Lớp Học Tiếng Khơ Mú Ở Bản Thàn

--- Bài mới hơn ---

  • Cô Giáo Đi Gần 2 Tiếng Đến Lễ Khai Giảng Nơi Biên Giới Việt
  • Dấu Tích Tiếng Khách Gia Trong Tiếng Việt
  • Bản Sắc Của Người Khách Gia Ở Trung Quốc (I)
  • Đài Loan Sẽ Mở Thêm Lớp Dạy Tiếng Mân Nam Và Khách Gia Miễn Phí Cho Di Dân Mới
  • Vì Sao Nên Học Tiếng Ba Lan
  • Hơn 3 tháng nay, cứ đến 8 giờ tối, tại Nhà văn hóa bản Thàn, xã Chiềng Pằn (Yên Châu), lại vang lên tiếng đọc bài của lớp học tiếng Khơ Mú do ông Hà Văn Trâm đứng lớp. Lớp học đơn sơ, mộc mạc, nhưng ngập tràn tâm huyết của “thầy giáo” năm nay đã gần 70 tuổi.

    Chúng tôi có mặt tại Nhà văn hóa bản Thàn vào 8 giờ tối, chứng kiến không khí học tập sôi nổi, hào hứng của các em học sinh từ 7-15 tuổi; một số em nữ mặc bộ trang phục truyền thống dân tộc Khơ Mú làm cho lớp học càng thêm ấn tượng. Nhìn các em say sưa đánh vần, phát âm, mới thấy được những nỗ lực trong việc truyền cảm hứng học tiếng Khơ Mú của “thầy giáo” Trâm.

    Tranh thủ trò chuyện lúc nghỉ giải lao, “thầy giáo” Trâm chia sẻ: Huyện Yên Châu chỉ có duy nhất bản Thàn, xã Chiềng Pằn là có người Khơ Mú sinh sống, với 57 hộ, 290 nhân khẩu. Người dân bản Thàn luôn tích cực giữ gìn những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc mình. Do sống gần với các bản của người dân tộc Thái nên người Khơ Mú rất thành thạo ngôn ngữ của dân tộc Thái và sử dụng như tiếng phổ thông để trao đổi công việc, giao tiếp hằng ngày, còn lớp trẻ đi học lại quen sử dụng tiếng phổ thông. Bởi thế, tiếng Khơ Mú đang dần bị mai một (người Khơ Mú không có chữ viết riêng), chỉ những người già, trung niên còn sử dụng. Trăn trở, suy nghĩ làm sao để lưu giữ được tiếng nói riêng của dân tộc mình, tôi xin ý kiến Chi bộ, Ban quản lý bản, các đoàn thể họp bản, kêu gọi mọi người học tiếng Khơ Mú. Mừng nhất là lớp học miễn phí này có rất đông các cháu tham gia học tập.

    Thế là từ cuối tháng 7, cứ từ 20 đến 22 giờ ngày thứ 3,5,7 hằng tuần, lớp học duy trì trên 30 em tham gia học tiếng Khơ Mú. Vào dịp hè, không chỉ có học sinh cấp 1 đến cấp 3 mà còn có cả các em sinh viên của bản đi học đại học, cao đẳng ở Hà Nội về nghỉ hè cũng tham gia học, có thời điểm lớp học lên đến 45 học viên. Vào năm học mới, lớp học được bố trí học thứ 7 và chủ nhật để các em có thời gian ôn tập các môn học tại trường.   

    Những học viên nhỏ tuổi rất chăm chú lắng nghe “thày giáo” giảng bài.

    Em Hà Thị Tiền (7 tuổi) thật thà nói: Ở nhà thỉnh thoảng thấy bố mẹ nói tiếng Khơ Mú, nhưng cháu không hiểu, được học tiếng Khơ Mú, bây giờ cháu đã biết các từ để giao tiếp với bố mẹ rồi, cháu vui lắm!. Còn em Lừ Văn Tuyên (13 tuổi) cho hay: Là người dân tộc Khơ Mú mà không biết nói tiếng của dân tộc mình, em thấy rất xấu hổ lắm. Hơn 3 tháng theo học, được thầy giáo dạy tận tình, giờ em đã có thể đọc và giao tiếp được những từ Khơ Mú đơn giản rồi.

    Dù mới hoạt động nhưng lớp học tiếng Khơ Mú đã mang lại nhiều tín hiệu tích cực, những lớp thanh thiếu niên dân tộc Khơ Mú hiểu và tự hào hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc mình, góp phần chung tay bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống của ông cha để lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Đại Học Korea Hàn Quốc
  • Học Tiếng Hàn Tại Korea Link
  • Chương Trình Học Tiếng Đại Học Korea
  • Tục Trả Nợ Bằng Một Đêm ‘mây Mưa’ Của Người K’ho
  • Dịch Giả Của Sách Lễ Bằng Tiếng K’ho
  • Dạy Con Học Ngoại Ngữ Từ Trong Bụng Me, Tại Sao Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Dạy Con Thông Minh Từ Trong Bụng Mẹ?
  • Thai Giáo Dạy Con Từ Trong Bụng Mẹ
  • Bác Sĩ Tư Vấn Nhi Khoa Chỉ Ra 2 Thời Điểm Quan Trọng Để Giúp Trẻ Học Giỏi Tiếng Anh
  • Phương Pháp Khoa Học Dạy Con Từ Trong Bụng Mẹ
  • Dạy Con Thông Minh Từ Trong Bụng Mẹ Như Người Do Thái
  • Mình đã rất thích thú khi khám phá ra rằng, khoảng từ tuần thứ 30 là con đã bắt đầu nhận biết được thứ tiếng mẹ hay sử dụng và một thứ tiếng khác. Nghĩa là con sẽ biết được đâu là ngôn ngữ của mẹ, đâu không phải ngôn ngữ không phải mẹ hay dùng. Con cũng có thể ghi nhớ được phần nào tiếng Anh.

    Mừng như bắt được vàng, mình bắt đầu xây dựng kế hoạch học tiếng Anh cho con ngay từ trong bụng mẹ luôn.

    Có hai thứ mình nghĩ là mình có thể tác động được, dưới sự hướng dẫn của một trợ lý bí mật sẽ được bật mí sau. Hai thứ đó là khả năng nghe và khả năng tư duy của con.

    Về khả năng nghe, có hai nguồn nghe chủ yếu. Một là các video trên mạng mình mở to lên để cả hai mẹ con cùng nghe, có thể là một đoạn hội thoại ngắn, có thể là một bộ phim nói tiếng Anh hoặc có thể là một bài hát, tùy theo tâm trạng mình.

    Hai là tiếng mẹ nói ngoại ngữ. Mình thì phát âm không chuẩn được như người bản ngữ nhưng cũng biết nó chọ chẹ vài tiếng. Vừa mở các đoạn hội thoại tiếng Anh mình vừa nhắc lại theo họ nói, mẹ học tiếng con học tiếng luôn.

    Về khả năng tư duy, mình sẽ tác động bằng cách mẹ tư duy về tiếng Anh để giúp con có thể có tư duy. Người trợ lý bí mật của mình bật mí rằng, trong quá trình thai giáo bằng tiếng Anh cho con, nếu mẹ cũng học tập và tư duy tiếng Anh sẽ tạo tiền đề rất tốt cho việc học hỏi tiếng Anh của con sau này.

    Nên thấy cái bàn mình sẽ nghĩ trong đầu là table, kết hợp với việc nói chữ table thành tiếng luôn các mom ạ.

    Mới đầu, các bài học tiếng Anh chủ yếu là cứ mở để hai mẹ con nghe. Sau đó học từ mới về các đồ vật xung quanh nhà, vừa học vừa nhắc cho nhớ.

    Thật ra mình cũng chưa biết việc thai giáo “ngoại ngữ” như thế này có thật sự giúp ích nhiều cho con hay không vì bé nhà mình còn chưa ra đời và mình chưa thấy tấm gương nào ngoài đời hết.

    Nhưng cũng như thai giáo âm nhạc giúp con sau này có thể cảm thụ âm nhạc tốt hơn (cái này mình chứng kiến của một mẹ trong group POH rồi) thì việc học tiếng Anh chắc cũng vậy, không có nhiều khác biệt lắm về bản chất.

    Không chỉ cung cấp thông tin mà mình còn được hướng dẫn xây dựng các bài thực hành thai giáo “ngoại ngữ” luôn, đơn giản nhưng siêu hay, trực quan và hiệu quả. Các mẹ tham khảo nha.

    Để thai kỳ là quãng thời gian hạnh phúc của mẹ bầu

    Các nhà khoa học cho thấy, ngoài việc bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để mẹ bầu khỏe mạnh, con yêu phát triển thể chất, cân nặng và não bộ tốt trong thai kỳ, ba mẹ nên thực hành thai giáo cho con để mẹ bầu tận hưởng những trải nghiệm thai kỳ tuyệt vời nhất cũng như tối ưu sự phát triển não bộ và đánh thức các giác quan của con yêu phát triển vượt trội.

    Do đó, POH xây dựng khóa thực hành thai giáo online – Thai giáo 280 ngày yêu thương. Điểm khác biệt trong chương trình của POH là tính cá nhân hóa sâu sắc và chi tiết theo “NGÀY HÔM NAY” của bé. Mẹ sẽ cung cấp ngày dự sinh của con, phần mềm sẽ tính được hôm nay bạn bé đang ở ngày thứ bao nhiêu của thai kỳ.

    Từ đó đưa ra các bài thực hành phù hợp với sự phát triển của bạn bé trong ngày hôm nay, giúp kích thích tốt nhất sự phát triển của con yêu trong thời gian ngắn nhất.

    Thai giáo còn là cơ hội để người chồng thể hiện tình yêu thương với mẹ bầu và con yêu để tình cảm gia đình thêm gắn kết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Cuốn Sách Tranh Kinh Điển Giúp Bé Học Tiếng Anh Từ Sớm Bố Mẹ Không Nên Bỏ Qua
  • Nội Dung Sách Dạy Tiếng Anh Cho Thiếu Nhi Bốn Tuổi Super Simple Songs
  • Sách Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi
  • Giới Thiệu Sách Dạy Tiếng Anh Cho Bé Yêu Bốn Tuổi Super Simple Songs
  • Tổng Quan Về Sách Dạy Tiếng Anh Cho Bé Yêu 4 Tuổi Super Simple Songs
  • Trạng Thái Ngôn Ngữ Các Dân Tộc Thuộc Nhóm Khơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quê Gốc Người Hakka .
  • Tiếng Lóng Trong Tiếng Việt Là Nỗi Sợ
  • Một Số Từ Lóng “Hot” Giới Trẻ Việt Nam Hay Dùng
  • Tiếng Nhật Có Khó Với Người Việt Không ?
  • Khi Học Tiếng Nhật Cơ Bản Thường Gặp Khó Khăn Gì?
  • TẠ VĂN THÔNGa

    TẠ QUANG TÙNGb

    (aViện Tử điển học và Bách khoa thư Việt Nam, bViện Ngôn ngữ học Việt Nam)

    TÓM TẮT

         Mục đích của bài viết này là chỉ ra những điểm chung và riêng trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic) gồm: Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Những điểm chung: Đây là những ngôn ngữ rất gần gũi về cội nguồn, hiện giữ lại được trạng thái “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào… Tuy nhiên, hiện tượng đa ngữ này lại thường là bất bình đẳng. Những điểm riêng biệt: Dân tộc Kháng nói bằng 2 ngôn ngữ. Ngôn ngữ các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng có nguy cơ thất truyền cao; Ơ Đu đang có nguy cơ mất hoàn toàn bản sắc văn hóa truyền thống, trong đó có ngôn ngữ tộc người (chuyển sang nói tiếng Thái hoặc Khơ-mú). Có thể xem đây là một trường hợp nghiên cứu về trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

    Từ khóa: Dân tộc thiểu số; Đa ngữ; Ngôn ngữ bị mai một; Nhóm ngôn ngữ Khơ-mú; Trạng thái ngôn ngữ.

    ABSTRACT

         The purpose of this scientific paper is to point out the similarities and differences in the language status of Kho-mu ethnic group in Vietnam including: Kho-mu, Xinh Mun, Khang, and O chúng tôi similarities: These are languages that are very close in origin, maintaning the “ancient” status of isolating languages. Multilingualism (bilingualism) is common among all Kho-mu ethnic group: Vietnamese – the mother tongue of these ethnic groups – Thai language, Lao language….. However, this phenomenon is often chúng tôi differences: The Khang speaks two languages. The languages of Kho-mu, Xinh Mun and Khang ethnic group are at high risk of being lost; O Du is in danger of completely losing its traditional cultural identity, including ethnic language (change into speaking Thai language or Kho-mu language).This can be considered as a case study of the language status of ethnic minorities in Vietnam.

    Keywords: Ethnic minorities; Multilingual; Endangered language; Kho-mu language group; Language status.

    x

    x x

    1. Đặt vấn đề

         Mục đích của bài viết là chỉ ra những điểm chung và riêng biệt trong trạng thái ngôn ngữ ở các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic – xin gọi tắt: “Các ngôn ngữ nhóm Khơ-mú”và “các dân tộc nhóm Khơ-mú”), thuộc nhánh Môn – Khmer Bắc, chi Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic): Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Từ đó hướng tới giải pháp tích cực hơn đối với ngôn ngữ của các dân tộc này trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.

    2. Tổng quan nghiên cứu

         2.1. Những nghiên cứu dân tộc học

          Trong chuyên khảo của Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy, Thanh Thiên (1972), các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng (cùng Mảng, La Ha) đã được giới thiệu dưới tên gọi chung: “Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam”.

          Các dân tộc Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu được nhắc đến trong sách: Viện Dân tộc học (1978), “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Khu vực phía Bắc)”. Sau đó có những sách khảo cứu về nhiều mặt trong đời sống văn hóa các dân tộc này: Khổng Diễn (Chủ biên, 1999), “Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam”; Trần Bình (1999), “Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam”; Phạm Quang Hoan & Đặng Thị Hoa (2011), “Người Kháng ở Việt Nam”… Dân tộc Ơ Đu ít được nhắc đến, có thể vì số dân quá ít (trên dưới 400, ít nhất trong số các dân tộc ở Việt Nam).

         2.2. Những nghiên cứu ngôn ngữ học

         Theo các tài liệu dân tộc học, nhóm Khơ-mú gồm 13 ngôn ngữ, chủ yếu ở Lào, Thái Lan và Việt Nam.

         Tiếng Khơ-mú đã được biết đến từ thế kỉ 19 (từ vựng Khơ-mú được ghi trong tài liệu của Garnier (1873) thuật lại cuộc thám hiểm Đông Dương của ông). Theo quan điểm của A. G. Haudricourt (1953, 1954), nghiên cứu nhóm Khơ-mú có thể giúp làm rõ lịch sử tiếng Việt. Từ những năm 1970, phạm vi nghiên cứu về các ngôn ngữ này được mở rộng, về tiếng Xinh Mun, tiếng Tày Hạt (Ơ Đu)…

          Gần đây, có các công trình về tiếng Khơ-mú ở Thái (Suwilai Premsrirat, 1993, 2001). Ở Việt Nam, tác giả Tạ Quang Tùng (2013, 2014) có các công trình “Đặc điểm từ âm vị học tiếng Khơ-mú (trên cơ sở phân tích bằng máy tính)” và “Đặc điểm tiếng Khơ-mú ở Tây Bắc Việt Nam”.

         Tiếng Xinh Mun (Kxinh Mul) được các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (AH CCCP) và Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (KOH CPB) tập trung nghiên cứu từ năm 1979 trong một chương trình điền dã. Công trình “Tiếng Kxing Mul” (tư liệu điền dã Xô – Việt năm 1979) bằng tiếng Nga được xuất bản tại Matxcơva năm 1990. Ở Lào, tiếng Xinh Mun cũng được đề cập đến trong các công trình của Macey, Proschan.

         Tiếng Kháng đã được các học giả nước ngoài quan tâm từ những năm 70 của thế kỉ XX, nhằm xác lập cây phả hệ các ngôn ngữ châu Á, với các tác giả David Thomas & Robert K Headley (1970); Gerard Diffloth (1986); Dao Jie (2007); Chazée (1999); Paul Sidwell (2015); Naomitsu Mikami (2003); Jerold A. Edmondson (2010); Nguyễn Hữu Hoành(2007, 2009); Tạ Quang Tùng (2014, 2022, 2022a, 2022b, 2022, 2022a, 2022b)…

         Tiếng Ơ Đu đã được mô tả sơ lược trong cuốn: “Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam” (Thông & Tùng, 2022, tr. 621-623); “Tiếng Tày Hạt (Ơ Đu)” (Vạn, 1983).

    3. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

         Bài viết sử dụng các phương pháp: Miêu tả, từ phân tích các sự kiện cụ thể nhằm tổng hợp thành quy luật chung về trạng thái ngôn ngữ trong hoàn cảnh Việt Nam.Tư liệu dùng trong bài viết là những quan sát về ngôn ngữ và đời sống ngôn ngữ (qua điền dã và qua sách vở trong nước và nước ngoài) về ngôn ngữ các dân tộc nhóm Khơ-mú ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và Nghệ An. 

    4. Kết quả nghiên cứu

         4.1. Đặc điểm các cộng đồng nói các ngôn ngữ Khơ-mú

         Khơ-mú là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Khơ-mú, Khơmu, Khmu, Kammu, Khamou… Dân số gồm 72.929 người (thống kê năm 2009). Cư trú ở các tỉnh: Nghệ An (huyện Tương Dương, Kỳ Sơn); Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Mộc Châu, Mường La); Điện Biên (Thành phố Điện Biên, Tuần Giáo); Yên Bái (Văn Chấn)…

         Ở Việt Nam, người Khơ-mú tự gọi mình là Cơhmụ, Cơmụ hay Cơmmụ, Căm mụ (trong tiếng Khơ-mú nghĩa là “người”). Ngoài tên gọi chính thức (Khơ-mú), trước kia người Khơ-mú còn được gọi gộp chung (với Xinh Mun, La Ha, Kháng….) là Xá: Người Thái gọi họ là Xá Cẩu; người La Ha gọi họ là Khá Klẩu; người Mông gọi họ là Mãng Cẩu. Họ cũng còn được gọi là Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh,Tày Hạy… – những tên hiện nay rất ít dùng hoặc không dùng nữa.

         Người Khơ-mú cư trú tại nhiều nước, chủ yếu ở khu vực châu Á (Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam…), đông nhất là ở Lào (khoảng trên dưới 550 ngàn người). Ở Lào, họ tập trung chủ yếu trong các tỉnh Luang Prabang và Xiêng Khoảng. Ngoài ra, họ còn sống ở các tỉnh như: Luang Nặm Thà, Uđomxay, Bokaep, Xayaburi, Phong Sa Lỳ, Hủa Phan… Ở Lào, họ được xếp vào khối chung là Lào Thênh (người Lào ở trên cao).

         Tại Thái Lan, phần lớn người Khơ-mú sống tập trung gần biên giới Lào – Thái Lan, ở các tỉnh Nan và Chiềng Rai ở miền Bắc. Họ cũng cư trú ở các tỉnh Kancanaburi và Uthaithani. Tại Trung Quốc, người Khơ-mú sống rải rác ở Sip Song Pan Na, Yunnan. Còn tại Hoa Kỳ, người Khơ-mú sinh sống tại bang California.

         Ở Việt Nam, trong vùng người Khơ-mú sinh sống, còn có các dân tộc: Kinh, Thái, Xinh Mun, Mông, Mường, Kháng, La Ha…

         Xinh Mun là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Xinh mun, Xinh Mul, Xinh-mun, Kxinh mul… Dân số: 23. 278 người (2009). Cư trú ở các tỉnh: Sơn La (các huyện Yên Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Mộc Châu), Điện Biên (huyện Điện Biên Đông). Người Xinh Mun đông nhất là ở Yên Châu và Sông Mã (Sơn La).

         Ở Việt Nam, người Xinh Mun tự gọi mình là Kơxinh mul (tiếng Xinh Mun nghĩa là: “người – núi”, được hiểu là “người ở núi”, “người trên núi”). Các tên gọi khác chỉ các nhóm địa phương: Xinh Mun Dạ hoặc Puộc Dạ (gọi những người Xinh Mun cư trú lâu đời ở bản Nà Dạ – xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La); Xinh Mun Nghẹt hoặc Puộc Nghẹt (vốn ở bản Nà Nghẹt thuộc tỉnh Hủa Phăn – Lào). Có tác giả đề nghị thêm một nhóm nữa, gọi là Xinh Mun Đông, chỉ những người Xinh Mun hiện cư trú ở địa phương có tên là Pá Đông – huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

         Hai nhóm địa phương Xinh Mun là Xinh Mun Dạ và Xinh Mun Nghẹt có một số điểm khác biệt về văn hóa và trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Nhóm Xinh Mun Dạ ở vùng thấp, gần đường giao thông hơn, thường xuyên tiếp xúc với người Thái, nên đã tiếp thu nhiều nét văn hóa Thái hơn. Nhóm Xinh Mun Nghẹt chuyển cư từ Lào sang cách đây không lâu. Sang Việt Nam, họ cư trú thành một dải từ xã Chiềng Hắc (huyện Mộc Châu) qua Tú Nang, Long Phiêng, Chiềng Hặc (Yên Châu), Phiêng Pằn (Mai Sơn) của tỉnh Sơn La.

         Ngoài tên gọi chính thức, trước kia người Xinh Mun còn được các dân tộc khác gọi gộp chung (cùng với người Khơ-mú, La Ha, Kháng….) là Xá.

          Ngoài Việt Nam, người Xinh Mun còn cư trú ở Xiêng Khoảng và Hủa Phăn của nước Lào.

         Xưa kia, người Xinh Mun sống quây quần thành từng bản (gọi là kol) riêng biệt, nhưng hiện nay đã sống xen kẽ với người các dân tộc khác, chủ yếu là với người Kinh và người Thái. Hiện nay, ở vùng người Xinh Mun sinh sống, còn có các dân tộc: Kinh, Thái, Khơ-mú, Mông, Mường, Kháng, La Ha…

          Kháng là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: Mơ Kháng, Ma Kháng, Bủ Háng, Xá Kháng… Dân số: 13.840 người (2009). Các địa phương có đông người Kháng cư trú: huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (tỉnh Sơn La); Mường Lay, Mường Tè, Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên); Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

         Ở các địa phương khác nhau người Kháng còn tự gọi và được các dân tộc khác gọi bằng nhiều hình thức khác nhau: Người Kháng ở Chiềng Bôm, Thuận Châu (tỉnh Sơn La) tự gọi là Kháng Huộc (Kháng Trắng); ở vùng Chiềng Xôm, Thuận Châu (tỉnh Sơn La) tự gọi là Ma Kháng Hốc, Ma Kháng Ái (người Kháng ở bản Hốc, bản Ái); ở vùng Mường Giôn, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) tự gọi là Ma Háng Béng, Ma Háng Cọi (người Kháng ở bản Béng, bản Cọi) cũng ở huyện Quỳnh Nhai nhưng vùng Chiềng Ơn lại tự gọi là Bạ Háng; ven sông Đà vùng Thuận Châu, Mường La, ven suối Nậm Mu thuộc Than Uyên (tỉnh Lai Châu) tự gọi là Bủ Háng Cuông; ở bản Bo, Tam Đường (tỉnh Lai Châu) tự gọi là Bộ Háng; ở Quảng Lâm, Mường Toong, Mường Tè (tỉnh Điện Biên) tự gọi là Brển.

         Người Kháng sống xen kẽ với các dân tộc khác: Thái, Khơ-mú, Xinh Mun. Người Kháng chịu ảnh hưởng nhiều từ các dân tộc khác, đặc biệt từ người Thái.

         Ơ Đu là tên chính thức của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong các tài liệu khác nhau và trong giao tiếp xã hội, tên dân tộc này còn được đọc và ghi: I Đuh, Tày Phong, Tày Phọng, Tày Hạt… Dân số: 376 người (2009). Với dân số hiện nay, đây là cộng đồng được coi là “dân tộc thiểu số rất ít người”, thậm chí ít người nhất ở Việt Nam. Cư trú chủ yếu ở tỉnh Nghệ An (huyện Tương Dương), xen kẽ với người Khơ-mú và Thái.

         Người Ơ Đu còn sống tại tỉnh Xiêng Khoảng của Lào. Ở Lào, họ được xếp vào khối cộng đồng được gọi chung là Lào Thênh (nghĩa là “người Lào ở trên cao”). Phần lớn các bản của người Ơ Đu ở các vùng núi rừng xa xôi, khó khăn về kinh tế, văn hóa và giáo dục. Ở nhiều nơi, họ sinh sống bên cạnh người Lào và người Mông.

         Cho đến nay, việc xác định nguồn gốc lịch sử của người Ơ Đu ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sự đoán định. Sau Cách mạng Tháng Tám, người Ơ Đu quy tụ về sinh sống ở bản Xốp Pột, Kim Hòa, xã Kim Đa, một vài hộ sinh sống rải rác ở bản Tạ Xiêng, xã Kim Tiến, bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng (huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Tuy nhiên, ở thời điểm đó hầu hết người Ơ Đu không nhớ được các phong tục tập quán của mình.

         4.2. Đặc điểm trạng thái các ngôn ngữ Khơ-mú

         4.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Khơ-mú

         Tiếng Khơ-mú là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Khơ-mú.

         Theo các tài liệu tham khảo, ngôn ngữ Khơ-mú ở Lào có nhiều tiếng địa phương khác nhau: Khơ-mú Yoan, ở khu vực Luang Nặm Thà; Khơ-mú Luc, ở phía bắc của tỉnh U Đom Xay; Khơ-mú Rook, ở khu vực trung tâm của U Đom Xay; Khơ-mú Khroang, ở phía đông của U Đom Xay; Khơ-mú Koang, ở sát lưu vực các sông Mê Công, Rook và Uu…

         Người Khơ-mú gọi “tiếng, tiếng nói” là khoăm hoặc quăm/ quắm (từ mượn tiếng Thái). Như vậy, “tiếng Khơ-mú” gọi theo ngôn ngữ của dân tộc này là khoăm Kơhmụ (nghĩa là: “tiếng – người” = tiếng Khơ-mú). “Chữ” trong tiếng Khơ-mú gọi là xư hoặc chư. Để chỉ động tác “nói”, trong tiếng Khơ-mú có từ là may hoặc lau; “viết” là tem…

         Tiếng Khơ-mú là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “cổ”, cận âm tiết tính (quasi-syllabic). Từ âm vị học (phonological word) tiếng Khơ-mú có thể có hình thức đơn tiết hoặc song tiết. Trong tiếng Khơ-mú, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết có thể không trùng nhau. Bên cạnh các từ có hình thức đơn tiết, còn thường gặp các từ có hình thức song tiết (gồm một tiền âm tiết và một âm tiết chính – âm tiết mang trọng âm; còn gọi là “một âm tiết rưỡi”).

         Trong từ vựng tiếng Khơ-mú ở Việt Nam, có thể thấy nhiều lớp từ ngữ chồng lên nhau: lớp gốc Nam Á, lớp mượn Tày – Thái và lớp mượn Việt. Đồng thời, trong tiếng Khơ-mú hiện có không ít các kết cấu từ vựng – ngữ pháp mô phỏng theo tiếng Việt. Một số trường hợp trong những kết cấu này có các yếu tố vay mượn tiếng Việt hoặc tiếng Thái, kết hợp với yếu tố Khơ-mú. Trong đó, có những từ Việt, Thái và Khơ-mú cùng tồn tại, tạo nên các cặp đồng nghĩa gốc Thái/ Việt/ Khơ-mú.

         Theo các tài liệu hiện có, tiếng Khơ-mú có thể được phân biệt thành hai phương ngữ chính: “Khơ-mú Đông” và “Khơ-mú Tây”.

         Khơ-mú Đông được phân bố ở các tỉnh Phong Sa Lỳ, Luang Prabang, Hủa Phan và Chiềng Khuang của Lào; các tỉnh Nghệ An, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái, Thanh Hóa của Việt Nam; tỉnh Sip Song Pan Na của Trung Quốc. Khơ-mú Tây được phân bố ở các tỉnh Luang Nặm Thà, U Đom Xay, Bokaep của Lào; ở các tỉnh Nan và Chiềng Rai ở phía Bắc Thái Lan; vài làng ở Sip Song Pan Na của Trung Quốc. Sự khác biệt giữa hai phương ngữ nói trên chủ yếu về mặt từ vựng và ngữ âm. Trong tiếng Khơ-mú Tây có sự phân biệt âm vực (register) trong từ âm vị học, có thể coi là những dấu hiệu manh nha của đối lập thanh điệu: “cao” (high) và “thấp” (low).

          Tiếng Khơ-mú Việt Nam ở các địa phương khác nhau có một số khác biệt, nhưng về căn bản là thống nhất.

         Người Khơ-mú ở Việt Nam chưa có chữ viết. Theo một số tài liệu, ở Lào tiếng Khơ-mú được ghi bằng chữ dạng Sanscrit. Chữ này không phổ biến ở Việt Nam.

          Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Khơ-mú Việt Nam hiện nay là đa ngữ Khơ-mú – Việt – Thái. Ở một số nơi, người Khơ-mú còn biết tiếng Lào, Mông. Tiếng Khơ-mú hiện chủ yếu sử dụng trong gia đình, làng bản…, trong nội bộ của dân tộc Khơ-mú, chỉ được dùng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở dạng khẩu ngữ (không ở dạng ngôn ngữ thành văn).

          Tiếng Khơ-mú hiện được truyền lại cho thế hệ sau chỉ bằng cách truyền miệng. Rất ít nghiên cứu về tiếng Khơ-mú.

         4.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Xinh Mun

         Tiếng Xinh Mun là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Xinh Mun.

         Người Xinh Mun gọi “tiếng, tiếng nói” là khoăm hoặc quăm (từ mượn tiếng Thái). Như vậy, “tiếng Xinh mun” gọi theo ngôn ngữ của dân tộc này là khoăm Kơxinh mul (nghĩa là: “tiếng – người – núi” = tiếng Xinh mun).

         Tiếng Xinh Mun là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “cổ”, cận âm tiết tính (quasi-syllabic). Từ âm vị học (phonological word) tiếng Xinh Mun có thể có hình thức đơn tiết hoặc song tiết. Trong tiếng Xinh Mun, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết có thể không trùng nhau. Bên cạnh các từ có hình thức đơn tiết, còn thường gặp các từ có hình thức song tiết (gồm một tiền âm tiết và một âm tiết chính – âm tiết mang trọng âm; còn gọi là “một âm tiết rưỡi”).

         Tiếng Xinh Mun không có thanh điệu.

         Trong từ vựng tiếng Xinh mun, có thể thấy nhiều lớp từ chồng lên nhau: lớp gốc Nam Á, lớp mượn Tày – Thái và lớp mượn Việt.

          Theo cảm thức bản ngữ, tiếng Xinh Mun ở Việt Nam thuộc các nhóm Xinh Mun Nghẹt và Xinh Mun Dạ có một số khác biệt, đặc biệt về mặt ngữ âm (“giọng nói”). Tiếng Xinh Mun Dạ có rất nhiều từ ngữ vay mượn của tiếng Thái và tiếng Việt. Tiếng Xinh Mun Nghẹt ít người nói, nhưng hiện còn bảo tồn được sắc thái giọng nói Xinh Mun tốt hơn: Phần đầu của các từ Xinh Mun Nghẹt còn giữ được nhiều tiền âm tiết và tổ hợp phụ âm; Tiếng nói nhóm này có nhiều từ ngữ chung với Khơ-mú…

         Người Xinh Mun ở Việt Nam chưa có chữ viết.

         Trạng thái đa ngữ phổ biến ở vùng người Xinh Mun hiện nay là tam ngữ Xinh Mun – Việt – Thái. Ở một số nơi, người Xinh Mun còn biết tiếng Mông, Tày. Tiếng Xinh Mun hiện chủ yếu sử dụng trong gia đình, làng bản…, trong nội bộ của dân tộc Xinh Mun, trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở dạng khẩu ngữ (không ở dạng ngôn ngữ thành văn). Tiếng được dùng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình người Xinh Mun, thậm chí cả trong cúng bái, hát hò, cưới xin, hội hè… Điều này có thể còn có lí do là hiện nay tình trạng hôn nhân hỗn hợp Xinh Mun – Thái tương đối phát triển. Đa số người Xinh Mun sử dụng được tiếng Việt nhưng vẫn ở trình độ thấp, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở nói năng trao đổi hàng ngày (chưa có khả năng tiếp nhận và tạo ra các văn bản viết) và chỉ ở những giao tiếp giản đơn. Rất ít nghiên cứu về tiếng Xinh Mun. Ngôn ngữ này được truyền lại cho thế hệ sau chỉ bằng cách truyền miệng.

         4.2.3. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Kháng

          Tiếng Kháng là ngôn ngữ tộc người của dân tộc Kháng.

         Những kết quả xem xét từ góc độ địa lý ngôn ngữ học, lịch sử tộc người, ý thức tự giác tộc người cũng giúp khẳng định: Dân tộc Kháng nói hai ngôn ngữ (tạm quy ước gọi chung là “tiếng Kháng”): Tiếng Kháng khu vực Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La); tiếng Kháng ở Quảng Lâm (tỉnh Điện Biên).

          Ngôn ngữ Kháng khu vực Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai lại có thể được phân ra 2 tiếng địa phương: Tiếng Kháng vùng Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) và Thuận Châu (tỉnh Sơn La) phân bố ở hữu ngạn sông Đà; tiếng Kháng Mường La, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) ở tả ngạn sông Đà.

          Các ngôn ngữ dân tộc Kháng thuộc loại hình đơn lập, tiểu loại hình “trung”. Nhìn chung, từ âm vị học tiếng Kháng phần lớn có hình thức đơn tiết. Trong tiếng Kháng, ranh giới giữa từ âm vị học và âm tiết trùng nhau. Đây là các ngôn ngữ có thanh điệu: 4 – 6 thanh (tùy các tiếng địa phương khác nhau).

         Người Kháng chưa có chữ viết.

          Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Kháng Việt Nam hiện nay là đa ngữ Kháng – Việt – Thái. Ở vùng người Kháng, tiếng Việt và tiếng Thái trở thành những ngôn ngữ giao tiếp chung của các dân tộc ở phạm vi rộng, đa dạng và mức độ sâu sắc. Do dân tộc Kháng có số dân ít lại sống phân tán, xen kẽ vào những làng bản đông đúc của dân tộc Thái ở vùng đất Tây Bắc Việt Nam nhiều thế kỉ nay, nên dân tộc Kháng đã chịu ảnh hưởng của dân tộc Thái khá đậm nét về tiếng nói và phong tục. Người Kháng nói tiếng Thái khá thông thạo. Trong tiếng Kháng, vốn từ chung với tiếng Thái khá lớn.

          Tiếng mẹ đẻ của người Kháng hầu như chỉ được sử dụng trong gia đình, làng bản, ở các thế hệ lớn tuổi. Các hoàn cảnh khác, phần lớn người Kháng dùng tiếng Việt và tiếng Thái.

         4.2.4. Đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc Ơ Đu

         Tiếng Ơ Đu là ngôn ngữ của dân tộc Ơ Đu. Tuy nhiên, có không ít người Ơ Đu đã nhận ngôn ngữ họ đang nói (chủ yếu là Thái, Khơ-mú) là tiếng mẹ đẻ của họ.

         Cho đến nay, sự hiểu biết về tiếng Ơ Đu rất ít. Tiếng Ơ Đu gần như chưa được nghiên cứu. Người Ơ Đu chưa có chữ viết.

         Những người già Ơ Đu khẳng định, người Ơ Đu đã từng có ngôn ngữ riêng, tiếng của họ nghe như tiếng của người Khơ-mú. Do số dân quá ít, sống xen kẽ với các dân tộc khác, lại hầu như không có quan hệ với đồng tộc ở Lào, nên các thế hệ Ơ Đu còn lại bây giờ đã quên hết tiếng nói, thậm chí không còn nhớ cả phong tục tập quán. Một số rất ít người già còn nhớ được khoảng trên dưới 100 từ ngữ. Trong những năm qua, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã có một số nỗ lực trong việc khôi phục tiếng nói của người Ơ Đu, mở một số lớp dạy học tiếng.

         Theo lời kể, khi đã về già người Ơ Đu mới cố học lấy vài từ tiếng mẹ đẻ bằng cách truyền miệng, với mục đích khi về thế giới bên kia “chào hỏi trò chuyện với ông bà tổ tiên”. Ngôn ngữ này đã “hầu như chỉ còn trong ký ức”.

         Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở vùng người Ơ Đu Việt Nam hiện nay là đa ngữ: Tiếng Việt – Khơ-mú – Thái… Người Ơ Đu sử dụng được tiếng Việt ở trình độ thấp. Hiện nay người láng giềng gần gũi nhất của Ơ Đu là Thái. Tiếng Thái đang có xu hướng thay thế cho tiếng Ơ Đu.

         5.1. Những điểm chung và những điểm riêng biệt trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú ở Việt Nam

         5.1.1. Những điểm chung

         – Các ngôn ngữ nhóm Khơ-mú rất gần gũi nhau về cội nguồn và loại hình. Đây là những ngôn ngữ hiện còn giữ lại được trạng thái rất “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Những “mảnh” này có thể kể nhiều chuyện về quan hệ cội nguồn, loại hình, tiếp xúc của các ngôn ngữ, đặc biệt là quan hệ với tiếng Việt và với các ngôn ngữ khác. Thậm chí cả về lịch sử tộc người của chúng.

         – Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào. Khơ-mú… Tuy nhiên, hiện tượng đa ngữ này lại thường là bất bình đẳng (thế yếu thuộc về các dân tộc ít người hơn), tạo nên những điều kiện bất lợi cho các ngôn ngữ này.

         Hiện nay, ngôn ngữ tộc người của các dân tộc nhóm Khơ-mú đang đứng trước nguy cơ bị giảm thiểu các chức năng xã hội, chỉ được dùng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở gia đình và làng xóm, không có chữ viết, chỉ được sử dụng và lưu truyền ở dạng khẩu ngữ (không có văn bản bằng chữ viết…), rất nghèo nàn về từ vựng và các kết cấu ngữ pháp, kém sức biểu cảm do bị pha trộn và ít được sử dụng.

         Thực tế đang đặt ra yêu cầu rất cấp bách phải bảo tồn và phát triển vốn văn hóa truyền thống, trong đó có ngôn ngữ của dân tộc này.

         5.1.2. Những điểm riêng biệt

         – Ở Việt Nam đã gặp những khó khăn trong xác định thành phần dân tộc, khi một cộng đồng: Sử dụng hai hay hơn hai ngôn ngữ. Có hiện tượng thay thế ngôn ngữ: Dùng ngôn ngữ khác chứ không dùng tiếng mẹ đẻ, thậm chí coi ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ của mình. Dân tộc Kháng nói bằng 2 ngôn ngữ. Dân tộc Ơ Đu chủ yếu nói bằng ngôn ngữ của dân tộc khác.

         – Hiện nay, nguy cơ thất truyền ngôn ngữ xảy ra ở các dân tộc như Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Sự thất truyền này có những biểu hiện không như nhau. Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng là những dân tộc có nguy cơ rất cao; Ơ Đu là một dân tộc đang có nguy cơ mất hoàn toàn bản sắc văn hóa truyền thống.

         5.2. Sự đánh giá và giải pháp từ bức tranh hiện thực

         – Cho đến nay, theo ý kiến của đa số những nhà khoa học, trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, các tiêu chí để một cộng đồng được gọi là “dân tộc” (Ethnic) như sau: Thống nhất chung về văn hoá vật chất và tinh thần; thống nhất chung về ngôn ngữ; thống nhất chung về ý thức tộc người và tên gọi (cùng nhận một tộc danh).

          Các tiêu chí trên hiện nay cần được áp dụng uyển chuyển ở Việt Nam. Đối với các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú ở Việt Nam, trước mắt cần đặt lên trên hết là tiêu chí “thống nhất chung về ý thức tộc người và tên gọi (cùng nhận một tộc danh)”.

         – Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú để làm gì?

         Thực tế thì đối với tất cả các dân tộc, ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hoá, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành, phản ánh và lưu truyền các hình thái văn hóa khác (văn nghệ truyền thống; những kinh nghiệm sống, thế giới quan và nhân sinh quan; tình cảm thái độ…), hệ thống tri thức bản địa quan trọng nhất trong đời sống văn hoá tinh thần của một dân tộc.

         Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng văn hóa trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam, qua việc bảo tồn và phát triển những nét bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc thiểu số, trong đó có tiếng mẹ đẻ của dân tộc này.

         – Phải làm gì để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú?

         Cần xác định phương hướng kế hoạch hóa và có chính sách riêng biệt đối với các ngôn ngữ của các dân tộc có nguy cơ bị thất truyền ngôn ngữ rất cao.Ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhóm Khơ-mú đều thuộc loại này.

         Quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức dạy và học các ngôn ngữ có nguy cơ thất truyền và sử dụng nhiều hơn trong đời sống.

         Giúp cho người bản ngữ hiểu rõ hơn về vai trò di sản – ngôn ngữ đối với bản sắc văn hóa truyền thống của họ và có ý thức bảo tồn, phát triển tiếng mẹ đẻ;

         Đặc biệt, mang đến cho xã hội nói chung và các nhà quản lý nói riêng sự nhận thức sâu sắc hơn về vai trò ngôn ngữ các dân tộc, có hành động thiết thực hơn đối với sự đa dạng văn hóa truyền thống trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.

         Để bảo tồn ngôn ngữ Ơ Đu, cần có nhiều công việc cần làm ngay. Trong đó, quan tâm, tìm hiểu về ngôn ngữ này trong mối quan hệ với tiếng nói Ơ Đu ở Lào… Nên sưu tập lại các từ ngữ và câu, văn bản truyền miệng, ghi lại bằng chữ viết Ơ Đu rồi biên soạn và in thành tài liệu để dạy và học, tạo điều kiện cho ngôn ngữ này “hồi sinh” trong đời sống.

    6. Kết luận

         Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 5 khẳng định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”. Quyết định số 53/CP ngày 22/8/1980 của Chính phủ về chính sách đối với ngôn ngữ và chữ viết dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng khẳng định: “…Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước. Ở vùng dân tộc thiểu số, tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”.

         Có thể xem bài viết này là một nghiên cứu trường hợp (nhóm ngôn ngữ Khơ-mú) về trạng thái ngôn ngữ thường gặp ở các dân tộc thiểu số Việt Nam. Từ đó hướng tới những giải pháp tích cực đối với ngôn ngữ của các dân tộc có cùng trạng thái này, ở Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Bình, T. (1999). Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Chazée, L. (1999). The Peoples of Laos: Rural and Ethnic Diversities. Bangkok: White Lotus.

    – Delcros, H., & Subra, J. (1966). Petit dictionnaire du langage des Khmu’ de la région de Xieng-Khouang. Vientiane: Mission Catholique.

    – Diễn, K. (1999). Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Diffloth, G. (1986). Austro – Asiatic Languages. In Encyclopedia Britanica (16th ed). Macropedia.

    – Edmondson, J. A. (2010). The Khang language of Viet Nam in comparision to Ksing Mun (Xinh Mun). In Kenneth A. McElhanon & Ger Reesink (Eds.), A Mosaic of languages and cultures (pp. 138–154).

    – Francis, G. (1873). Voyage d’exploration en Indo-Chine effectué pendant les années 1866, 1867, et 1868 par une commission française, présidée par Doudart de Lagreé, et publié…sous la direction de… Francis Garnier. Paris: Hachette Book Group.

    – Hoan, P. Q., & Hoa, Đ. T. (2011). Người Kháng ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.

    – Haudricourt, A. G. (1973). Mấy điều nhận xét về lý luận và thực tiễn nhân một chuyến thăm các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Việt Bắc. Tạp Chí Ngôn Ngữ, Số 3.

    – Hoành, N. H. (2007). Vị trí tiếng Kháng trong các ngôn ngữ Mon – Khmer. Tạp Chí Ngôn Ngữ, Số 4.

    – Hoành, N. H. (2009). Ngữ âm tiếng Kháng (những nhận xét ban đầu). In Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Jie, D. (2007). Bumang yu yanjiu (A study of Bumang). Beijing: Minzu University.

    – Rischel, J. (1989). Can the Khơ Mú component in Mlabri (‘Phi Tong Luang’) be identified as Old T’in? Acta Orientalia, 50, 79–115.

    – Lô, L. V., Thấu, N. H., Trí, M. V., Anh, N., & Đường, M. (1969). Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hóa.

    – Mikami, N. (2003). A Khang Phonology and Wordlist. In Hiromi Ueda (Ed.), Reports on Minority Languagesin Mainland Southeast Asia (ed). Osaka Gakuin University.

    – Premsrirat, S. (1993). Thai-Khmu – English Dictionary.

    – Premsrirat, S. (2001). Thesaurus of Khmu Dialects in Southeast Asia. Salaya.

    – Shorto, H. (2006). A Mon-Khmer Comparative Dictionary. Australian: Pacific Linguistics Publishers.

    – Sidwell, P. (2015). The Palaungic Languages: Classification, Reconstruction and Comparative Lexicon. Munich: Lincom Europa.

    – Thomas, D., & Headley, R. K. (1970). More on Mon- Khmer supgroupings. Lingua, 25, 398-418.

    – Tùng, T. Q. (2014). Đặc điểm tiếng Khơ Mú ở Tây Bắc Việt Nam. Ngôn Ngữ và Văn Hoá Vùng Tây Bắc. Sơn La.

    – Tùng, T. Q. (2016). Hệ thống thanh điệu tiếng Kháng (trên cơ sở cứ liệu phân tích bằng máy tính). Tạp Chí Ngôn Ngữ và Đời Sống, Số 2(244).

    – Tùng, T. Q. (2017a). Tiếng Kháng ở Việt Nam trước nguy cơ mai một. Hội Thảo Ngôn Ngữ Học Toàn Quốc. Đại học Quy Nhơn.

    – Tùng, T. Q. (2017b). Từ âm vị học và âm tiết trong các ngôn ngữ Khơ Mú ở Việt Nam. Tạp Chí Ngôn Ngữ và Đời Sống, Số 6.

    – Tùng, T. Q. (2018). Chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam với việc biên soạn từ điển (trường hợp tiếng Kháng). Tạp Chí Từ Điển Học và Bách Khoa Thư, Số 2, tr.49-57.

    – Tùng, T. Q. (2019a). Đặc điểm hệ thống nguyên âm tiếng Kháng – một ngôn ngữ có nguy cơ mai một ở Việt Nam (khái quát từ những kết quả phân tích trên máy tính. Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số Có Nguy Cơ Mai Một ở Việt Nam Hiện Nay – Những Vấn Đề Lí Luận và Thực Tiễn. Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

    – Tùng, T. Q. (2019b). Trạng thái ngôn ngữ Kháng ở Việt Nam. Hội Thảo Ngôn Ngữ Học Toàn Quốc. Bình Dương: Đại học Thủ Dầu Một.

    – Tùng, T. Q., & Thông, T. V. (2017). Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam. Nxb. Đại học Thái Nguyên.Vạn, Đ. N. (1983). Mảng/Ơđu vocabulary(Michel Ferlus, Ed.). Hà Nội.

    – Vạn, Đ. N., Bình, N. T., Huy, N. V., & Thiên, T. (1972). Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Viện Dân tộc học. (1978). Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Khu vực phía Bắc). Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.

    – Viện Hàn lâm Khoa học Nga, & Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. (1990). Tiếng Xinh mun (Kxinh Mul). Matxcơva: Nxb. Khoa học.

    Nguồn: Tạp chí Khoa học, Giáo dục và Công nghệ

    (Journal of Ethnic Minorities Research), Volume 9, Issue 1

    Thánh Địa Việt Nam Học

    (https://thanhdiavietnamhoc.com)

    Download file

    (PDF): Trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thuộc nhóm Khơ-Mú ở Việt Nam

    (Tác giả: Tạ Văn Thông, Tạ Quang Tùng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Ngoại Ngữ Hiếm: Khó Khăn Lớn, Cơ Hội Nhiều
  • Học Tiếng Ý Không Khó
  • Tiếng Ý Có Thể Tự Học Hay Không?
  • Giới Thiệu Và Bảng Chữ Cái
  • Tôi Cô Đơn Giữa Một Biển Người
  • You Raise Me Up Lời Dịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Bài Hát Señorita, Lyrics Senorita, Shawn Mendes, Camila Cabello, ,
  • Lời Bài Hát Shape Of You, Ed Sheeran, Ed Sheeran, Lời Dịch Shape Of Yo
  • Lời Bài Hát Shape Of You
  • Lời Dịch Bài Hát See You Again
  • Loi Dich Bai Hat Yesterday Once More
  • Nhóm nhạc Westlife được đánh giá là nhóm nhạc Pop rất thành công trong lịch sử âm nhạc. Trong suốt quá trình hoạt động, Westlife đã đem đến cho khán giả yêu nhạc rất nhiều ca khúc hay, được thể hiện thành công qua giọng ca của các thành viên.

    Lời dịch bài hát “You Raise me up”

    When I am down and, oh my soul, so weary;

    Khi anh nản lòng, và tâm hồn thật mệt mỏi rã rời

    When troubles come and my heart burdened be;

    Khi những rắc rối ập đến và trái tim anh nặng trĩu

    Then, I am still and wait here in the silence,

    Khi đó, anh bất động và chờ đợi ở đây trong thinh lặng

    Until you come and sit awhile with me.

    Cho tới khi em đến và ngồi một lát với anh

    You raise me up, so I can stand on mountains;

    Em nâng đỡ anh, vì vậy anh có thể đứng trên những ngọn núi

    You raise me up, to walk on stormy seas;

    Em nâng đỡ anh, để anh có thể đi giữa cơn bão biển

    I am strong, when I am on your shoulders;

    Anh mạnh mẽ khi anh được dựa vào đôi bờ vai em

    You raise me up… To more than I can be.

    Em nâng đỡ anh, vượt lên chính bản thân mình.

    When I am down and, oh my soul, so weary;

    Khi anh nản lòng, và tâm hồn thật mệt mỏi rã rời

    When troubles come and my heart burdened be;

    Khi những rắc rối ập đến và trái tim anh nặng trĩu

    Then, I am still and wait here in the silence,

    Khi đó, anh bất động và chờ đợi ở đây trong thinh lặng

    Until you come and sit awhile with me.

    Cho tới khi em đến và ngồi một lát với anh

    You raise me up, so I can stand on mountains;

    Em nâng đỡ anh, vì vậy anh có thể đứng trên những ngọn núi

    You raise me up, to walk on stormy seas;

    Em nâng đỡ anh, để anh có thể đi giữa cơn bão biển

    I am strong, when I am on your shoulders;

    Anh mạnh mẽ khi anh được dựa vào đôi bờ vai em

    You raise me up… To more than I can be.

    Em nâng đỡ anh, vượt lên chính bản thân mình.

    Em nâng đỡ anh, vì vậy anh có thể đứng trên những ngọn núi

    You raise me up, to walk on stormy seas;

    Em nâng đỡ anh, để anh có thể đi giữa cơn bão biển

    I am strong, when I am on your shoulders;

    Anh mạnh mẽ khi anh được dựa vào đôi bờ vai em

    You raise me up… To more than I can be.

    Em nâng đỡ anh, vượt lên chính bản thân mình.

    Vocabulary notes:

    Soul /soʊl/ (n): tâm hồn, tâm trí.

    Weary /ˈwɪəri/ (adj): Mệt lử, kiệt sức.

    Troubles /ˈtrʌb.əl/ (n): điều rắc rối, điều phiền muộn.

    Burden / ˈbɜː.dən/ (n,v): gánh nặng, đè nặng lên

    Silence /ˈsaɪ.ləns/ (n): sự yên lặng.

    Raise /reɪz/ (v): nâng lên, đỡ dậy.

    Raise sb up: nâng đỡ, khích lệ tinh thần ai đó

    Stormy /ˈstɔː.mi/ (adj): thời tiết bão.nản chí.

    To be down: buồn chán, thất vọng,

    To be still: vẫn như vậy, đứng yên.

    You raise me up là một ca khúc rất hay với hàm ý khi cuộc đời chúng ta bế tắc hay vấp ngã, có người ở bên cạnh nâng đỡ tinh thần là giải pháp tốt. Có người để cùng chia sẻ những khó khăn, nương tựa vào nhau những khi mệt mỏi là điều tuyệt vời nhất để vực lại tinh thần .

    Ngoài ý nghĩa trên, ca khúc You raise me up còn được sử dụng như một ca khúc thánh ca trong các nhà thờ, ca đoàn trên thế giới, với ý nghĩa Chúa luôn ở bên nâng đỡ tinh thần cho những con chiên của Người. Một bài nhạc Pop được lựa chọn trở thành một bản thánh ca là điều mà rất hiếm ca khúc làm được, You raise me up là một trong số đó.

    Với lời ca ngắn và ý nghĩa, từ vựng khá thông dụng, đây là một bài hát hay và rất dễ áp dụng để luyện nghe bài hát học tiếng Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Âm Mẹ Yêu Ơi
  • Lời Bài Hát Mẹ Yêu Ơi, Lyrics, Mv Video Remix, Cover, Karaoke
  • Lời Dịch Bài Hát My Heart Will Go On
  • Bài Hát My Heart Will Go On
  • Bài Giảng Âm Nhạc Lớp 3
  • Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát Stay With Me

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát Hiệu Quả Nhất
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Qua Bài Hát Eyes, Nose, Lips Của Taeyeang
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Qua Bài Hát All For You
  • 6 Lợi Ích Khi Trẻ Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát Hay Nhất
  • Học tiếng Hàn qua bài hát​

    1. Lời tiếng Hàn và lời dịch tiếng Việt

    나의 두 눈을 감으면 떠오르는 그 눈동자

    Nếu em nhắm đôi mắt này lại thì đôi đồng tử ấy lại hiện lên

    자꾸 가슴이 시려서 잊혀지길 바랬어

    Trái tim em lạnh giá, ước gì em quên đi được

    꿈이라면 이제 깨어났으면 제발

    Nếu đây là giấc mơ thì hãy để em tỉnh dậy, làm ơn

    정말 네가 나의 운명인 걸까

    Anh thực sự là định mệnh của đời em sao?

    넌 Falling You

    운명처럼 너를 Falling

    Em yêu anh giống như định mệnh này

    또 나를 부르네 Calling

    Anh lại gọi em…

    헤어 나올 수 없어 제발 Hold Me

    Đừng để xuất hiện sự chia ly nữa, làm ơn, giữ em lại

    Anh là sợi dây nhân duyên của em

    Anh đợi em có đúng không?

    가슴이 먼저 왜 내려앉는지

    Sao trái tim em lại rớt xuống thế này

    Stay With Me

    Hãy ở lại bên em

    내 마음속 깊은 곳에 네가 사는지

    Sâu trong trái tim em là nơi anh đang ngự trị

    Stay With Me

    Hãy ở lại bên em

    Sự thực là anh đã ở trong trái tim em

    나의 두 눈을 감으면 떠오르는 그 눈동자

    Trái tim em lạnh giá, ước gì em quên đi được

    꿈이라면 이제 깨어났으면 제발

    Nếu đây là giấc mơ thì hãy để em tỉnh dậy, làm ơn

    정말 네가 나의 운명인 걸까

    Anh thực sự là định mệnh của đời em sao?

    넌 Falling You

    Trái tim anh đang loạn nhịp

    Anh vẫn còn nhớ đến em

    Anh thường xuyên khó thở

    Ở nơi phương xa đó

    Anh vẫn hướng nhìn về phía em

    Tại sao anh lại thế này nhỉ?

    처음 너를 봤을때부터 다르게

    Ngày từ lần đầu tiên nhìn thấy em

    운명의 시간은 또 더디게 갔지

    Thời gian của số phận đã trở lên khác rồi

    Trái tim anh hướng tới em

    내 심장은 다시 또 뛰었고

    Trái tim anh lại đập rồi ràng

    꺼져버리던 희미한 불빛

    Ánh lửa rực rỡ tắt ngấm

    너로 인해 다시 타오르는 눈빛

    Ánh mắt ánh cháy bừng lên vì em

    마치 오래전부터 널 사랑한 것 같아

    Dường như anh đã yêu em từ lâu lắm rồi

    무언가에 이끌리듯 끌려온 것 같아

    Dường như vật nối vật chen xô vào nhau”

    나의 두 눈을 감으면 떠오르는 그 눈동자

    Trái tim em lạnh giá, ước gì em quên đi được

    꿈이라면 이제 깨어났으면 제발

    Nếu đây là giấc mơ thì hãy để em tỉnh dậy, làm ơn

    정말 네가 나의 운명인 걸까

    Anh thực sự là định mệnh của đời em sao?

    넌 Falling You

    Học tiếng Hàn trực tuyến đột phá trong tiếng Hàn

    2. Học tiếng Hàn qua các từ vựng trong bài

    떠오르다: hiện lên

    깨어다: tỉnh dậy

    정말: thật, thật sự

    운명: định mệnh

    인연: nhân duyên

    마음속 깊은 곳: nơi sâu trong trái tim

    뛰다: loạn nhịp

    자꾸만: tiếp tục, thường xuyên

    시간: thời gian

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát Sweet Dream
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Qua Bài Hát Baby Don’t Cry
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Qua Bài Hát Angel Của Exo
  • Học Tiếng Hàn Qua Bài Hát Có Phiên Âm
  • Google Đề Xuất Url Cố Định Cho Các Trang Thứ Sáu Đen
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát ” Why Not Me”

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát Bất Hủ We Are The World
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát We Don’t Talk Anymore
  • Lời Dịch When You Believe, Loi Bai Hat When You Believe Mariah Carey When You Believe Vietsub
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát ‘yesterday Once More’ (The Carpenters)
  • Top 10 Bài Hát Tiếng Anh Lớp 6 Luyện Nghe Không Thể Bỏ Qua
  • Thoát khỏi màn đêm không có hình bóng em trên bức tường Em bảo rằng em yêu anh nhưng anh chỉ là bạn thôi Trái tim anh như vỡ vụn ra thành từng mảnh Vì anh biết rằng anh sẽ chẳng bao giờ giải phóng được con tim Điều đó khiến anh như mắc kẹt giữa tình yêu thực sự và nỗi cô đơn Khép đôi mi lại, anh mơ về một câu chuyện tình yêu lãng mạn Để khi tỉnh dậy, giấc mộng vỡ vụn ngay trước mắt anh Tại sao ôi nói anh nghe tại sao không phải anh Tại sao ôi tại sao chúng ta không thuộc về nhau Em biết không, anh có thể làm mọi thứ em cần Tại sao ôi tại sao ôi tại sao Giá như em biết anh yêu em nhiều đến nhường nào thì tại sao lại không phải anh. Những tháng ngày sau này anh vẫn sẽ ở cạnh em Nâng bước em gục ngã, sẽ không để em thất vọng Em nói rằng chúng ta là mãi mãi và tình yêu sẽ không bao giờ kết thúc Anh đã cố gắng thể hiện nhưng nó đang khiến anh tuyệt vọng khi biết rằng Em sẽ không bao giờ hiểu được lòng anh Điều đó khiến anh như mắc kẹt giữa tình yêu thực sự và nỗi cô đơn Khép đôi mi lại, anh mơ về một câu chuyện tình yêu lãng mạn Để khi tỉnh dậy, giấc mộng vỡ vụn ngay trước mắt anh. Nói cho anh đi em tại sao tại sao không phải anh Tại sao tại sao chúng ta không thuộc về nhau Em có biết anh có thể làm tất cả những gì em cần. tại sao ôi tại sao ôi tại sao Giá như em em biết anh yêu em nhiều như thế nào vậy tại sao vẫn không phải anh Em sẽ không thể biết được Chúng ta có thể tiến xa bao lâu Đôi ta có thể tiến xa bao lâu (Tại sao ôi nói anh nghe tại sao không phải anh Tại sao ôi tại sao chúng ta không thuộc về nhau Em biết không, anh có thể làm mọi thứ em cần Tại sao ôi tại sao ôi tại sao) x2. Giá như em biết anh yêu em nhiều đến nhường nào thì tại sao lại không phải anh. ( tại sao không phải anh, vẫn không là anh )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Ca Khúc Bất Hủ Woman In Love
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát “woman In Love” (Barbra Streisand)
  • Học Tiếng Anh Qua Ca Khúc Woman In Love
  • Dạy Trẻ Tiếng Anh Thông Qua Bài Hát
  • Bảy Bước Học Từ Vựng Tiếng Anh Qua Bài Hát
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát It Ain’t Me

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Các Bài Hát: Nên Hay Không?
  • Mẹo Giúp Bạn ”phiêu” Tiếng Anh Cùng Bài Hát
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát Legend Never Die
  • Học Tiếng Anh Ở Langmaster Có Tốt Không?
  • Khóa Học Luyện Phát Âm Tiếng Anh Chuẩn Từ Cơ Bản
  • Học tiếng anh qua bài hát It ain’t me – Kygo ft. Selena Gomez

    Không, em không muốn biết anh đang ở đâu hay đi đâu

    Nhưng em biết em sẽ không về nhà

    Và anh sẽ ở nơi của riêng anh

    Đó không phải là em

    Đó không phải là em

    Đó không phải là em

    Ai bước đi cùng anh qua những mảng góc tối của buổi sáng?

    Ai thức cùng anh khi mặt mặt trời không để anh ngủ?

    Ai đang đánh thức đưa anh về nhà khi anh uống say mèm và cô đơn?

    Ai bước đi cùng anh qua những góc tối của buổi sáng?

    Đó không phải là em

    Đó không phải là em

    Đó không phải là em

    Vocabulary

    Học tiếng anh qua bài hát It ain’t me – Kygo ft. Selena Gomez, bạn sẽ cùng sống trong những giây phút sôi động của tình yêu. Đó sẽ là bài hát có ý nghĩa để bạn nghe và học tiếng anh qua bài hát!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát Cry On My Shoulder (Super Star)
  • Học Bài Hát Tiếng Anh Cho Trẻ Mầm Non Có Ích Không?
  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát Cho Trẻ Mầm Non
  • Lời Bài Hát Baby Shark
  • Mách Nhỏ Bạn Cách Dạy Bé Học Tiếng Anh Qua Nơi Bắt Nguồn Bài Hát Baby Shark
  • Bài Hát Tiếng Anh Hay: Just Give Me A Reason

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Bài Hát Home – Thái Từ Khôn
  • Listening : Bài Hát I Have A Dream Của Abba – Speak English
  • Học Tiếng Anh Qua Lời Bài Hát I Have A Dream Của Nhóm Nhạc Westlife
  • Quà Tặng Âm Nhạc Số 22 (I Love You 3000)
  • Lời Dịch Bài Hát I Need Your Love
  • Lời dịch:

    Right from the start

    You were a thief

    You stole my heart

    Ngay từ lúc đầu

    Anh đã là tên trộm

    Anh đánh cắp trái tim em

    And I your willing victim

    I let you see the parts of me

    That weren’t all that ptty

    Và chính em là nạ

    n nhân mà anh khao khát

    Em đ

    ã không che giấu bất cứ gì về mình

    Dù chúng chẳng đẹp đẽ gì

    And with every touch you fixed them

    Now you’ve been talking in your sleep oh oh

    Với từng cái chạm của anh, chúng ổ

    n hơn r

    ồi

    Anh đang nói gì đó trong giấc ngủ Oh oh

    Things you never say to me oh oh

    Tell me that you’ve had enough

    Of our love, our love

    Những điều mà anh giấu kín 0h oh

    Rằng anh đã chịu quá đủ

    Với cuộc tình của đôi ta, với cuộc tình này

    Just give me a reason

    Just a little bit’s enough

    Just a second we’re not broken just bent

    Hãy cho em một lý do

    Chỉ mộ

    t chút thôi cũng đư

    c

    Đây không ph

    ải sự kết thúc mà chỉ

    là giao đ

    ộng

    And we can learn to love again

    It’s in the stars

    It’s been written in the scars on our hearts

    Rồi hai ta lại sẽ có thể yêu thêm lần nữa

    Điều đó hiện rõ trên những vì sao

    Nó hiện trên vế

    t

    thương l

    òng của cuộc tình dang dỡ

    We’re not broken just bent

    And we can learn to love again

    Đây không phải sự kết thúc mà chỉ

    là giao đ

    ộng

    Và hai ta sẽ có thể yêu thêm lần nữa

    I’m sorry I don’t understand

    Where all of this is coming from

    I thought that we were fine

    Anh có lỗi vì đã không hiể

    u đư

    ợc

    Những uẩn khúc này từ

    đâu mà ra

    Anh đ

    ã nghĩ chúng ta vẫn đang mặn nồng

    (Oh we had everything)

    Your head is running wild again

    My dear we still have everythin’

    (Tư

    ởng chừng

    ta có tất cả)

    Em lại suy nghĩ vẩ

    n

    vơ r

    ồi

    Em này, chúng ta vẫn là của nhau mà

    And it’s all in your mind

    (Yeah but this is happenin’)

    You’ve been havin’ real bad dreams oh oh

    Và kia chỉ là em suy diễn mà thôi

    (Vậ

    y mà nó đang di

    ễn ra đấy)

    Đó chỉ

    là cơn ác m

    ộng của em mà thôi oh oh

    You used to lie so close to me oh oh

    There’s nothing more than empty sheets

    Em vẫn luôn nằm cạnh anh kia mà oh oh

    Uẩn khúc này không gì khác ngoài tờ giấy trắng

    Between our love, our love

    Oh our love, our love

    Giữa cuộc tình chúng ta, giữa cuộc tình này

    Oh Cuộc tình của đôi ta

    Oh tear ducts and rust

    I’ll fix it for us

    We’re collecting dust

    Dòng n

    ư

    ớc mắt cạn khô

    Anh sẽ cứu lấy cuộc tình này

    Chúng ta chẳng cần gì trên cõi đời này

    But our love’s enough

    You’re holding it in

    You’re pouring a drink

    Chỉ cần cuộc tình này là đủ

    Em đang cố chôn nó vào tận đáy lòng

    Còn anh thì đang lẩn tránh

    No nothing is as bad as it seems

    We’ll come clean

    Mọi chuyện đều không tệ

    như ta nghĩ đâu

    Chúng ta s

    ẽ thành thậ

    t đêm nay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 15 Bài Hát Tiếng Anh Giáng Sinh Hay Nhất
  • 10 Popular Christmas Songs For Kids To Learn English
  • 🥇 Học Tiếng Anh Qua Bài Hát: Top 100 Hay Nhất
  • Lời Dịch Bài Hát Flashlight
  • Listening : Bài Hát Let It Go Trong Phim Frozen – Speak English
  • Cùng Học Tiếng Anh Qua Phim Me Before You

    --- Bài mới hơn ---

  • Luyện Nghe Qua Bài Hát :photograph
  • ‘me Before You’: Nỗi Buồn Thương Của Một Tình Yêu Đẹp
  • Cách Luyện Tiếng Anh Qua Xem Phim Trên Netflix
  • Nâng Trình Tiếng Anh Qua Top 5 Bộ Phim Trên Netflix
  • Học Tiếng Anh Qua Nhạc Phim Big Hero 6
  • Me Before You (tên tạm dịch tiếng Việt là Trước Ngày Em Đến) là một bộ phim tình cảm, lãng mạn. Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Anh Jojo Moyes. Quyển tiểu thuyết nổi tiếng Me Before You (xuất bản năm 2012) đã gây được tiếng vang lớn và được giới phê bình đánh giá rất cao.

    Bộ phim là một câu chuyện tình cảm động giữa 2 nhân vật chính là Will Traynor và Louisa Clark. Anh chàng Will Traynor gặp một biến cố kinh hoàng và phải sống đời tật nguyền mãi mãi. Từ một người đẹp trai, giàu có và tài năng, đam mê khám phá anh trở nên tuyệt vọng và buồn bã. Anh dành phần lớn thời gian của mình ở nhà. Cô nàng Louisa Clark thì đang sống một cuộc đời ngày này qua ngày khác chẳng có gì khác biệt. Dù trước đó cô từng ước mơ trở thành nhà thiết kế. Sau khi thất nghiệp, cô trở thành người chăm sóc cho Will Traynor.

    Sau những ngày đầu có phần lạnh nhạt với Louisa, Will dần dần trở nên vui vẻ và mở lòng hơn. Hai người có cùng nhau nhiều khoảnh khắc đáng nhớ. Những tình cảm đặc biệt nảy sinh, Will và Louisa sẽ tiếp tục ra sao khi bệnh tình của Will ngày càng tồi tệ hơn?

    Một câu chuyện làm lay động lòng người với bối cảnh đẹp và nhiều câu thoại đáng nhớ. Học tiếng Anh qua phim Me Before You thật sự là cách tuyệt vời để bạn trau dồi kiến thức.

    Tại sao nên học qua Me Before You

    1. Luyện tập kỹ năng Nghe – Nói

    Bộ phim Me Before You diễn ra trong một không gian với những hoạt động sinh hoạt thường ngày. Do đó, những đoạn hội thoại của nhân vật chắc chắn sẽ giúp bạn làm quen với cách mà người bản ngữ giao tiếp.

    2. Biết được nhiều từ vựng, cấu trúc ngữ pháp

    Nhiều từ vựng và cấu trúc ngữ pháp hay ho, thông dụng mà bạn khó bắt gặp trong sách vở sẽ có trong phim. Khi thật sự chú tâm, bạn luôn có thể tích lũy cho mình nhiều kiến thức với tính ứng dụng thật cao trong đời sống hàng ngày.

    Bắt đầu học tiếng Anh qua phim Me Before You như thế nào?

    Đây là gợi ý để bạn bắt đầu học tiếng Anh qua phim một cách hiệu quả nhất:

    • Chọn những đoạn hay hoặc dễ nghe để học. Đây là lúc việc học tiếng Anh bắt đầu. Đối với người ở trình độ mới bắt đầu, bạn nên chọn những đoạn dễ nghe và có câu từ đơn giản, dễ hiểu để bắt đầu học. Nếu bạn thuộc trình độ Intermediate rồi thì hãy xem những đoạn hay mà mình yêu thích. Những đoạn hay ở đây có thể là những đoạn có nhiều cấu trúc từ mới, hay là những đoạn giao tiếp tự nhiên mà bạn muốn tham khảo kỹ hơn để cải thiện cách nói của mình. Sau đấy thì luyện tập auto-pause, nói nhại theo từng câu trong đoạn phim cho tới khi thành thạo
    • Xem lại và tự ôn luyện để nhớ kiến thức lâu hơn. Lần xem lại này bạn chỉ nên xem với phụ đề song ngữ hoặc tốt nhất là tiếng Anh để kiểm tra mức độ nghe hiểu của mình. Việc ôn tập từ đã lưu trong các đoạn phim sau đấy cũng rất cần thiết để bạn ghi nhớ và thành thạo cách sử dụng các từ vựng đó. Nếu không ôn tập từ vựng, bạn sẽ nhanh chóng quên những gì đã học ở tập phim trước khi bạn chuyển sang học tiếp với tập phim tiếp theo.

    Bạn có thể cân nhắc một số đoạn trích gợi ý ngay bên dưới. Phần phân tích cấu trúc ngữ pháp, từ vựng đảm bảo sẽ làm bạn vô cùng hứng thú đấy.

    Những đoạn đối thoại hay để học tiếng Anh

    1. Lần đầu Louisa gặp Will

    Cấu trúc hay:

    – Ý nghĩa và cách dùng:

    Trong đoạn phim, bác sĩ Nathan nói xin chào với Louisa bằng câu “G’day”. Đây là một câu chào chung chung phổ biến ở Úc, thường dùng được cho cả ban ngày và buổi tối. Thông thường sẽ đi kèm với “mate”.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Trong đoạn này, mẹ của Will nói với Louisa là “Well, I’ll leave you to get on” khi giới thiệu cô với Will. Câu này có thể hiểu là “Được rồi, tôi sẽ để cô lo liệu những việc còn lại/ Được rồi, tôi sẽ không làm phiền nữa.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Mẹ của Will tiếp tục nói với Louisa là “Miss Clark, Nathan will talk you through Will’s routines and equipment”. Câu này có nghĩa là “Cô Clark, Nathan sẽ chỉ cho cô thời gian biểu của Will và các thiết bị”.

    Có thể thấy là “talk someone through” sẽ được sử dụng khi với ý nghĩa là chỉ cho ai đó cách thực hiện một công việc bằng cách đưa ra những chỉ dẫn.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Will nói với mẹ mình là “You don’t have to talk across me, Mother”. Câu này ý nói “Mẹ không cần phải nói thay con đâu”. Talk across cũng có nghĩa là cắt lời ai, nói sai ý ai đó nữa.

    – Ví dụ:

    2. Louisa nói chuyện với chị gái

    Cấu trúc hay:

    – Ý nghĩa và cách dùng:

    Louisa đang tâm sự với chị gái về công việc chăm sóc Will. Dù chỉ mới 10 ngày trôi qua nhưng Louisa đã thốt lên rằng “Feels like a lifetime”. Câu này có ý muốn nhấn mạnh rằng cô không thích công việc của mình. Cô cảm thấy thời gian trôi qua lâu như cả cuộc đời vậy.

    “Like a lifetime” sẽ thường được dùng để chỉ một việc làm người nói không thoải mái, tận hưởng. Hãy dùng cụm này khi bạn cần bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ chán nản, buồn bã một cách mạnh mẽ.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Chị của Louisa có ý định muốn quay lại học tiếp đại học. Cô dùng câu “Someone’s dropped out of business studies and they can take me back”. Câu này có nghĩa là “Ai đó đã bỏ khóa học kinh doanh nên chị có thể được nhận lại”.

    “Drop out” được sử dụng để chỉ hành động bỏ học, bỏ cuộc giữa chừng.

    – Ví dụ:

    3. Louisa và Will Traynor đi dạo ngoài vườn

    – Ý nghĩa và cách dùng:

    Đây là lần đầu Louisa lần đầu xem phim phụ đề. Will chọc ghẹo cô và cô cũng đối đáp lại ngay với anh bằng cùng một cụm từ”reach the ripe old age of.”

    “Ripe” có nghĩa là chín muồi, chín chắn, trưởng thành. Được dùng cho trái cây hay kế hoạch, tuổi tác. “Reach the ripe old age of + số tuổi” ở đây có nghĩa chỉ ai đó sống thọ đến một tuổi nhất định nào đó.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Will hỏi Louisa về những thói quen cũng như sở thích ở nhà của cô. Anh hỏi cô có chạy bộ cùng bạn trai không thì Louisa nói “I’m not exactly built for it”. Câu này ý nói “Tôi không có khiếu trong chuyện này”. Hay nghĩa đen là “Tôi sinh ra không để làm chuyện này”.

    – Ví dụ:

    4. Louisa nói chuyện với bố

    Cấu trúc hay:

    – Ý nghĩa và cách dùng:

    Ba của Louisa cho cô lời khuya về mối quan hệ với Will. Ông nói rằng “I’m not sure anyone in the world could ever persuade that man, once he’d set his mind to something”. Ý ông là: “Bố chắc rằng không có ai trên đời này có thể thuyết phục cậu ấy thay đổi quyết định của mình.”

    Cụm “set one’s mind to something” sẽ được sử dụng khi muốn nói rằng ai đó quyết tâm/ kiên quyết làm chuyện gì đó.

    – Ví dụ:

    5. Louisa đọc thư của Will

    Cấu trúc hay:

    – Ý nghĩa và cách dùng:

    Gần cuối bức thư, Will đã nói những lời cực kỳ cảm động và truyền cảm hứng cho Louisa “Live boldly, Clark. Push yourself. Don’t settle”. Anh nhắn với cô rằng “Hãy sống thật ý nghĩa, Clark. Luôn thúc đẩy chính mình. Đừng an phận”.

    “Push oneself” là một cụm từ tiếng Anh thường được sử dụng để với nghĩa là tự thúc đẩy bản thân, tự thử thách bản thân hay vượt qua giới hạn của mình.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Will khuyến khích Louisa hãy luôn tự tin với bản thân. Tự tin cả với sở thích mang tất ong nghệ của cô. “Wear those stripy legs with pride” hay “Hãy mang đôi tất ong nghệ đó đầy tự hào vào”.

    Vậy khi nói “do something with pride”, bạn sẽ muốn người nghe biết rằng bạn làm việc gì đó mà không hề xấu hổ, e thẹn mà đầy tự hào, tự tin thật sự.

    – Ví dụ: – Ý nghĩa và cách dùng:

    Will kết thúc thư bằng những lời đầy tình cảm. “You are scored on my heart” mang ý nghĩa là “em đã để lại dấu ấn trong trái tim anh” hay “em sống mãi trong trái tim anh”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Sai Lầm Nên Tránh Khi Luyện Nghe Tiếng Anh Qua Phim
  • Vì Sao Nên Luyện Nghe Tiếng Anh Qua Phim?
  • Những Kênh Youtube Học Tiếng Anh Có Phụ Đề
  • Kinh Nghiệm Học Tiếng Anh Qua Nhạc Và Phim
  • Học Cách Xin Việc Bằng Tiếng Anh Qua Phim
  • Nét Độc Đáo Tết Cổ Truyền Của Dân Tộc Khơ Mú

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nghệ Nhân Nghệ An, Điện Biên Trình Diễn Âm Nhạc Của Người Khơ Mú
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Dạy Và Học Tiếng Khmer Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Học Tiếng Và Chữ Dân Tộc Mông
  • Hướng Dẫn Kiểm Tra Và Cấp Chứng Chỉ Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Cũng giống như người Kinh, đồng bào dân tộc Khơ Mú cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về lại tổ chức Tết Grơ. Đồng bào Khơ Mú ăn Tết Grơ theo Tết Nguyên đán của người Kinh. Người Khơ Mú thường chuẩn bị Tết Grơ rất đầy đủ, chu đáo. Nhà nào cũng phải dự trữ thật nhiều lương thực, thực phẩm.

    Vào khoảng ngày 27, 28 tháng Chạp cũng là khoảng thời gian đồng bào tích cực chuẩn bị các công việc cho ngày Tết như: Củi lửa, nguyên liệu gói bánh chưng, lương thực, thực phẩm; dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa… Đặc biệt, người Khơ Mú ăn Tết Grơ trong mỗi gia đình đều phải sắm đủ lễ gồm: 1 cặp gà (1 con gà trống, 1 con gà mái), một vò rượu cần, một đĩa cau trầu. Nếu thiếu một trong 3 thứ trên thì không thể thực hiện được nghi lễ của ngày Tết Grơ.

    Trong chuyến công tác chúng tôi được thầy giáo Lữ Văn Thịnh người Khơ Mú ở tại bản Huồi Tố 1, xã Mai Sơn, huyện Tương Dương đúng lúc gia đình thầy đang làm nghi thức ăn Tết Grơ.

    Gia đình thầy Thịnh trước đây sinh sống tại bản Xốp Pột, xã Kim Đa, huyện Tương Dương, Nghệ An. Khi công trình thủy điện Bản Vẽ được khởi công xây dựng cũng là lúc gia đình thầy cùng các hộ dân khác nằm trong diện phải chuyển về Khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương.

    Nhưng thầy và vợ may mắn được chuyển về làm việc tại xã Mai Sơn, huyện Tương Dương. Vợ thầy Thịnh là chị Bùi Thị Lan hiện đang làm cán bộ dân số xã Mai Sơn; còn thầy dạy học tại trường THCS xã Mai Sơn. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về gia đình thầy lại quay về quê đất tổ tại huyện Tương Dương để ăn Tết Grơ rồi mới quay về nhà tại nơi tái định cư.

    Thầy Thịnh cho biết, theo tập quán truyền thống, vào ngày mùng 1 Tết sau khi các gia đình sắm đủ lễ gồm: 1 cặp gà (1 con gà trống, 1 con gà mái), một vò rượu cần, một đĩa cau trầu. Sau khi đồ lễ được bày biện đầy đủ ra giữa nhà người lớn tuổi nhất nhà bắt đầu làm lễ Tết Grơ. Các lễ nghi được đọc bằng tiếng đồng bào dân tộc Khơ Mú. Sau khi kết thúc bài cúng và lần uống rượu cần đầu tiên là một con gà sẽ được cắt mỏ lấy tiết. Tiếp đó, người vừa cúng xong sẽ cầm con gà bôi tiết lên đầu gối cho từng người trong gia đình. Chủ lễ lấy tiết gà quệt theo chiều từ trên xuống dưới và khẩn cầu cho những điều không tốt đẹp của năm cũ hãy đi ra khỏi con người.

    Khi tất cả mọi người trong gia đình làm xong nghi lễ này, thì một con gà khác được cắt mỏ lấy tiết. Tiếp tục lần lượt từng người trong gia đình lại được chủ lễ bôi tiết gà lên đầu gối. Lần này là chiều từ dưới chân lên đầu gối, kèm với lời khấn để mọi điều tốt đẹp sẽ đến vào năm mới. Sau đó, thầy cúng được chính vợ mình lấy một con gà đã được cắt mỏ quyệt máu lên đầu gối giống mọi thành viên khác.

    Để xem năm mới có bất trắc hoặc may mắn gì hay không một vị “chức sắc” trong bản sẽ được gia đình mời đến để xem chân của hai con gà làm lễ trước đó.

    Theo quan niệm của đồng bào Khơ Mú việc cắt mỏ gà trong Tết Grơ lấy máu bôi vào đầu gối, chân của tất cả thành viên trong gia đình là để xua đuổi tà khí, xóa tan bệnh tật và cầu mong sức khỏe, bình an cho cả nhà trong năm mới. Việc cắt mỏ gà lấy tiết để bôi vào đầu gối các thành viên trong gia đình cũng để mong một năm mới may mắn, đôi chân vững vàng trên mọi nẻo đường.

    Sau khi kết thúc nghi lễ trên cả 2 con gà được làm thịt để làm mâm cúng mời tổ tiên về ăn Tết. Thịt gà, xôi và đồ cúng lễ khi kết thúc, được thầy cúng phát cho mọi người trong gia đình với mong muốn có một năm no ấm. Người được nhận lễ cũng phải cúi đầu nhận lễ rồi chấm lên trán sau đó mới ăn.

    Ông Lữ Xuân Hiệu (bố thầy giáo Thịnh) chủ lễ Tết Grơ trong gia cho biết: “Dù đi đâu làm gì nhưng cứ mỗi độ Tết đến Xuân về tôi cùng người thân gia đình lại quay về Tương Dương – là nguồn cội của gia đình để ăn Tết Grơ. Tôi luôn dặn con cháu phải ghi nhớ hết tất cả các phong tục, văn hóa tốt đẹp của đồng bào mình để lưu giữ cho đời sau. Xong ngày Tết cả gia đình tôi lại trở về nơi ở tái định cư, chỉ còn vợ chồng con tôi ở lại để làm việc”.

    Tết Grơ của đồng bào Khơ Mú kéo dài trong vòng 1 ngày 1 đêm. Sau lễ cúng trên coi như năm mới đã bắt đầu với từng nhà. Cũng giống như quan niệm của người Kinh, trong ngày mồng Một đầu năm, người xông nhà có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi gia đình người Khơ Mú. Vì người ấy sẽ mang đến những điều tốt đẹp, may mắn cho gia đình trong suốt cả năm đó.

    Nếu người có vía tốt thì sẽ gặp may mắn, còn nếu người có vía dữ hoặc là nữ giới đến xông nhà thì cả năm đó gặp xui xẻo. Chính vì vậy, người xông nhà thường được lựa chọn, chuẩn bị trước cho gia đình và nhất thiết người xông nhà phải là nam giới.

    Tuy nhiên, có một điều khác với các dân tộc khác ngày Tết trên bàn thờ của các gia đình Khơ Mú không có hoa tươi. Theo quan niệm của đồng bào Khơ Mú nếu năm mới để lá xanh trên bàn thờ tổ tiên thì gặp điều không may mắn. Do đó cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về dù có hoa đào ở trong vườn nhà đồng bào Khơ Mú cũng không chặt đem vào nhà trang trí.

    Cũng như bao dân tộc khác cứ mỗi độ Tết đến Xuân về sau mọi nghi lễ tất cả anh em họ hàng đều được mời đến nhà uống rượu cần, ăn cơm vui xuân. Sau ngày Mồng 1, dân làng đi chúc Tết nhau và tới dự lễ mổ lợn cúng và ăn Tết tại các gia đình, theo tập quán con cháu cùng bố mẹ đi chúc Tết và mừng thọ ông bà, đáp lại ông bà thường mừng mỗi cháu một đôi bánh chưng lấy may cùng với các lời chúc phúc, dặn dò con cháu luôn luôn ngoan ngoãn nghe lời người lớn và ông bà.

    Trong ngày Tết, đồng bào Khơ Mú thường làm rất nhiều bánh chưng để mừng tuổi con cháu, bánh chưng của đồng bào thường được gói từ sau ngày Mùng một Tết sau khi đã mổ lợn cúng để lấy thịt lợn làm nhân bánh. Đồng bào ăn Tết cho tới rằm tháng giêng nên bánh chưng được gói liên tục nếu trong nhà hết bánh.

    “Tôi là người Kinh nên khi mới về làm dâu trong nhà không hiểu hết các nghi thức lễ Grơ. Nhưng tôi thấy đây là một phong tục đẹp nên học hỏi dần từ chồng và bố, mẹ chồng nên giờ cũng đã quen. Tuy nhiên, phong tục này của đồng bào Khơ Mú đang ngày càng một mai một nên tôi mong muốn các cơ quan chức năng có biện pháp bảo tồn nét đẹp văn hóa đầu năm này của đồng bào Khơ Mú”, chị Bùi Thị Lan (vợ thầy giáo Thịnh) chia sẻ.

    Ở Nghệ An, người Khơ Mú hiện có 56.980 người, chiếm trên 10,6% tổng số dân là người dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh và sống tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi biên giới Nghệ An là: Tương Dương, Kỳ Sơn và Quế Phong.

    Trước đây người ta thường gọi là Xá, Tày Hạy (người Tày làm rẫy), Tềnh, Kha hoặc Lào Thênh, Pù Thênh. Trước đây, đồng bào người Khơ Mú dường như không có Tết nhưng ngày nay do cuộc sống của đồng bào Khơ Mú đã khấm khá hơn nên họ chuẩn bị Tết chu đáo hơn. Những người già làng đặc biệt, có uy tín của huyện được hỗ trợ 400.000 đồng/người để ăn Tết.

    Hằng năm Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh hỗ trợ gạo cho những người nghèo, những người dân mất mùa và 100.000 đồng để ăn Tết vui vẻ. Để đồng bào dân tộc Khơ Mú có một cái Tết đầy đủ UBND tỉnh Nghệ An cũng đã trao hàng trăm suất quà cho các hộ nghèo đồng bào dân tộc Khơ Mú đang sinh sống tại các huyện miền tây xứ Nghệ.

    Nguyễn Duy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Ưu Đãi Tại Hội Thảo Du Học Trung Quốc
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây Cùng Tư Vấn Du Học Vinahure
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • Tuyển Sinh Du Học Trung Quốc
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây: Trường Đào Tạo Tiếng Trung Hàng Đầu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×