【#1】Cần Tháo Gỡ Khó Khăn Trong Triển Khai Chương Trình Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh Ở Gia Lai

Cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng của khẩu Quốc tế Lệ Thanh bổ sung kiến thức cho các em học sinh vùng biên giới tỉnh Gia Lai . Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN

Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai , năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2021-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

Em Ksor Thiêm, học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, nói: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh. Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2021-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường. Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải phô -tô sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

Ngoài ra, từ năm học 2021-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.

【#2】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Cấp Tiểu Học Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai

​Sở Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) tỉnh Gia Lai vừa có văn bản hướng dẫn các trường tiểu học trên địa bàn triển khai dạy môn học tự chọn là tiếng dân tộc thiểu số bản địa cho học sinh trong năm học 2021-2016. Các trường sẽ dạy tiếng dân tộc Gia Rai và Ba Na.

Học sinh tiểu học huyện Đác Đoa (Gia Lai) trong giờ học.

Việc dạy tiếng dân tộc ở cấp tiểu học sẽ giúp cho các học sinh hình thành và phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng dân tộc; góp phần rèn luyện tư duy và học tốt môn tiếng Việt cũng như các môn học khác trong trường tiểu học; cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản, cần thiết về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp tiếng dân tộc; đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng và thực hành giao tiếp, mở rộng những hiểu biết về con người, cuộc sống, văn hóa của các dân tộc Gia Rai, Ba Na và các dân tộc khác. Mặt khác, đối với các em học sinh dân tộc thiểu số, đây chính là môn học rất ý nghĩa, giúp các em bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ, góp phần bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của các dân tộc… Việc tổ chức dạy học tiếng dân tộc phải bảo đảm chất lượng để học sinh có những kỹ năng cần thiết, từ đó giúp cho các em học tốt các môn học khác.

Theo Phó Giám đốc Sở GD và ĐT tỉnh Gia Lai Huỳnh Minh Thuận, từ năm 2021-2016 và các năm học tiếp theo, môn học tiếng dân tộc được thực hiện giảng dạy hai tiết/tuần.Việc dạy học tiếng dân tộc có thể bắt đầu từ lớp hai hoặc lớp ba và thực hiện liên tục trong ba năm học. Đối với giáo viên dạy tiếng dân tộc phải đạt chuẩn về trình độ đào tạo của cấp học tương ứng và có chứng chỉ dạy tiếng dân tộc theo quy định của Bộ GD và ĐT. Giáo viên phải nắm vững mục tiêu, định hướng, phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học. Trên cơ sở đề xuất của Sở GD và ĐT, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn về việc đồng ý chủ trương cho các huyện cân đối ngân sách của địa phương để mua sách, vở phục vụ việc dạy tiếng Gia Rai, Ba Na ở cấp tiểu học thay thế sách đã hư hỏng.

Đánh giá học sinh học môn tiếng dân tộc phải bảo đảm theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học về sự tiến bộ học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, bảo đảm công bằng, khách quan và không tạo áp lực cho học sinh và phụ huynh.

Báo Nhân dân

【#3】Chuyển Biến Tích Cực Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Trường Phổ Thông

(GD&TĐ) – Cả nước hiện có 20 tỉnh, thành phố đã và đang tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) cho 108.329 học sinh thuộc 7 dân tộc: Khmer; Hoa; Chăm; Êđê; Jrai; Bahnar và H’mông.

(GD&TĐ) – Cả nước hiện có 20 tỉnh, thành phố đã và đang tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) cho 108.329 học sinh thuộc 7 dân tộc: Khmer; Hoa; Chăm; Êđê; Jrai; Bahnar và H’mông. Theo đánh giá của Hội nghị tổng kết dạy tiếng DTTS trong trường phổ thông, do Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa chủ trì tổ chức tại Nha Trang ngày 14/10/2011: khó khăn lớn nhất của công tác dạy học tiếng DTTS hiện nay là đội ngũ giáo viên thiếu và yếu.

Bước ngoặt xoay chuyển sự phát triển mạnh của việc dạy tiếng DTTS là ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở GD phổ thông và trung tâm GD thường xuyên. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Phải chờ đến cuối tháng 10/2011 mới có Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định 82 nói trên của Chính phủ.

Năm học 2010 – 2011 vừa qua, thống kê của Vụ GD dân tộc (Bộ GD&ĐT) cho thấy: việc dạy tiếng DTTS được triển khai ở 688 trường, 4764 lớp, 108.329 học sinh (HS) và 1.543 giáo viên (GV). So với năm học trước tăng 137 lớp với 2.489 HS, tăng nhiều nhất là HS học tiếng H’mông và tiếng Bahnar.

Kết quả xếp loại môn tiếng DTTS năm học vừa qua: số học sinh khá giỏi tăng 4,4% ở bậc tiểu học; tăng 6,6% ở bậc THCS. Qua việc học tiếng DTTS, khiến HS học tập hứng khởi hơn, ít bỏ học hơn, hỗ trợ tốt hơn trong việc học các môn khác. Tỉ lệ HS học tiếng DTTS đạt khá giỏi cao nhất là môn tiếng Hoa (bình quân đạt 73,2%); môn tiếng Khmer (bình quân đạt 53,8%); thấp nhất là môn tiếng H’mông chỉ được 38,2% học sinh khá giỏi. Nhìn chung ở 7 môn học tiếng DTTS cả nước, năm học 2010-2011 có 93,9% học sinh tiểu học và 88,4% học sinh THCS đạt học lực từ TB trở lên…

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa (trái) và Vụ trưởng Nguyễn Thị Thu Huyền chủ trì hội nghị

Nổi bật nhất là tỉnh Sóc Trăng, đã triển khai dạy tiếng Khmer cho toàn bộ các trường THCS của tỉnh. Tỉnh Đăk Lăk dạy tiếng Êđê cho tất cả các trường PTDT nội trú huyện và tỉnh. Các địa phương: TPHCM; Cà Mau; Kiên Giang; Sóc Trăng; Cần Thơ và Hậu Giang đã dạy tiếng Hoa tăng cường từ 3 đến 5 tiết/tuần lên 8-10 tiết/tuần. Đặc biệt tại Sóc Trăng và Trà Vinh có gần 1/3 số dân toàn tỉnh là đồng bào Khmer, đã có hàng trăm nhà sư tự nguyện dạy tiếng Khmer miễn phí cho hàng ngàn HS trong dịp hè (chủ yếu dạy học trong chùa).

Khó khăn lớn là nhiều chương trình dạy học tiếng DTTS vẫn đang ở dạng thực nghiệm hoặc thí điểm. Tiếng Hoa bậc THCS đang dạy học thí điểm. Tiếng Chăm Jawi đang dạy học thực nghiệm ở An Giang; Tây Ninh. Tiếng Êđê đang thực nghiệm ở Đăk Nông và Đăk Lăk. Một số tỉnh theo nhu cầu của HS đã tổ chức dạy học tiếng DTTS của chương trình tiểu học cho học sinh bậc THCS. Đến nay, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường Sư phạm xây dựng chương trình đào tạo GV dạy tiếng DTTS trình độ cao đẳng và đại học, đã ban hành được 4 chương trình đào tạo GV dạy tiếng Khmer; tiếng Chăm; tiếng Jrai và tiếng H’mông trình độ đại học.

Thách thức lớn nhất trong việc dạy tiếng DTTS là lực lượng GV quá mỏng, kể cả cán bộ quản lý (CBQL) chỉ đạo việc dạy tiếng DTTS cũng vậy.

Phó giám đốc Sở GD&ĐT Gia Lai ông Ksor Jil cho biết tỉnh hiện có 90.202 HS Jrai (chiếm khoảng 30% HS phổ thông toàn tỉnh), nhưng chỉ có 244 GV dạy tiếng Jrai. Học sinh Bahnar có 36.223 em (chiếm khoảng 11% học sinh phổ thông toàn tỉnh), nhưng chỉ có 32 GV dạy tiếng Bahnar. Theo nhu cầu thực tế, Gia Lai cần bổ sung gấp đôi số GV này.

Tại Sóc Trăng, theo ông Sơn Hoàng Minh Tâm (phòng GDDT-Sở GD&ĐT): tỉ lệ HS Khmer đến cuối năm học 2010-2011 là 37.744 em – chiếm 28% HS phổ thông toàn tỉnh, nhưng chỉ có 316 GV dạy tiếng Khmer, trong đó 90% là GV tiểu học. Hầu hết số GV này chỉ mới có bằng Trung học sư phạm (hệ 9+3 hoặc 12+2). Với qui mô học sinh Khmer rất lớn như trên, Sóc Trăng đang thiếu trầm trọng GV dạy tiếng Khmer bậc THCS và THPT.

Theo đại diện các sở GD&ĐT Nghệ An; Yên Bái: hầu hết GV dạy tiếng H’mông của tỉnh đều chưa được đào tạo sư phạm chính quy, theo đúng trình độ chuyên môn của từng bậc học.

Ông Thái Văn Tài – Trưởng phòng GD&ĐT Krông Na (Đăk Lăk) cho biết: học sinh các DTTS của huyện chiếm 27% – chủ yếu là học sinh Êđê đang học tiếng Êđê ở 6 trường tiểu học với gần 700 em. Trong 37 GV là người dân tộc thiểu số, chúng tôi chỉ chọn được 19 GV biết sử dụng tiếng Êđê để dạy học. Trong đó chỉ có 6 GV thực sự đủ năng lực dạy tiếng Êđê bậc tiểu học, được định biên làm CBQL cốt cán cho phòng GD trong việc dạy học tiếng Êđê.

Học sinh trường PTDT nội trú Nơ Trang Lơng – Đăk Lăk.

Trong việc vận dụng chế độ chính sách đối với GV và HS dạy học tiếng DTTS cũng có sự khác nhau. Có tỉnh áp dụng Nghị định số 61 về chế độ chính sách đối với nhà giáo, CBQL GD ở các trường chuyên biệt, ở vùng KTXH đặc biệt khó khăn, để chi trả chế độ cho GV dạy tiếng DTTS. Có địa phương vận dụng Thông tư liên tịch số 50 về hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở GD công lập, để chi trả chế độ cho GV dạy tiếng DTTS. Lại có tỉnh chi trả theo chính sách riêng của địa phương (thỏa thuận theo hợp đồng). Nhìn chung HS học tiếng DTTS đều được cấp đủ sách giáo khoa. Một số tỉnh cấp giấy chứng nhận học tiếng DTTS cho HS. Các em còn được khen thưởng, được xếp ưu tiên về trình độ học tiếng DTTS, khi nhập học một số trường của địa phương…

Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Vụ trưởng vụ GDDT năm học 2011-2012 tiếp tục thay SGK tiếng Bahnar quyển 3. Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của GV, HS, CBQL GD và PHHS về chương trình – SGK mới các tiếng: Jrai; Chăm; H’mông; Khmer. Hoàn thành việc chỉnh sửa SGK tiếng Êđê thực nghiệm để ban hành chính thức. Trong năm 2012, hoàn thành bộ SGK tiếng H’mông; tiếng Hoa tiểu học, để năm học 2012-2013 triển khai việc thay sách. Chuẩn bị xây dựng chương trình – SGK tiếng Xê đăng. Thống nhất đánh giá bộ SGK thực nghiệm tiếng Chăm Jawi. CBQL phụ trách dạy tiếng DTTS ở phòng ở Sở (kể cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) phải biết tiếng nói, chữ viết tiếng DTTS mà đơn vị mình đang phụ trách…

Tổng kết hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa biểu dương các địa phương có nhiều sáng tạo trong tổ chức dạy học tiếng DTTS, kể cả sáng tạo trong thực hiện chế độ đối với GV, HS dạy học tiếng DTTS. Cần tăng cường sử dụng GV DTTS dạy tiếng DTTS. Nên giao quyền chủ động sắp xếp lịch dạy học tiếng DTTS cho các trường để phù hợp với thực tế. Các địa phương chủ động lên kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng cho GV dạy tiếng DTTS. Môn tiếng DTTS là môn học tự chọn, không đưa vào đánh giá xếp loại HS cuối năm khi Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 82 ra đời, sẽ giải quyết được những bất cập trong việc tổ chức dạy học tiếng DTTS và thực hiện chế độ chính sách đối với GV, HS. Tổ chức tốt dạy học tiếng DTTS sẽ góp phần quan trọng bồi dưỡng lòng tự hào, sự quý trọng tiếng “mẹ đẻ”. Đồng thời qua đó giúp học sinh các DTTS phấn khởi hơn trong học tập và thúc đẩy việc học các môn văn hóa khác được tốt hơn.

Đinh Lê Yên

【#4】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc

GD&TĐ – Hỏi: Xin được hỏi Tòa soạn, quy định về phụ cấp cho người dạy tiếng dân tộc thiểu số có còn hiệu lực không?

Năm học 2021-2016 này, tôi được phân công dạy dạy tiếng Khme, vậy tôi có được hưởng phụ cấp gì không? Xin cho biết cụ thể? – Nguyễn Bá Thiều (bathieu***@gmail.com)

* Trả lời:

Ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và Trung tâm giáo dục Thường xuyên. Hiện tại văn bản này vẫn còn hiệu lực thi hành.

Theo đó tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 9 Nghị định này quy định về chế độ chính sách của giáo viên và người học cụ thể như sau:

Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung; không áp dụng chế độ phụ cấp này đối với những người đã được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo quy định tại Điều 13 Nghị định số: 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Cụ thể: Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang dạy bằng tiếng và chữ viết của các dân tộc thiểu số thì được hưởng thêm phụ cấp 50% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Ngoài ra, theo Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP, người học còn được Nhà nước đảm bảo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với từng đối tượng. Người học là cán bộ, công chức, viên chức được hưởng chế độ đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định.

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, nếu bạn chưa được hưởng thêm phụ cấp 50% theo quy định tại Điều 13 Nghị định số: 61/2006/NĐ-CP thì bạn hoàn toàn đủ điều kiện để được hưởng phụ cấp đối với giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số theo quy định tại Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP.

【#5】Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?

GD&TĐ – * Hỏi: Tôi được giao công tác chủ nhiệm tiểu học, dạy 19 tiết/tuần. Do thiếu tiết nên trường phân công dạy tiếng Khmer, với 4 tiết /tuần? Vậy xin hỏi tôi có được hưởng phụ cấp dạy tiếng dân tộc không? (thanhhuong***@gmail.com)

Một tiết học tiếng Khmer phổ thông nội trú Kiên Giang

* Trả lời: Tại Điều 2 Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ “Quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số (DTTS) trong các cơ sở giáo dục phổ thông (GDPT) và trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX)” có nêu: Nghị định này áp dụng cho người dạy tiếng DTTS và người DTTS học tiếng DTTS đã có chữ viết ở các cơ sở GDPT và trung tâm GDTX trong hệ thống GD quốc dân. Nhà nước tập trung đầu tư, ưu tiên việc dạy và học tiếng DTTS đối với các dân tộc ít người.

Theo Điều 9 Nghị định này quy định chế độ chính sách của giáo viên dạy tiếng DTTS như sau: Giáo viên dạy tiếng DTTS được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung; không áp dụng chế độ phụ cấp này đối với những người đã được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý GD đang công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Người học được Nhà nước đảm bảo SGK, tài liệu tham khảo tiếng DTTS phù hợp với từng đối tượng. Người học là cán bộ, công chức, viên chức được hưởng chế độ đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định.

Hàng năm, cơ sở GDPT và trung tâm GDTX được giao nhiệm vụ dạy tiếng DTTS, được giao thêm biên chế giáo viên tương ứng với số tiết dạy tiếng DTTS theo quy định.

Căn cứ vào quy định nêu trên, trường hợp của bạn thuộc đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp dạy tiếng DTTS theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, bạn có thể hỏi thêm Phòng GD&ĐT để được giải đáp thỏa đáng.

Mọi ý kiến thắc mắc về chế độ chính sách đối với nhà giáo, bạn đọc gửi về chuyên mục Hộp thư bạn đọc – Báo Giáo dục & Thời đại: 29B, Ngô Quyền (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Email: [email protected]

【#6】Mở Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Mường Cho Cán Bộ Huyện Miền Núi Thanh Sơn

Cập nhật lúc 16:43, Thứ tư, 29/06/2016

Tỉnh Phú Thọ vừa mở 3 lớp dạy tiếng dân tộc Mường cho 263 cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn huyện miền núi Thanh Sơn. Đây là những cán bộ đầu tiên của huyện được đào tạo tiếng dân tộc thiểu số nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành công việc, đồng thời giúp việc tuyên truyền phổ biến đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo đồng bào được hiệu quả hơn.

Cùng với mở các lớp dạy tiếng dân tộc Mường, huyện Thanh Sơn cũng tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân gìn giữ tiếng Mường; khuyến khích đồng bào nói tiếng Mường trong các nghi lễ; duy trì tiếng Mường qua các bài hát dân ca. Bên cạnh đó, huyện Thanh Sơn chỉ đạo ngành chuyên môn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy tiếng Mường.

Huyện Thanh Sơn có trên 50% dân số là đồng bào dân tộc Mường, tập trung tại các xã vùng cao như Thượng Cửu, Khả Cửu, Yên Sơn, Yên Lương…Khi có việc giao tiếp với người Kinh, người dân tộc Mường mới dùng tiếng Việt, còn trong sinh hoạt gia đình họ sử dụng tiếng mẹ đẻ. Nhiều cán bộ, công chức làm công tác dân vận, phong trào không biết tiếng dân tộc nên khi tiếp xúc với bà con rất khó khăn. Sau khi tham gia lớp học tiếng Mường, các cán bộ công chức người Kinh hiểu, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào. Qua lớp học, các cán bộ, công chức còn hiểu biết hơn về phong tục, tập quán, văn hóa của đồng bào dân tộc Mường từ đó góp phần phục vụ tích cực công tác tuyên truyền, vận động đồng bào Mường đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mường./.

【#7】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Kon Tum đã được triển khai sâu rộng. Dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chương trình này đã gặt hái được nhiều kết quả.

Chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông, được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum chính thức triển khai từ năm học 2008 – 2009, với 10 lớp dạy tiếng Bahnar tại 4 trường tiểu học Đăk Rơ Wa, Ngọc Bay, Bế Văn Đàn (thành phố Kon Tum) và Đăk Ruồng (huyện Kon Rẫy), với hơn 200 học sinh theo học; 2 lớp dạy tiếng Jrai tại trường tiểu học Ia Chim 1 và Ia Chim 2, cho 49 học sinh.

Dạy tiếng dân tộc cho học sinh từ lúc các em mới bắt đầu đi học.

Ảnh: Mộc Thanh

Trong năm học 2009 – 2010, chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số tiếp tục được mở rộng tại hai trường tiểu học Hùng Vương và Lê Văn Tám (huyện Sa Thầy), với 48 học sinh. Tiếp tục đưa tiếng dân tộc thiểu số vào giảng dạy, bảo đảm số học sinh người dân tộc thiểu số được học chữ ngày càng tăng, năm học 2013 – 2014, toàn tỉnh Kon Tum đã có 15 trường dạy tiếng dân tộc Bahnar và Jrai, trong đó có 10 trường dạy tiếng Bahnar với 822 học sinh, 5 trường dạy tiếng Jrai với 269 học sinh. Nhìn chung, đến thời điểm này, đa số học sinh theo học đều nắm được kiến thức kỹ năng cơ bản của chương trình. Kết quả tổng kết năm học 2013 – 2014: Tỷ lệ học sinh đạt trung bình trở lên là 98,5%, trong đó khá, giỏi đạt tỷ lệ 53,4%.

Bên cạnh đó, công tác dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng được quan tâm và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Đến cuối năm 2013, các Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở được 71 lớp, với 3.449 cán bộ, công viên chức theo học các thứ tiếng như Xơ Đăng, Bahnar, Jrai, Dẻ Triêng. Hầu hết các học viên theo học đều đã phát huy được hiệu quả khi về địa bàn công tác, đã thực sự xóa khoảng cách ngôn ngữ giữa cán bộ, công viên chức với người dân bản địa.

Nhiều giáo trình song ngữ đã được biên soạn để các trò vừa học tiếng Việt vừa học tiếng của dân tộc mình. Mộc Thanh

Bà Phạm Thị Trung, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, khẳng định: Công tác dạy và học tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Số học sinh dân tộc thiểu số được xóa mù chữ ngày càng cao, các cán bộ, công chức, viên chức sau khi theo học đã phát huy được hiệu quả trong công tác nắm địa bàn, giao tiếp với người dân bản địa góp phần vào công tác phát triển kinh tế, an sinh xã hội ở địa bàn.

【#8】Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

Những năm gần đây, các tỉnh Tây Nguyên đã tuyên truyền, vận động các bậc phụ huynh là người dân tộc thiểu số cho con em mình tự nguyện tham gia học tiếng dân tộc thiểu số do các trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tổ chức.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng đã sử dụng các bộ sách giáo khoa tiếng Êđê, Jrai, Bahnar, K’ho… bậc tiểu học từ lớp 3, 4 và lớp 5 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Riêng việc dạy tiếng dân tộc thiểu số tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được thực hiện ở các lớp 6, 7 và 8 theo chương trình, tài liệu của địa phương.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng tổ chức dạy 2 tiết/tuần, bố trí phòng học học, giáo viên, mua sắm đồ dùng dạy học, hỗ trợ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập và vở viết cho học sinh dân tộc phục vụ tốt yêu cầu dạy và học cho các cháu.

Từ đầu năm học 2021-2019 đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã cấp sách giáo khoa mới tiếng Êđê miễn phí cho 13.170 học sinh dân tộc Êđê thuộc 3 khối lớp 3,4, 5 và 133 giáo viên dạy tiếng dân tộc Êđê ở 106 trường tiểu học trên địa bàn.

Các tỉnh Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng cũng đã trích ngân sách địa phương hàng trăm tỷ đồng để in sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc thiểu số tại chỗ, sách bài tập, mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ tốt yêu cầu dạy và học.

Hầu hết, các giáo viên dạy tiếng dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên cũng đã được đào tạo nghiệp vụ sư phạm tại các trường Đại học, Cao đẳng và đã được học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo về chuyên ngành dạy tiếng dân tộc nên góp phần nâng cao chất lượng dạy học bằng tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh dân tộc.

【#9】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh còn nhiều khó khăn.

Tỉnh Gia Lai hiện có gần 400.000 học sinh, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, chủ yếu là học sinh người dân tộc Jrai, Bahnar. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tổ chức triển khai chương trình dạy tiếng Jrai, Bahnar và coi đây là một môn học tự chọn trong các trường học từ năm 2006 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn, số học sinh theo học tiếng dân tộc thiểu số ngày một giảm.

Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng Jrai là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng Bahnar là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2021-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa cho biết: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh.

Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2021-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường.

Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải pho to sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

Ngoài ra, từ năm học 2021-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.

【#10】Khó Khăn Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

Khó khăn trong dạy tiếng dân tộc thiểu số

Đến nay, Chương trình đã được triển khai rộng rãi trong các trường học của tỉnh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của phụ huynh và các em học sinh tiểu học.

Tuy nhiên, bất cập nhất của chương trình là từ năm học 2008 – 2009 đến nay, nhà trường chỉ được cấp phát một lần sách giáo khoa (sách dạy học tiếng Ba Na) với số lượng 100 cuốn cho ba khối lớp 3, lớp 4 và lớp 5. Qua nhiều năm dùng chung, bộ sách này đã rách rời, hư hỏng, chưa được cấp mới. Để có sách cho học sinh học tập, nhà trường đã phải tự trích kinh phí để phô-tô-cóp-py sách cho các em. Theo cô giáo Y Lưu, giáo viên dạy tiếng Ba Na của trường cho biết, học sinh DTTS rất phấn khởi, tiếp thu bài nhanh và nhớ lâu khi tiết học có tranh ảnh trực quan. Sách phô-tô-cóp-py không có mầu, không có bộ tranh dạy học… phần nào đã làm giảm sự hưng phấn tiếp thu bài của học sinh. Vì vậy khi được phân công dạy tiếng Ba Na cho các em, cô Y Lưu đã phải tự mày mò làm đồ dùng dạy học, sưu tầm tranh, ảnh để phục vụ công tác giảng dạy.

Theo Sở GD và ĐT tỉnh Kon Tum, hiện nay nhu cầu học tiếng DTTS của học sinh trên địa bàn tương đối cao. Tuy nhiên, cùng với hạn chế về các điều kiện cơ sở vật chất nói chung, vấn đề đội ngũ giáo viên thiếu hụt và thiếu tính kế thừa là nguyên nhân cơ bản mà ngành chưa đáp ứng được hết theo yêu cầu. Theo báo cáo của ngành giáo dục Kon Tum, tất cả giáo viên dạy tiếng DTTS hiện nay trên địa bàn đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ dạy tiếng dân tộc. Việc mở mã ngành đào tạo giáo viên dạy tiếng DTTS tại trường cao đẳng sư phạm địa phương gặp khó khăn do thiếu đội ngũ giảng viên và thiếu kinh phí triển khai.

Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ GD và ĐT, tất cả học sinh THCS trên cả nước đều phải học môn ngoại ngữ, cho nên ở bậc tiểu học, các trường phải hướng các em học ngoại ngữ để khi học lên bậc THCS mới theo kịp chương trình. Vì vậy Bộ GD và ĐT cần chỉnh lý, biên soạn giáo trình tiếng DTTS Ba Na, Gia Rai một cách ngắn gọn, phù hợp hơn với cách nói, cách viết, cách dùng từ của người dân địa phương, đồng thời sớm hoàn thành biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng dân tộc Xê Đăng đưa vào giảng dạy để học sinh người DTTS có thể vừa lựa chọn học tiếng dân tộc mình vừa học ngoại ngữ theo chương trình chung.