đơn gồm các chữ cái: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, u, ư, y.

+ Có 17 phụ âm đầu đơn gồm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x.

+ Có 3 nguyên âm đôi với nhiều cách viết khác nhau: ia – yê – iê, ua – uô – ưa – ươ.

+ Có 9 phụ âm đầu ghép 2 chữ: ph, th, tr, ch, gi, nh, ng, kh, gh.

+ Có 1 phụ âm đầu ghép 3 chữ: ngh.

Bảng chữ cái tiếng Việt thường được phân loại:

+ Kiểu chữ nhỏ thường được gọi là chữ in thường

+ Kiểu chữ lớn, viết hoa được gọi là chữ in hoa.

Bí quyết giúp bé học bảng chữ cái hiệu quả

Muốn dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng việt lớp 1 nhanh, hiệu quả. Bố mẹ cần trang bị cho mình kiến thức đầy đủ về bảng chữ cái. Ngoài ra phải nắm một số kỹ năng sư phạm, phương pháp dạy học gần gũi với trẻ.

Phải có công cụ hỗ trợ

Nếu bố mẹ dạy chữ cái cho trẻ chỉ nói suông chắc chắn không khả thi. Bé sẽ ngáp ngắn ngáp dài và không tập trung lời bố mẹ nói. Vì thế, muốn trẻ hứng thú khi học bảng chữ cái. Phụ huynh phải cần có công cụ hỗ trợ. Ví dụ như tranh ảnh về chữ cái, thẻ học thông minh hay các clip dạy chữ vui nhộn.

Giới thiệu cho bé các nét cơ bản

Chữ cái được tạo nên từ các nét cơ bản. Vì thế, trẻ cần phải nắm rõ chữ cái tiếng Việt bao gồm những nét nào? Phụ huynh giới thiệu cho bé về các nét, đặc điểm của mỗi nét trong từng chữ cái.

Cách viết bảng chữ cái tiếng Việt

+ Nét thẳng: nét thẳng đứng, thẳng xiên, thẳng ngang

+ Nét cong: cong hở, cong kín, cong trái, cong phải

+ Nét móc: Móc xuôi (móc trái), móc ngược (móc phải), móc hai đầu

+ Nét khuyết: Khuyết xuôi, khuyết ngược

+ Nét hất

Dạy trẻ học bảng chữ cái theo từng nhóm chữ

Muốn dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng Việt lớp 1 nhanh. Phụ huynh cần áp dụng phương pháp học theo nhóm chữ. Những chữ cái có cấu tạo, đặc điểm, cách viết giống nhau sẽ chia vào một nhóm. Cụ thể có 3 nhóm như sau:

Nhóm 1: i, u, ư, t, n, m, v, r (8 chữ cái)

Nhóm 2: l, b, h, k, y, p (6 chữ cái)

Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, x, e, ê, s (15 chữ cái)

Trong quá trình dạy học, bố mẹ nhớ phân tích tỉ mỉ từng nhóm chữ. Ví dụ như nhóm chữ này được tạo nên chủ yếu từ nét nào. Điểm nổi bật của nhóm chữ này là gì…?

Với cách dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng Việt lớp 1 như trên, bé sẽ nhớ bài rất nhanh. Trẻ biết phân biệt từng nét chữ, từng nhóm chữ cơ bản mà ít khi bị nhầm lẫn.

Bạn đang có nhu cầu sở hữu một chiếc bảng từ để dạy bé tại nhà đạt hiệu quả tốt hơn hay những món đồ nội thất trường học. Hãy đến với xưởng nội thất Lương Sơn để chọn lựa cho mình một chiếc bảng từ có kích thước phù hợp nhất. Các chuyên gia nội thất sẽ tư vấn, giúp bạn có quyết định chọn mua đúng đắn nhất.

Nội thất Lương Sơn – Tổng kho nội thất Địa chỉ: Ngõ 1, Phạm Văn Bạch, Cầu Giấy, Hà Nội Showroom: 58C Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Số điện thoại: 0961 399 005 – 0976.19.59.22 – 0961.399.008 Website: chúng tôi

【#3】Bảng Chữ Cái Tiếng Trung Và Cách Đọc Đầy Đủ Nhất

trung tam day kem Trí Tuệ Việt chia sẽ Bảng chữ cái tiếng Trung đầy đủ nhất sẽ được gia sư TTV chia sẽ ở topic này, thật sự tiếng Trung thật sự rất khó đối với mọi người vì thuật ngữ hay bảng chữ cái không gần giống với bản chữ cái như bảng chữ cái tiếng anh và Bảng chữ cái tiếng Việt, để học thành công và giỏi ngôn ngữ này đòi hỏi sự cố gắng ở người học rất cao, người day kem như chúng tôi không thể nào truyền đạt kiến thức cho các bạn giỏi được nếu thực sự bạn không cố gắng trong phần đầu quan trọng đó là bảng chữ cái hay toàn bộ chương trình giảng dạy

Bảng chữ cái tiếng Trung và âm đọc (cách đọc)

Bính âm sử dụng 26 chữ cái latinh. Trong đó chữ cái V chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số và tiếng địa phương.

– Phồn thể (bính âm)

– Trung thể (phanh âm)

Cách phát âm tiếng Trung

Ví dụ

  1. a: cách phát âm: mồm há to, lưỡi xuống thấp. Là nguyên âm dài, không tròn môi. Cách phát âm gần giống “a” trong tiếng Việt.
  2. o: cách phát âm: lưỡi rút về phía sau, gốc lưỡi nâng cao ở vị trí giữa, hai môi tròn và nhô ra một tí. Là nguyên âm dài, tròn môi. Cách phát âm hơi giống “ô” trong tiếng Việt.
  3. …..

Video cách hướng dẫn phát âm tiếng Trung người mới học

Trung Tâm Nhận Dạy Kèm Quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 , Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Bình Tân, Nhà Bè, Hóc Môn.

Quý phụ huynh và các bạn gia sư có nhu cầu liên hệ theo địa chỉ:

TRUNG TÂM GIA SƯ TRÍ TUỆ VIỆT

Văn Phòng 1: 82 Nguyễn Phúc Chu, P. 15, Q. Tân Bình

Văn Phòng 2: 32/2 Đường Số 14, P. Bình Hưng Hòa A, Q. Bình Tân

Văn phòng 3: 141/6 Đường HT06, P. Hiệp Thành, Q. 12

Điện Thoại : 0906 801 079 – 0932 622 625 (Thầy Huy – Cô Oanh)

Email: [email protected]

BÀI VIẾT LIÊN QUAN NHẤT CỦA CHÚNG TÔI

【#4】Học Tiếng Pháp Với Bảng Chữ Cái Qua Các Cách Học

H Tiếng Pháp đang là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 3 tại châu Âu. Hiện nay tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của 29 quốc gia trên thế giới và còn là ngôn ngữ chính của liên hợp quốc. Với tầm quan trọng của tiếng Pháp nên việc biết tiếng Pháp, giao tiếp bằng tiếng Pháp sẽ là cơ hội cho bạn phát về sự nghiệp, cơ hội học hỏi, kết bạn, giao lưu văn hóa… Học tiếng Phát nên bắt đầu từ đâu, đây là câu hỏi được rất nhiều bạn đang có nhu cầu học tiếng Pháp quan tâm. Học bất kỳ ngôn ngữ nào cũng vậy, việc đầu tiên chính là làm quen với bảng chữ cái và với tiếng Pháp cũng không ngoại lệ. Người học tiếng Pháp đầu tiên cần phải làm quen với bảng chữ cái tiếng Pháp sau đó mới có thể nâng cao về nghe tiếng Pháp, phiên âm tiếng Pháp và nói tiếng Pháp. Chính vì vậy mà sau đây trung tâm gia sư Trí Việt xin chia sẻ bài viết học tiếng Pháp bảng chữ cái để các bạn cùng tham khảo.

Bảng chữ cái tiếng Pháp là bảng chữ Latinh tương tự như bảng chữ cái tiếng Anh. Bảng chữ cái tiếng Pháp đầy đủ có 26 chữ cái trong đó có 20 phụ âm và 6 nguyên âm. Tìm hiểu thêm về gia su day tieng phap của gia sư Trí Viết

Học bảng chữ cái tiếng Pháp qua bài hát

Học bảng chữ cái tiếng Pháp qua bài hát là phương pháp học dễ nhớ nhất và dễ học nhất cho bạn. Bài hát La Chanson de I’Alphabet, French Alphabet là những bài hát hướng dẫn về cách phát âm bảng chữ cái tiếng Pháp chuẩn xác. Bạn có thể kết hợp nghe thường xuyên và nhìn các chữ cái có kèm theo phiên âm để có thể vừa nghe vừa nhìn bảng hát theo dễ dàng.

Học bảng chữ cái trên tờ giấy ghi chú

Bạn có thể dùng giấy dán, giấy ghi chú để ghi lại phiên âm của từng chữ cái tiếng Pháp và dán nó ở những vị trí mà bạn thường xuyên đi qua và dễ nhìn thấy nhất. Những lần đến những vị trí đó bạn sẽ đọc và giúp bạn ghi nhớ cách đọc bảng chữ cái tiếng Pháp dễ dàng hơn.

Hãy viết thật nhiều

Bạn nên thường xuyên viết các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Pháp ra giấy. Và mỗi lần viết là một lần đọc nhẩm chữ cái mà bạn đang viết. Và mỗi lần viết ra giấy sẽ giúp bạn nhớ được cách phát âm của từng chữ cái. Sau khi nắm được một sô từ và cách phát âm. Bạn hãy thử thách bản thân mình bằng cách cách đánh vần các chữ tiếng Pháp.

Học cùng với một người bạn

Sẽ thật không tồi khi bạn học nhóm cùng với mọi người để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm học tập, giúp nhau luyện tập và cùng nhau tiến bộ. Học cùng bạn bè sẽ có cảm giác vui vẻ, tinh thần sảng khoái, bổ sung cho nhau những điểm chưa tốt. Học nhóm là cách rất tốt để học ngoại ngữ và hơn nữa đối với người mới bắt đầu học từ bảng chữ cái tiếng Pháp.

【#5】Bài Nghe Tiếng Anh Lớp 11 Unit 7: World Population

Bài nghe tiếng Anh lớp 11 Unit 7: World Population Task 1 Choose the best answer A, B, C, or D for the following statements and questions. (Chọn đáp án A, B, C hoặc D đúng nhất cho các phát biểu và câu hỏi sau.) 1. The expert says that there are………..people in the world today.

A. over 6.7 billion

B. 6.7 billion

C. about 6.7 million

D. 6.6 billion

2. According to the expert, the population of the world increases by……….a year.

A. 66 million

B. about 66 million

C. 76 billion

D. about 76 million

3. According to the expert, the area that has the highest population growth rate is………

A. Africa

B. Asia

C. Latin America

D. the Middle East

4. Scientists say that the main reason for population explosion is……………

A. death rates

B. birth rates

C. an increase in death rates

D. a decrease in death rates

5. Which of the following problems is NOT mentioned by the speaker?

A. literacy

B. lack of hospitals and schools

C. shortage of food

D. poor living conditions

6. Which of the following solutions is NOT mentioned by the speaker?

A. providing safe, inexpensive birth control methods

B. educating people

D. strictly implementing a family planning policy

Task 2 Listen again and answers the following questions. (Nghe lại và trả lời các câu hỏi sau.)

1. According to experts, what will the population of the world be by the year 2021?

2. What did the expert say about the population growth rates in some parts of the world?

3. According to the expert, what is the reason for a fall in the death rates?

4. According to the expert, what problems does population explosion cause to the world, particularly to developing countries?

5. How many solutions did the expen offer and what are they?

Bấm để xem đáp án

Task 1

1 – A 2 – D 3. C 4. D 5. A 6. B

Task 2

1. According to ihe experts, by the year 2021, the population of the world will be over 7 billion.

2. He said that the population growth rates in some parts of the world are not the same. The population grows more quickly in some parts of the world than others.

3. According to the expert, the reason for a fall in the death rates is the improvement of public health services and medical care.

4. The problems population explosion causes to the world, particularly to developing countries are shortage of foods, lack of hospitals and schools, illiteracy, and poor living conditions.

5. The expert offered 4 solutions. They are (a) to educate people and make them aware of the danger of having more children, (b) to provide safe, inexpensive birth-control methods, (c) to stricth implement a family planning policy, and (d) to exercise strict and fair reward and punishment policies.

Bấm để xem bài nghe

Interviewer: Good evening ladies and gentlemen. In our program tonight, we are honoured to have Dr. Brown, a world famous population expert. Dr. Brown, could you tell us something about the world population?

Dr. Brown: Well, there arc over 6.700 million people in the world today, and the total is increasing at the rate of about 76 million a year. Experts say that the population of the world could be over 7 billion by the year 2021.

Interviewer: Do all parts of the world have the same rate of population growth?

Dr. Brown: No, they don’t. The population is growing more quickly in some parts of the world than others. Latin America ranks first. Africa second, and Asia third.

Interviewer: What is the main reason for the population explosion?

Dr. Brown: Well, I think the main reason is a fail in death rates. This is due to the improvement of the living conditions and medieal care.

Interviewer: I believe the explosion of population has caused many problems. Is it right?

Dr. Brown: Yes, it is. It caused a lot of problems such as shortage of food, lack of hospitals and schools, illiteracy, and low living standards.

Interviewer: Can you make some suggestions on how to solve these problems?

Dr. Brown: I think, there are a number of solutions to the problems. The first is to educate people and make them aware of the danger of having more children. The second is to provide safe, inexpensive birth- control methods. The third is to strictly implement a family planning policy. And the fourth is to exercise strict and fair reward and punishment policies.

Interviewer: Thank you very much for being with us tonight, Dr. Brown.

Dr. Brown: You’re welcome.

Bấm để xem bài dịch

Người phỏng vấn: Kính chào quý vị, trong chương trình tối nay, chúng tôi rất vinh dự được giới thiệu tiến sĩ Brown, một chuyên gia về dân số nổi tiếng thế giới. Tiến sĩ Brown, ông có thể cho chúng tôi biết đôi điều về dân số thế giới không?

Tiến sĩ Brown: Vâng, có trên 6.700 triệu người trên thế giới hiện nay, và con số này đang tăng với tốc độ khoảng 76 triệu dân một năm. Các chuyên gia dự đoán rằng vào năm 2021, dân số thế giới có thể lên tới 7 tỷ người.

Người phỏng vấn: Có phải tất cả các khu vực trên thế giới có tốc độ tăng dân số như nhau hay không?

Tiến sĩ Brown: Không, dân số tăng nhanh ở một số nơi trên thế giới so với các khu vực khác. Châu Mỹ Latinh đứng đầu. Châu Phi thứ hai và thứ ba là châu Á.

Người phỏng vấn: Nguyên nhân chính cho sự bùng nổ dân số là gì?

Tiến sĩ Brown: Tôi nghĩ nguyên nhân chính là do tỷ lệ tử vong giảm. Điều này là do sự cải thiện của điều kiện sống và chăm sóc y tế.

Người phỏng vấn: Sự bùng nổ của dân số đã gây ra nhiều vấn đề, đúng không tiến sĩ?

Tiến sĩ Brown: Vâng, đúng vậy. Nó gây ra rất nhiều vấn đề như thiếu lương thực, thiếu các bệnh viện và trường học, nạn mù chữ và mức sống thấp.

Người phỏng vấn: Ông có thể đưa ra một vài đề nghị để giải quyết những vấn đề này không?

Tiến sĩ Brown: Tôi nghĩ có một số giải pháp cho vấn đề này. Trước hết là giáo dục cho người dân và giúp họ nhận thức được tác hại của việc sinh nhiều con. Thứ hai là cung cấp các biện pháp kiểm soát sinh đẻ an toàn, và không tốn kém. Thứ ba là thực hiện đúng chính sách kế hoạch hóa gia đình. Và thứ tư là thực hiện các chính sách thưởng và trừng phạt nghiêm khắc và công bằng.

Người phỏng vấn: Cảm ơn tiến sĩ đã đến tham dự chương trình của chúng tôi tối nay.

Tiến sĩ Brown: Đây là niềm vinh dự của tôi.

Bài nghe tiếng Anh lớp 11 Unit 7: World Population Tiếng anh phổ thông (SGK), Luyện Nghe tiếng anh, Tiếng Anh lớp 11

Đăng bởi Uyên Vũ

Tags: bài nghe tiếng anh, Bài nghe tiếng Anh lớp 11, Bài nghe tiếng Anh lớp 11 unit 7, Dân số thế giới, luyện nghe tiếng anh lớp 11, tiếng Anh lớp 11, Tiếng Anh phổ thông, World Population

【#6】​học Tiếng Hàn Cho Người Việt Gặp Những Khó Khăn Gì?

Những khó khăn khi học tiếng Hàn của người Việt

Sự khác nhau cơ bản khi học tiếng Hàn cho người Việt là về cấu trúc của tiếng Hàn và tiếng Việt trên cả 4 phương diện: Nguyên âm, Phụ âm, Trọng âm và Ngữ điệu nên các bạn sinh viên nói riêng và người học tiếng Hàn tại Việt Nam nói chung thường mắc phải những lỗi cơ bản khi phát âm tiếng Hàn như là nuốt âm, không có trọng âm, nói không ngữ điệu, nhấn nhá âm không đúng.

Chính vì thế mà dẫn đến khả năng nghe tiếng Hàn của họ rất kém và họ rất khó khăn trong việc nghe vì khi học từ họ không chú ý đến cách phát âm và dẫn đến phát âm tiếng Hàn sai. Khi phát âm sai dẫn đến việc nghe của họ cũng không thể nào đúng được ý mà người đối thoại muốn truyền đạt. Khi mà nghe người bản ngữ phát âm tiếng Hàn chuẩn xác, chúng ta sẽ khó để nhận ra từ đó là gì.

Hầu như mọi người đều cảm thấy choáng ngợp khi đối mặt với bảng chữ cái tiếng Hàn. Chữ tiếng Hàn khá tượng hình và khác hoàn toàn với tiếng Việt chúng ta vì bạn đã quen với việc học chữ cái latinh trong tiếng tiếng Anh hoặc tiếng Việt.

Nhiều người đã nghĩ rằng chúng thật rắc rồi như Hán văn. Nhưng đừng lo lắng vì khác với Hán ngữ, tiếng Hàn dễ nhớ ,dễ viết hơn bởi sự đơn giản. Nhiều người cho rằng tiếng Hàn khá dễ liên tưởng vì chúng cũng là chữ tượng hình. Nếu bạn tìm hiểu kĩ về nó bạn sẽ không thấy chúng không hề khó khăn như những gì bạn nghĩ ban đầu.

Khó khăn khi học bảng chữ cái tiếng Hàn

Trong tiếng Hàn có các từ xác định chủ ngữ và có hậu giới từ (đứng sau danh từ và đại từ làm tân ngữ). Loại từ này tiếng Việt của chúng ta không có cho nên, nếu không để ý, lúc đầu ta hay quên đưa chúng vào trong câu nếu theo thói quen nghĩ tiếng Việt trước rồi mới nói tiếng Hàn.

Việc học tiếng Hàn cho người Việt thường gặp phải khó khăn trong vấn đề này. Trong tiếng Việt ta chỉ cần thêm những từ như “đã” để chỉ quá khứ: “đang” để chỉ hành động ở hiện tại và “sẽ” cho hành động sẽ diễn ra ở thời tương lai. Tiếng Hàn, cũng giống như nhiều ngôn ngữ khác, động từ biến đổi theo thì. Ngoài ra, tiếng Hàn có tới 7 quy tắc biến đổi đuôi khác nhau cho một động từ, nghe thật khó khăn đúng không nào?

【#7】Nên Học Ngữ Pháp, Từ Vựng Hay Giao Tiếp Khi Bắt Đầu Học Tiếng Nhật?

Bạn đang muốn học tiếng Nhật nhưng lại băn khoăn không biết học tiếng Nhật nên bắt đầu từ đâu? Trung tâm Gia sư Tài Năng Trẻ xin đưa ra một số gợi ý để bạn có thể hình dung rõ ràng nhất về việc làm quen với ngôn ngữ mới này.

Người Nhật dùng 3 bảng chữ cái chính đó là Hiragana (Bảng chữ mềm), Katakana (Bảng chữ cứng) và Kanji (Phần chữ Hán). Khi bắt đầu, bạn sẽ phải nắm rõ hai bảng chữ cái đầu tiên để có thể tiến tới học ngữ pháp, còn phần chữ Kanji sẽ được học dần xuyên suốt quá trình học tập tiếng Nhật.

Bảng Hiragana gồm 46 chữ cái cơ bản, được viết bằng những nét cong mềm mại. Ngoài ra còn có các dạng biến thể của nó – là bảng chữ phụ bao gồm bảng âm đục, bảng âm ghép, các âm ngắt và trường âm.

Bảng Katakana có số lượng chữ cái tương đương với chữ mềm, nhưng cách viết chủ yếu là những nét thẳng nối với nhau. Đây là bảng chữ cái người Nhật thường dùng để phiên âm các ngôn ngữ khác như Anh ngữ sang tiếng Nhật.

Kanji là chữ tượng hình mượn từ tiếng Trung Quốc và được người Nhật sử dụng một cách chính thức ngang bằng với hai bảng chữ trên. Nếu bạn học tiếng Trung thì lượng chữ Hán phải nắm được cao hơn rất nhiều so với chữ Kanji.

Tuy nhiên người Nhật dùng chữ Hán phồn thể (Chữ Hán có đầy đủ nét từ ngày xưa) chứ không phải chữ giản thể ngày nay (Chữ Hán đã rút gọn) nên người học gặp không ít khó khăn. Số lượng chữ Kanji được dùng chính thức trong soạn thảo văn bản là 2136 chữ, số lượng chữ Kanji Bộ giáo dục Nhật yêu cầu đưa vào giảng dạy tại các trường đại học là 1945 chữ.

Nhìn vào số lượng chữ nhiều như vậy dễ dẫn đến tình trạng nản chí cho người học. Tuy nhiên nếu chọn được trung tâm Nhật ngữ tốt thì bạn sẽ nắm vững được phương pháp học tập hiệu quả.

Ngoài ra còn có bảng chữ cái thứ tư là Romaji (Phiên âm theo hệ thống chữ Latinh) giúp bạn dễ dàng đọc tiếng Nhật hơn. Nhưng các bạn không nên lạm dụng quá bảng chữ cái này mà quên mất cần tập trung vào chữ Hiragana và Katakana.

2. Học song song từ vựng và ngữ pháp

Sau khi học chắc bảng chữ cái (2 bảng chữ cứng và chữ mềm) bạn sẽ tiếp tục với việc học từ vựng. Ban đầu là những từ cơ bản nhất sử dụng trong hội thoại đơn giản hàng ngày như cách xưng hô, ngôi thứ trong tiếng Nhật, cách chào hỏi trong ngày, số đếm từ 1 đến 100…

おはようございます – Chào buổi sáng

Điều lưu ý với các bạn trong quá trình học đó là bạn học song song, kết hợp từ vựng với ngữ pháp. Bạn có thể áp dụng cách học xong từ mới nào, đặt câu với từ đó để nhớ lâu hơn. Ví dụ:

Mỗi một mẫu ngữ pháp bạn càng ứng dụng đặt nhiều câu với các từ mới đã học càng tốt. Ví dụ như bạn đang học bài đầu tiên trong giáo trình Minna no Nihongo, với mẫu ngữ pháp dùng trợ từ [ か] đặt ở cuối câu để biểu thị câu nghi vấn và các từ mới về đại từ nhân xưng trong tiếng Nhật,bạn hãy đặt thật nhiều các câu hỏi như:

Trangさんは なんさい ですか – Trang bao nhiêu tuổi?…

3. Học giao tiếp tiếng Nhật

Kỹ năng hội thoại vô cùng quan trọng đối với người học tiếng Nhật, nếu bạn chỉ chăm chăm học từ mới, nắm rõ ngữ pháp nhưng lại không nghe – nói được cũng bằng thừa.

Việc có mộtgia sư dạy kèm tiếng Nhật tại nhà sẽ giúp bạn khắc phục được nhiều hạn chế mà bạn không mong muốn. Bạn có thể yêu cầu gia sư dạy kiến thức mà bạn đang cần để khắc phục những khó khăn đang gặp phải trong việc học tiếng Nhật. Một gia sư dạy tiếng Nhật tại nhà giỏi kiến thức, có khả năng truyền đạt có thể giúp bạn học tiếng Nhật hiệu quả và nhanh chóng chinh phục được ngôn ngữ này.

Các bạn học viên đang muốn học tiếng Nhật tại nhà hãy đến với chúng tôi Trung tâm Gia sư Tài Năng Trẻ – Địa chỉ chuyên dạy kèm tại nhà uy tín được rất nhiều quý phụ huynh và học viên tin tưởng lựa chọn.

Là một trong những trung tâm được thành lập bởi những thành viên tâm huyết với nền giáo dục tại Việt Nam, Trung tâm gia sư Tài Năng Trẻ sẽ mang đến những chương trình chất lượng và chắt lọc từ kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, linh hoạt thay đổi theo từng khả năng học tập của học viên.

Đội ngũ gia sư tiếng Nhật tại Gia sư Tài Năng Trẻ đều là Giáo viên dạy giỏi tại các trường ĐH ngôn ngữ nổi tiếng như ĐH KHXH&NV, ĐH Ngoại Thương, ĐH Sư Phạm,… hoặc các du học sinh Nhật, những người Nhật bản địa yêu quý Việt Nam. Với tinh thần trẻ đầy nhiệt huyết, Gia sư tiếng Nhật chuyên nghiệp của chúng tôi sẽ dễ dàng truyền đạt được đam mê và cái hồn của ngôn ngữ tới cho học viên, giúp học viên xây dựng hứng thú và tiếp thu bài học dễ dàng hơn.

Mỗi buổi học sẽ kéo dài từ 1 tiếng 30 phút đến 2 tiếng hoặc tùy theo nhu cầu học tập và ôn luyện của học viên và gia đình với mức học phí cực kỳ hợp lý, đảm bảo phù hợp với điều kiện đại bộ phận gia đình.

Trung tâm Gia sư Tài Năng Trẻ là dự án giáo dục hướng đến mô hình học tập tại nhà, chuyên cung ứng gia sư, giáo viên dạy kèm tại nhà chất lượng cao đến các quý phụ huynh có nhu cầu. Với sự hỗ trợ của công nghệ, Daykemtainha.vn là app đăng ký làm gia sư uy tín của Trung tâm Gia sư Tài Năng Trẻ Daykemtainha.vn hiện đang là ứng dụng tìm kiếm gia sư nhanh nhất uy tín tại Việt Nam. Chúng tôi hi vọng sẽ đáp ứng được nhu cầu tìm gia sư dạy tiếng Nhật tại nhà qua ứng dụng chúng tôi .

Để lựa chọn gia sư tại ứng dụng chúng tôi phụ huynh và học viên thực hiện các bước sau:

Bước 2: Nhấp “Daykemtainha.vn” trên thanh tìm kiếm và lựa chọn “cài đặt” để cài đặt ứng dụng. Đợi quá trình cài đặt hoàn tất.

Sau khi cài đặt thành công ứng dụng phụ huynh, học viên khởi động ứng dụng và sử dụng.

Sau khi đăng ký thành công, ứng dụng sẽ hiện thông tin người dùng và có thể cập nhật hình đại diện.

Riêng website của Trung tâm: http://www.daykemtainha.vn/ đã có hơn 3.000 gia sư đăng ký công việc dạy kèm tại nhà cho hơn 700 lớp mới mỗi ngày, đi cùng tỷ lệ nhận lớp thành công lên đến 90% và có hơn 1.200 phụ huynh đã tin tưởng, hài lòng với những tiện ích mà Trung tâm đem lại.

Trung tâm gia sư Tài Năng Trẻ luôn lắng nghe ý kiến và sự phản hồi từ phía phụ huynh và các bạn học viên,trung tâm chúng tôi luôn chắc lọc lại những gia sư chất lượng giảng dạy tốt nhất và được sự hài lòng từ phía các phụ huynh đã cho con em học với gia sư chúng tôi. Mọi chi tiết cần tìm gia sư dạy tiếng Nhật tại nhà xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

Like This Article ? :

【#8】Các Tháng Trong Tiếng Anh: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Các Tháng

Bạn hoàn toàn có thể ghi nhớ nghĩa của từ thông qua sự liên tưởng, sáng tạo các tình huống hài hước để ghi nhớ. Kết hợp chêm các từ tiếng Anh trong đoạn văn tiếng Việt cũng là cách để bạn nâng cao hiệu quả việc ghi nhớ từ vựng.

2. Cách viết ngày tháng năm trong tiếng Anh

Dù cho bạn đã học tiếng Anh bao lâu rồi thì đôi khi bạn vẫn thường mắc phải các lỗi vô cùng ngớ ngẩn khi viết ngày tháng như “in May 4” hay “on April”…

Cách viết các tháng trong tiếng Anh

  • Khi viết các ngày trong tuần chúng ta cần sử dụng giới từ “ON” ở phía trước: On Monday, on Tuesday, on Wednesday, on Thursday, on Friday, on Saturday, on Sunday.
  • Khi viết các ngày cụ thể trong năm, ta sử dụng giới từ “ON” ở trước: On May 5th, 2021

Cách viết các ngày trong tháng:

Ex: Tuesday, May 3rd, 2021

Ex: Tuesday, 3rd May, 2021

Đôi lúc chúng ta có thể bắt gặp người Anh, Mỹ viết ngày tháng như sau:

Wednesday, December 3, 2021

Wednesday, 3 December, 2021

Hướng dẫn cách học tiếng Anh thực dụng, dễ dàng cho người không có năng khiếu và mất gốc. Hơn 205.350 học viên đã áp dụng thành công với lộ trình học thông minh này.

3. Ý nghĩa các tháng tiếng Anh trong năm

Gần như toàn bộ các tháng trong tiếng Anh đều có nguồn gốc từ các chữ cái Latin và được đặt tên dựa theo các vị thần La Mã cổ đại. Vì thế, mỗi tháng đều mang một ý nghĩa riêng. Hiểu được ý nghĩa của các thánh này cũng là một trong những cách để bạn t ăng cường khả năng giao tiếp tiếng Anh , thể hiện sự am hiểu về lĩnh vực này của bạn đó.

Ý nghĩa các tháng tiếng Anh

Tháng 1 tiếng Anh: January

Tháng 2 tiếng Anh: February

February có nguồn gốc từ từ Februa, đây là tên một lễ hội của người La Mã được tổ chức vào đầu năm nhằm thanh tẩy, gột rửa những thứ ô uế trước khi bắt đầu mùa xuân. Ngoài ra cụm từ này còn có ý nghĩa mong muốn con người sống hướng thiện, làm những điều tốt.

Từ March xuất xứ từ chữ La tinh là Mars. Trong thần thoại La Mã cổ đại thì thần Mars là vị thần của chiến tranh. Cho tới trước thời Julius Caesar thì một năm chỉ có 10 tháng và khởi đầu từ tháng 3. Nó được đặt tên theo vị thần này với ngụ ý mỗi năm sẽ là khởi đầu của một cuộc chiến mới.

Tháng tư tiếng Anh: April

Từ April xuất phát từ từ gốc Latinh là Aprilis . Theo quan niệm của người La Mã cổ đại, trong một năm chu kỳ thời tiết thì đây là thời điểm mà cỏ cây hoa lá đâm chồi nảy lộc. Theo tiếng La tinh từ này có nghĩa là nảy mầm nên người ta đã lấy từ đó đặt tên cho tháng 4 . Còn trong tiếng Anh cổ, April đôi khi được gọi là Eastermonab (tháng Phục sinh, thời điểm thường dùng để tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Chúa Jesus theo quan niệm của người Kitô giáo).

Tên gọi của tháng này được đặt theo tên nữ thần Maia của Hy Lạp. Bà là con của Atlas và mẹ của thần bảo hộ Hermes. Maia thường được nhắc tới như nữ thần của Trái đất và đây được xem là lý do chính của việc tên bà được đặt cho tháng 5, một trong những tháng mùa xuân. Còn theo một số thần thoại khác tên gọi tháng 5 còn có ý nghĩa là phồn vinh.

June được lấy theo tên gốc là Juno- là thần đứng đầu của các nữ thần La Mã, vừa là vợ vừa là chị cái của Jupiter. Juno cũng đồng thời là vị thần đại điện của hôn nhân và sinh nở.

July được đặt tên theo Julius Caesar, một vị hoàng đế La Mã cổ đại, ông là người đã lấy tên mình để đặt cho tháng. Sau khi ông qua đời vào năm 44 trước Công nguyên, tháng ông sinh ra được mang tên July. Trước khi đổi tên, tháng này được gọi là (trong tiếng Anh là , có nghĩa “ngũ phân vị”).

Tháng 8 tiếng Anh: August

Cũng tương tự tháng 7, từ August được đặt theo tên của Hoàng đế Augustus Caesar. Danh xưng này có nghĩa “đáng tôn kính”.

Tháng 9 tiếng Anh: September

(có nghĩa “thứ bảy”) trong tiếng Latin là tháng tiếp theo của và . Kể từ tháng 9 trở đi trong lịch đương đại, các tháng sẽ theo thứ tự như sau: tháng 9 (hiện nay) là tháng thứ 7 trong lịch 10 tháng của La Mã cổ đại (lịch này bắt đầu từ tháng 3).

Tháng 10 tiếng Anh: October

Từ Latin có nghĩa là “thứ 8”, tức tháng thứ 8 trong 10 tháng của một năm. Vào khoảng năm 713 trước Công nguyên, người ta đã thêm 2 tháng vào lịch trong năm và bắt đầu từ năm 153 trước Công nguyên, tháng một được chọn là tháng khởi đầu năm mới.

Tháng 11 tiếng Anh: November

Tháng 12 tiếng Anh: December

Tháng cuối cùng trong năm hiện tại là tháng (thứ 10) của người La Mã xưa.

4. Bài tập về các tháng trong tiếng Anh

Bài tập 1: Điền giới từ vào chỗ trống

  1. …………… summer, I love swimming in the pool next to my department
  2. He has got an appointment with a student …………… Monday morning.
  3. We’re going away …………… holiday …………… September 2021.
  4. The weather is very hot here …………… May.
  5. I visit my grandparents …………… Sundays.
  6. I are going to travel to Phu Quoc …………… April 15th.
  7. Would you like to play game with me …………… this weekend?
  8. My son was born …………… October 20th, 1999.

Bài tập 2: Cách đọc cụm từ về ngày – tháng – năm được in đậm

  1. She’s flying back home on Tuesday, February 15th.
  2. My mother’s birthday is on November 2nd.
  3. They’re having a party on 22nd July.
  4. Their Wedding is on August 23th in the biggest restaurant in Ha Noi.
  5. New Year’s Day is on 1st January.

Bài tập 1: Điền giới từ vào chỗ trống

  1. In summer, I love swimming in the pool next to my department
  2. He has got an appointment with a student on Monday morning.
  3. I visit my grandparents on Sundays.
  4. I are going to travel to Phu Quoc on April 15th.
  5. Would you like to play game with me at/on this weekend?

Bài tập 2: Phát âm từ in đậm

    Their Wedding is on August 23th in the biggest restaurant in Ha Noi. (Phát âm ‘on August the twenty third’.)

Comments

【#9】Các Tháng Trong Tiếng Anh Về Cách Đọc, Viết Tắt Và Phát Âm

Đã bao giờ bạn ngồi lật từng tờ lịch và đặt câu hỏi tại sao lại có các tháng trong năm chưa? Với người nước ngoài thì các tháng trong tiếng Anh sẽ đọc như thế nào? Giống như một cỗ máy thời gian đưa chúng ta đi tìm kiếm những tháng ngày tiếp theo của cuộc sống. Tại sao thời gian chỉ có trôi đi mà không bao giờ quay lại? Tháng ngày đó như đưa chúng ta đi theo hành trình quỹ đạo của trái đất cứ lặp đi lặp lại mà chúng ta không hề hay biết.

Với mỗi tháng trong tiếng Việt thì cũng tương có 12 tháng trong năm bằng tiếng Anh. Tuy nhiên chỉ khác nhau về cách đọc mà thôi, vì vậy để đọc được các tháng trong tiếng Anh bạn nên ghi nhớ những điều căn bản nhất sau đây:

Nguồn gốc

Có ai đã từng biết người La Mã cổ đại đều có tên từ các vị thần cho mọi thứ vì thế cũng không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện tên vị thần gác cửa tên là Janus. Vị thần này có hai mặt để cùng lúc canh gác hai mặt của một lối ra vào, chính vì thế mà lễ kỉ niệm của vị thần thần này được diễn ra vào đầu năm khi người ta nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới.

Và từ đó, tên vị thần này đã được gắn với tháng đầu tiên trong năm, tiếng La tinh “tháng Giêng” là Januarius mensis ( tháng của Janus). Sau khi cụm từ này du nhập vào Anh vào khoảng trước nửa thế kỉ 14 đến khoảng năm 1931 thì từ tiếng Anh để chỉ tháng Giêng là Januarie, và tình cờ Janus cũng là nguồn gốc của từ Janitor (người gác cửa) và từ đó tháng Giêng có tên gọi như vậy.

Các tháng trong tiếng Anh

Các bạn chú ý khi đọc các tháng trong tiếng Anh thường đi kèm với giới từ “in” ở phía trước tên tháng nên ta sẽ có: in + Tháng.

Ex: We will have an event in October.

  • Ngày: giới từ on
  • Tháng/năm: giới từ in
  • Ngày + tháng: giới từ on
  • Ngày + tháng + năm: on.

E.g:

  • – I visited my grandmother in my hometown on last Monday.
  • – Lionel Messi was born on June 24th, 1987.
  • – My family is going to travel in London on July, 21st.
  • – I love coming back my university in September because I can meet many new students.

Ý nghĩa các tháng trong tiếng Anh

Tháng 1

January theo tiếng Anh là vậy còn theo tiếng La Tinh thì đọc là Januarius đặt theo tên vị thần của thời gian như đã nói ở trên.Vị thần thời gian là người phản ánh cả quá khứ lẫn tương lai Tháng 1 cũng là tháng đầu tiên của một năm mới dương lịch cho nên được đặt tên như vậy.

Tháng 2

Tháng này chỉ có 28 ngày ít hơn so với các tháng khác bởi lẽ đây là tháng chết chóc.

Tháng 3

Được gọi là March, nguồn gốc được xuất xứ từ chữ La tinh là Maps. Thời La Mã cổ đại thì Maps là vị thần của chiến tranh và được xem là cha của Ro – Myl và Rem. Hai người đó đã xây dựng lên thành phố Rim cổ đại nay được gọi là Roma.

Tháng 4

Theo chu kỳ thời tiết trong một năm thì đây chính là thời kì cây cối đâm chồi nảy lộc,có ý nghĩa là nảy mầm nên người ta đã lấy tháng đó đặt cho tháng 4.

Tháng 5

May – tiếng Anh, còn Maius – tiếng La tinh. Có 2 cách để hiểu về ý nghĩa của tháng 5 này. Theo thần thoại Ý thì được đặt theo tên của thần đất, còn theo thần thoại khác thì có thể gọi là phồn vinh.

Tháng 6

June – tiếng Anh, còn Junius – tiếng La tinh.

Theo thần thoại Hy Lạp thì tháng này được đặt theo tên của nữ thần Hera, còn theo thần thoại La mã cổ đại thì tháng này được đặt theo tên của nữ thần Ju-no-ra lavơ của thần Lu-pi-tơ. Tháng 6 đã được có từ đó.

Tháng 7

Tiếng Anh gọi là July – tiếng La tinh gọi là Julius.

Theo truyền thuyết kể rằng vào năm 46 trước công nguyên Hoàng đế La Mã cổ đại Ju-li-us-le-sar đã có công rất lớn trong công cuộc cải cách dương lịch nên đã lấy tên tháng này đặt theo tên của vị Hoàng đế đó.

Tháng 8

Tháng này được đặt theo tên của một vị Hoàng đế La mã AuGus, ông đã có công sửa chữa sai xót trong việc ban hành lịch chủ tế thời bấy giờ. Và đề kỉ niệm và tưởng nhớ tới ông nên người ta đã cho đặt tên ông vào tháng 8 và thêm 1 ngày trong tháng này bù cho tháng 2. Bây giờ tháng 8 có 31 ngày.

Tháng 9

September

Tháng này được gọi theo nghĩa của tiếng Latinh Septem số 7, thời kì La Mã cổ đại thì đây là tháng thứ 7 đầu tiên của một năm lịch.

Tháng 10

Tháng này đại diện cho sự ấm no – hạnh phúc, những tháng cuối năm được đổi thành tháng đủ trong lịch cũ thì đây là tháng 8.

Tháng 11 và tháng 12

November và December trong tiếng la mã đọc là Novem và December

2 tháng này đại diện cho sự mới mẻ thay đổi giữa cái cũ và bước sang cái mới cũng như những người sinh vào tháng này cũng mới mẻ như tháng đó vậy. 2 tháng này tương ứng với 2 tháng 9 và tháng 10 theo lịch cũ sau tháng 7 đầu tiên.

Các tháng trong tiếng Anh rất dễ học, nhưng mình thỉnh thoảng vẫn quên, các bạn có thể luyện tập bằng cách viết thứ, ngày, tháng, năm trong tập mỗi ngày.

【#10】Học Tiếng Đức Với Các Mùa Trong Năm

Chúng ta được may mắn là tiếng Đức dựa trên tiếng Latinh và các từ tiếng Anh giống nhau, những tháng gần nhau, ngày gần giống nhau và hầu hết mọi thứ đều có nét tương đồng giống nhau. Ví dụ như, trong tiếng Anh thứ 2 là “Monday”, tiếng Đức là “Montag”. Bên cạnh các cách dạy theo kiểu truyền thống thì còn có cách dạy của rất nhiều thầy cô cho ra những bài học ghi nhớ tốt hơn, học được nhiều hơn và thân thiện hơn với tất cả những thứ xung quanh bên ngoài.

Học tiếng Đức về Thứ, ngày, tháng trong năm

Khi học tiếng Đức bạn nên xem qua Ngày trong tuần

Bạn học từ vựng về tuần, tháng, năm trong năm tương tự như học tiếng Anh vậy. Ngày, tháng, năm mà bạn đang học không có gì gọi là khó khăn vì tất cả những từ này mình dùng thường xuyên và có độ tương tác rất cao trong cuộc sống. Hầu hết các ngày ở Đức kết thúc bằng từ (der) Tag, giống như ngày của tiếng Anh kết thúc bằng “ngày”. Tuần lễ của Đức bắt đầu từ Thứ Hai (Montag) thay vì Chủ nhật. Mỗi ngày được thể hiện với chữ viết tắt hai chữ cái phổ biến của nó.

Các ngày trong tuần bằng tiếng Đức

Theo quan niệm và cách học của Đức thì thứ bảy ngày trong tuần là nam tính (der) vì chúng thường kết thúc bằng -tag (der Tag). Hai ngoại lệ, Mittwoch và Sonnabend cũng là nam tính. Lưu ý, có tới hai từ cho thứ bảy. “Samstag” được sử dụng ở hầu hết các nước Đức, Áo và Thụy Sỹ. Sonnabend (“eve chủ nhật”) được sử dụng ở miền đông Đức và gần phía bắc thành phố Münster ở miền bắc nước Đức. Vì vậy, ở Hamburg, Rostock, Leipzig hoặc Berlin, đó là Sonnabend; Tại Cologne, Frankfurt, Munich hoặc Vienna “thứ bảy” là Samstag.

Cả hai từ “thứ bảy” đều được hiểu trên toàn thế giới nói tiếng Đức, nhưng bạn nên cố gắng sử dụng từ phổ biến nhất trong khu vực bạn đang ở hay còn gọi là tiếng địa phương. Lưu ý, hai chữ cái viết tắt cho mỗi ngày (Mo, Di, Mi,…). Những thứ này được sử dụng trên lịch, lịch trình và đồng hồ của Đức/Thụy Sĩ cho biết ngày và ngày.

Cụm giới từ với ngày trong tuần bạn nên lưu ý khi học tiếng Đức

Khi bạn sử dụng các ngày trong tuần bằng tiếng Đức để chỉ ra ngày nào đó ai đó đang làm gì đó, các quy tắc tương tự cũng sẽ áp dụng cho việc sử dụng các từ chỉ thời gian/ tần số hoặc thời gian trong ngày rất giống với tiếng Anh mà bạn đang sử dụng, bạn không cần phải đề cao quá bạn không nhớ từ vựng cũng không sao bạn cần luyện nói nhiều hơn cho tất cả các từ thường xảy ra và mọi thứ sẽ được bạn chinh phục. Để nói “vào thứ hai” hoặc “vào ngày thứ sáu” bạn sử dụng cụm từ giới từ am Montag hoặc am Freitag. (Từ “am” thực sự là một sự co lại của từ “an” và “dem”, dạng thức ngoại lệ của der …).

Tất cả các ngày trong tuần ở Đức là nam tính (der). Để nói “vào thứ hai/thứ ba …”, sử dụng từ “am” cộng với ngày trong tuần bằng tiếng Đức. Ví dụ: “am Montag” hoặc “am Dienstag”. Đi qua tuần bắt đầu từ thứ Hai và kết thúc vào Chủ Nhật và nói bằng tiếng Đức, bạn làm gì vào những ngày này. Thực hiện một câu với hoạt động nhất định và với chữ ‘am’ cộng với Wochentag ở đầu hoặc ở giữa câu.

Tháng 1 (January), tháng 2 (February), tháng 3 (March), tháng 4 (April), tháng 5 (May), tháng 6 (June), tháng 7 (July), tháng 8 (August), tháng 9(September), tháng 10 (October), tháng 11 (November), tháng 12 (December). Có những bài hát mà bạn học là nhớ mãi, mang những khoảng thời gian của tháng trong các năm. Nói lên các mùa như là một người mẹ của chúng ta.

Hãy bắt đầu với cụm từ phổ biến nhất và hãy xem thường xuyên trong tivi, báo đài khi nói về thời tiết. Mặc dù đó là những từ bạn hay dùng nhưng tùy theo từng trường hợp bạn nên thay đổi bối cảnh sao cho phù hợp với những hoàn cảnh đó. Để diễn tả bạn đang bị nóng, lạnh thì mình không thể dùng từ của thời tiết được.

Để hỏi thời tiết như thế nào hôm nay hay ngày mai, bạn nên nói “Wie ist das Wetter (heute)?”. Như trong tiếng Anh, nhiều mô tả về thời tiết đòi hỏi động từ không xác định, nghĩa là động từ chỉ được sử dụng trong dạng “es”. Các cụm từ thời tiết khác giống với các từ tương đương tiếng Anh trong đó chúng sử dụng “Es ist …” (Đó là …) và sau đó là tính từ thích hợp. Các tính từ cũng có thể khá tương tự với phiên bản tiếng Anh.

Danh từ gây khó khăn trong khi học tiếng Đức

Các loại danh từ trong tiếng Đức

Ví dụ: “Der Hagel” + “der Schauer” = “der Hagelschauer” (mưa đá ngắn)

“Der Regen” + “der Schauer” = “der Regenschauer” (mưa mưa)

“Der Schnee” + “der Schauer” = “der Schneeschauer” (tắm tuyết).

Các hợp chất khác cũng tương tự có thể được tạo ra bằng “der Sturm”. Giống như tất cả các danh từ phức hợp, các danh từ như vậy có giới tính của phần tử cuối cùng của danh từ phức hợp, và tạo thành số nhiều giống như phần tử cuối cùng này:

“der Hagel” + “der Sturm” = “der Hagelsturm” (hailstorm)

“das Gewitter” + “der Sturm” = “der Gewittersturm” (thunderstorm)

“der Schnee” + “der Sturm” = “der Schneesturm” (snowstorm)

Tags: giáo trình tự học tiếng đức, học tiếng đức, học tiếng đức tại nhà, tiếng đức giao tiếp, học tiếng đức có khó không, bảng chữ cái tiếng đức, có thể tự học tiếng đức không

2. Nhiệt độ trong tiếng Anh”nhiệt độ” bằng số ít, tiếng Đức chỉ sử dụng từ hầu hết trong số nhiều – “die Temperaturen”. Điều này cũng đúng với các hợp chất khác của danh từ mà chúng ta đã gặp trong chương này: “die Höchsttemperaturen” (nhiệt độ cao nhất) và “die Tiefsttemperaturen” (nhiệt độ thấp nhất).