Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Kon Tum đã được triển khai sâu rộng. Dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chương trình này đã gặt hái được nhiều kết quả.

    Chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông, được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum chính thức triển khai từ năm học 2008 – 2009, với 10 lớp dạy tiếng Bahnar tại 4 trường tiểu học Đăk Rơ Wa, Ngọc Bay, Bế Văn Đàn (thành phố Kon Tum) và Đăk Ruồng (huyện Kon Rẫy), với hơn 200 học sinh theo học; 2 lớp dạy tiếng Jrai tại trường tiểu học Ia Chim 1 và Ia Chim 2, cho 49 học sinh.

    Dạy tiếng dân tộc cho học sinh từ lúc các em mới bắt đầu đi học.

    Ảnh: Mộc Thanh

    Trong năm học 2009 – 2010, chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số tiếp tục được mở rộng tại hai trường tiểu học Hùng Vương và Lê Văn Tám (huyện Sa Thầy), với 48 học sinh. Tiếp tục đưa tiếng dân tộc thiểu số vào giảng dạy, bảo đảm số học sinh người dân tộc thiểu số được học chữ ngày càng tăng, năm học 2013 – 2014, toàn tỉnh Kon Tum đã có 15 trường dạy tiếng dân tộc Bahnar và Jrai, trong đó có 10 trường dạy tiếng Bahnar với 822 học sinh, 5 trường dạy tiếng Jrai với 269 học sinh. Nhìn chung, đến thời điểm này, đa số học sinh theo học đều nắm được kiến thức kỹ năng cơ bản của chương trình. Kết quả tổng kết năm học 2013 – 2014: Tỷ lệ học sinh đạt trung bình trở lên là 98,5%, trong đó khá, giỏi đạt tỷ lệ 53,4%.

    Bên cạnh đó, công tác dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng được quan tâm và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Đến cuối năm 2013, các Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở được 71 lớp, với 3.449 cán bộ, công viên chức theo học các thứ tiếng như Xơ Đăng, Bahnar, Jrai, Dẻ Triêng. Hầu hết các học viên theo học đều đã phát huy được hiệu quả khi về địa bàn công tác, đã thực sự xóa khoảng cách ngôn ngữ giữa cán bộ, công viên chức với người dân bản địa.

    Nhiều giáo trình song ngữ đã được biên soạn để các trò vừa học tiếng Việt vừa học tiếng của dân tộc mình. Mộc Thanh

    Bà Phạm Thị Trung, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, khẳng định: Công tác dạy và học tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Số học sinh dân tộc thiểu số được xóa mù chữ ngày càng cao, các cán bộ, công chức, viên chức sau khi theo học đã phát huy được hiệu quả trong công tác nắm địa bàn, giao tiếp với người dân bản địa góp phần vào công tác phát triển kinh tế, an sinh xã hội ở địa bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh
  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh còn nhiều khó khăn.

    Tỉnh Gia Lai hiện có gần 400.000 học sinh, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, chủ yếu là học sinh người dân tộc Jrai, Bahnar. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tổ chức triển khai chương trình dạy tiếng Jrai, Bahnar và coi đây là một môn học tự chọn trong các trường học từ năm 2006 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Tuy nhiên, vì nhiều lý do, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn, số học sinh theo học tiếng dân tộc thiểu số ngày một giảm.

    Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng Jrai là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng Bahnar là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2022-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

    Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa cho biết: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

    Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh.

    Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2022-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường.

    Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải pho to sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

    Ngoài ra, từ năm học 2022-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

    Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Việt Cho Tây
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1
  • Phạm Xuân Nguyên: Tôi Dạy Tiếng Việt Cho Bộ Đội Campuchia
  • Khó Khăn Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Chèo Lái Những Chuyến Đò Ngôn Ngữ
  • Ký Ức Dạy Tiếng Việt Trên Đất Campuchia
  • Những Câu Giao Tiếp Tiếng Khmer Đơn Giản Và Hữu Ích Khi Đi Du Lịch Campuchia
  • Trung Tâm Dạy Tiếng Campuchia Ở Bình Dương
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Chăm Trong Trường Học Ở Bình Thuận
  • Khó khăn trong dạy tiếng dân tộc thiểu số

    Đến nay, Chương trình đã được triển khai rộng rãi trong các trường học của tỉnh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của phụ huynh và các em học sinh tiểu học.

    Tuy nhiên, bất cập nhất của chương trình là từ năm học 2008 – 2009 đến nay, nhà trường chỉ được cấp phát một lần sách giáo khoa (sách dạy học tiếng Ba Na) với số lượng 100 cuốn cho ba khối lớp 3, lớp 4 và lớp 5. Qua nhiều năm dùng chung, bộ sách này đã rách rời, hư hỏng, chưa được cấp mới. Để có sách cho học sinh học tập, nhà trường đã phải tự trích kinh phí để phô-tô-cóp-py sách cho các em. Theo cô giáo Y Lưu, giáo viên dạy tiếng Ba Na của trường cho biết, học sinh DTTS rất phấn khởi, tiếp thu bài nhanh và nhớ lâu khi tiết học có tranh ảnh trực quan. Sách phô-tô-cóp-py không có mầu, không có bộ tranh dạy học… phần nào đã làm giảm sự hưng phấn tiếp thu bài của học sinh. Vì vậy khi được phân công dạy tiếng Ba Na cho các em, cô Y Lưu đã phải tự mày mò làm đồ dùng dạy học, sưu tầm tranh, ảnh để phục vụ công tác giảng dạy.

    Theo Sở GD và ĐT tỉnh Kon Tum, hiện nay nhu cầu học tiếng DTTS của học sinh trên địa bàn tương đối cao. Tuy nhiên, cùng với hạn chế về các điều kiện cơ sở vật chất nói chung, vấn đề đội ngũ giáo viên thiếu hụt và thiếu tính kế thừa là nguyên nhân cơ bản mà ngành chưa đáp ứng được hết theo yêu cầu. Theo báo cáo của ngành giáo dục Kon Tum, tất cả giáo viên dạy tiếng DTTS hiện nay trên địa bàn đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ dạy tiếng dân tộc. Việc mở mã ngành đào tạo giáo viên dạy tiếng DTTS tại trường cao đẳng sư phạm địa phương gặp khó khăn do thiếu đội ngũ giảng viên và thiếu kinh phí triển khai.

    Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ GD và ĐT, tất cả học sinh THCS trên cả nước đều phải học môn ngoại ngữ, cho nên ở bậc tiểu học, các trường phải hướng các em học ngoại ngữ để khi học lên bậc THCS mới theo kịp chương trình. Vì vậy Bộ GD và ĐT cần chỉnh lý, biên soạn giáo trình tiếng DTTS Ba Na, Gia Rai một cách ngắn gọn, phù hợp hơn với cách nói, cách viết, cách dùng từ của người dân địa phương, đồng thời sớm hoàn thành biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng dân tộc Xê Đăng đưa vào giảng dạy để học sinh người DTTS có thể vừa lựa chọn học tiếng dân tộc mình vừa học ngoại ngữ theo chương trình chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kontum: Đưa Chương Trình Tiếng Ba Na, Gia Rai Vào Dạy Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Dạy Tiếng Ba Lan Tại Hà Nội
  • Học Tiếng Ba Lan Ở Đâu Tại Tphcm?
  • Trung Tâm Học Tiếng Ba Lan Tại Tphcm
  • Trường Dạy Tiếng Việt Ở Ba Lan
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Dạy Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tọc Day Tang Cuong Tieng Viet Cho Hoc Sinh Dan Toc Doc
  • Đề cập đến học sinh DTTS, tại một hội thảo cấp tỉnh bàn về việc xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu trong vùng DTTS tổ chức năm 2022, một thầy giáo người DTTS (đã nghỉ hưu) đề xuất lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng nên nghiên cứu đưa việc dạy chữ DTTS vào chương trình giáo dục dành cho các trường học vùng DTTS của tỉnh. Thầy giáo này lý giải, hiện nay trẻ em các DTTS bản địa (Mạ, Kơ Ho, Churu) không viết được chữ viết của dân tộc mình, chỉ nói thạo tiếng dân tộc (nhờ bắt chước người thân trong gia đình và cộng đồng) và “mù” tiếng Việt!

    Tình trạng học sinh DTTS tại hầu hết các trường mầm non (thậm chí tiểu học) ở Lâm Đồng chỉ biết nói “độc” tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt đa số ngọng nghịu, phát âm không chuẩn. Đây là thực trạng hết sức khó khăn khi trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, chuẩn bị bước vào lớp 1. Không giao tiếp được bằng tiếng Việt, cộng với tính cách thụ động, khả năng tiếp thu chậm… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của chính học sinh DTTS và chất lượng giáo dục chung của các trường. Để khắc phục thực trạng này, đồng thời thực hiện Quyết định số 1008 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2022 đến nay, UBND tỉnh Lâm Đồng đã triển khai Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh. Cụ thể hóa đề án trên, 3 năm qua, Sở GD-ĐT tỉnh đã tích cực triển khai “Chương trình tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người DTTS vừa hoàn thành chương trình giáo dục mầm non chuẩn bị vào lớp 1” tại tất cả các trường tiểu học có học sinh DTTS trong toàn tỉnh. Ông Nguyễn Duy Hải (Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học, Sở GD-ĐT tỉnh Lâm Đồng) cho biết việc dạy tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi nhằm kịp thời trang bị cho các em vốn tiếng Việt cơ bản, tối thiểu nhất để các em có khả năng sử dụng tiếng Việt (nghe – hiểu, nói) trong học tập và giao tiếp với thầy cô, bạn bè; giúp trẻ mạnh dạn hòa nhập trong môi trường giáo dục, hình thành một số kỹ năng để thích ứng và theo kịp yêu cầu trong công tác GD-ĐT chung của tỉnh. Theo đó, các em theo học lớp tiếng Việt trong hè hoàn toàn miễn phí. Nội dung là tài liệu “Em nói tiếng Việt” dành cho học sinh lớp 1 vùng DTTS do Bộ GD-ĐT hướng dẫn. Tất cả giáo viên tham gia chương trình này đều được tập huấn về nội dung, phương pháp tổ chức dạy học và được thanh toán theo chế độ làm thêm giờ.

    Ngoài sự quan tâm của ngành giáo dục, trong chiến dịch Tình nguyện hè năm nay, 20 sinh viên Trường CĐ Sư phạm Đà Lạt đã về công tác (một tháng) tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng. Tại đây, các sinh viên Khoa Sư phạm tiểu học phối hợp với giáo viên Trường Tiểu học Đăng Srõn dạy các em học sinh DTTS của trường kỹ năng đọc, viết tiếng Việt. Cô Võ Thị Hồng (Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đăng Srõn) cho biết năm học 2022-2019, toàn trường có 80 học sinh TDTS lớp 1 lên lớp 2. Do số lượng học sinh quá đông nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên gặp nhiều khó khăn do khả năng phát âm, đọc, viết tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế. Nhờ có sinh viên tình nguyện giúp, chất lượng học tập của học sinh cải thiện rõ rệt. Phạm Thị Hồng Vân (sinh viên năm 3 Khoa Sư phạm tiểu học) chia sẻ: “Đa phần học sinh DTTS ngoan và biết nghe lời; những ngày đầu còn thụ động, nhưng sau 2 tuần học tập các em tỏ ra thích thú và tiến bộ. Được trực tiếp dạy các em biết đọc, biết viết, nói được tiếng Việt, chúng em rất vui và cảm thấy việc làm của mình có ý nghĩa”.

    Trao đổi về chủ trương tăng cường tiếng Việt trong hè cho học sinh DTTS, ông Nguyễn Duy Hải cho biết đến nay các địa phương trong tỉnh đã triển khai chương trình đến tất cả các trường tiểu học. Hè năm nay, toàn tỉnh có 6.639/7.317 học sinh DTTS tham gia chương trình (đạt 90%); có 133 trường triển khai với 269 lớp…

    Có thể khẳng định việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS là mục tiêu, sự quyết tâm của địa phương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập giáo dục của tỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc
  • Những năm qua, Sở GD&ĐT luôn chú trọng tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non là người dân tộc thiểu số. Thông qua nhiều hoạt động thiết thực, học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số hứng thú hơn khi tới trường, đồng thời, việc giao tiếp của các em cũng tự tin, dễ dàng hơn.

    Tiết học tiếng Việt của học sinh lớp 5, Trường TH&THCS Đại Dực, xã Đại Dực, huyện Tiên Yên.

    Tại huyện Tiên Yên, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non được thực hiện rất tích cực. Phòng GD&ĐT huyện đã chỉ đạo cho các trường tiểu học, mầm non trên địa bàn tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi tự tạo, tận dụng các nguyên vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền phù hợp với địa phương làm học liệu, phương tiện dạy học. Đồng thời chỉ đạo xây dựng môi trường tiếng Việt phong phú, hấp dẫn học sinh tham gia học tập, đặc biệt phát huy hiệu quả góc sách, truyện.

    Ông Nguyễn Văn Ty, Trưởng Phòng GD&ĐT huyện Tiên Yên, cho biết: “Phòng GD&ĐT huyện còn quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dạy học sinh vùng dân tộc thiểu số về các phương pháp, kỹ thuật dạy lớp có học sinh, trẻ mầm non dân tộc thiểu số. Từ đó, các thầy, cô phải xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình phù hợp với đối tượng trẻ. Mặt khác, Phòng còn động viên khuyến khích giáo viên học tiếng dân tộc của học sinh, trẻ mầm non.

    Cụ thể, đối với cấp học mầm non, huyện Tiên Yên đã xây dựng, tổ chức thực hiện chuyên đề “Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số”, xây dựng các tiết mẫu, trao đổi, chia sẻ về phương pháp tăng cường tiếng Việt, triển khai Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”. Đối với cấp tiểu học, với sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT huyện, 100% trường đã thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số đảm bảo đạt chuẩn năng lực tiếng Việt của mỗi lớp, như: Giãn thời lượng trong môn Tiếng Việt lớp 1; tổ chức trò chơi học tập, hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, làm truyện tranh, cây từ vựng; sử dụng hiệu quả phương tiện hỗ trợ kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, thư viện thân thiện; tổ chức ngày hội văn hoá đọc, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em dành cho học sinh dân tộc thiểu số”…

    Học sinh Trường TH&THCS Hà Lâu tập thể dục giữa giờ.

    Không riêng huyện Tiên Yên, qua tìm hiểu chúng tôi được biết, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số còn được thực hiện ở nhiều địa phương, như: Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hoành Bồ, Hải Hà… Các địa phương này đã đẩy mạnh xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số theo các tiêu chí, trong đó quan tâm xây dựng thư viện thân thiện, phù hợp để khuyến khích các bậc cha mẹ cùng đọc sách với trẻ tại trường, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho trẻ. Cùng với đó, nhiều địa phương cũng chú trọng đến công tác xã hội hóa để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số; quan tâm phát triển mô hình nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ làm cầu nối ngôn ngữ cho trẻ tại các điểm trường vùng khó khăn, hẻo lánh.

    Mặt khác, một số địa phương còn tích cực triển khai thực hiện chuyên đề: Tăng cường nghe, nói tiếng Việt cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non có đông trẻ em người dân tộc thiểu số. Không chỉ vậy, nhiều địa phương còn quan tâm đến việc bố trí giáo viên là người dân tộc thiểu số tại địa phương, giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục vùng dân tộc thiểu số…

    Theo đồng chí Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD&ĐT, hiện nay, nhận thức của cộng đồng và phụ huynh về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số đã được nâng lên đáng kể. Với trẻ mầm non, cơ bản các em đều có khả năng nắm bắt ngôn ngữ tiếng Việt, thường xuyên giao tiếp bằng tiếng Việt, mạnh dạn, tự tin, có kiến thức cơ bản để bước vào lớp 1. Đối với bậc tiểu học, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh từ lớp 2 đến lớp 5 có nhiều tiến bộ hơn, đa số các em có khả năng nghe, nói tốt, đáp ứng giao tiếp trong sinh hoạt và yêu cầu học tập.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Vận Động Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Biết Tiếng Để Cùng Nói, Cùng Làm Với Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
  • Chàng Trai Đồng Bào Dân Tộc Thái Nghệ An Lọt Vào Chung Kết Sao Mai 2022
  • Nét Đặc Sắc Trong Trang Phục Dân Tộc Dao Đỏ
  • Phụ Nữ Dao Đỏ Gìn Giữ Trang Phục Truyền Thống
  • Đề Tài Vài Kinh Nghiệm Dạy Vật Lí Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Sáng 18/10, tại Hà Nội, Hội đồng Tư vấn về dân tộc – UBTƯ MTTQ Việt Nam tổ chức Hội nghị “Tọa đàm thực trạng và giải pháp về việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số”. Bà Hà Thị Khiết, nguyên Bí thư Trung ương đảng, nguyên Trưởng ban Dân vận, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn dân tộc – UBTƯ MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị.

    Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, chữ viết. Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng sinh sống ở nước ta được chia theo 8 nhóm ngôn ngữ gồm: Việt – Mường, Môn – Khmer, Mông – Dao, Nam Đảo, Hán – Hoa, Tạng Miến và nhóm Kadai.

    Tuy nhiên, theo bà Hà Thị Khiết, qua công tác khảo sát ở các địa phương cho thấy, công tác triển khai thực hiện việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn và bất cập, nhất là trong việc thực hiện Nghị định 82 của Chính phủ.

    Qua khảo sát cho thấy, đồng bào các dân tộc có nguyện vọng học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, vì thực tế hiện nay, phần lớn đồng bào chỉ biết tiếng nói nhưng mù chữ viết và một bộ phận không biết cả tiếng và chữ viết. Vấn đề đặt ra là: Nguyện vọng học tiếng nói, chữ viết có được đáp ứng không? Làm thế nào để đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu đó? Nội dung chương trình học ra sao, khi học xong họ tiếp thu được những gì, việc sử dụng tiếng nói, chữ viết của họ trên thực tế sẽ như thế nào, thậm chí họ sẽ được học loại chữ nào.

    Đối với đồng bào có nhiều loại chữ viết, ví dụ: Dân tộc Mông có 2 loại chữ và đồng bào có nguyện vọng, nhu cầu học chữ Mông Quốc tế, nên dạy loại chữ nào cũng là bài toán chưa có lời giải với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tỉnh nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số…

    Do vậy, diễn đàn này mong nhận được những giải pháp hay nhằm gỡ khó cho việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số đang rất ngổn ngang.

    Việc dạy học được triển khai tại 20 tỉnh và thành phố. Quy mô trường lớp triển khai gồm 740 trường, 4.789 lớp, 110.862 học sinh được học tiếng dân tộc.

    Liên tục các năm sau đó, việc dạy học tiếng dân tộc được mở rộng về quy mô. Tính đến năm học 2022-2017, quy mô trường lớp tăng với 782 trường, 5.515 lớp, 121.020 học sinh được học tiếng dân tộc.

    Bên cạnh đó, những bất cập, hạn chế về việc dạy học tiếng dân tộc, theo ông Thủy, hiện nay chúng ta mới có khoảng 1.500 giáo viên dân tộc và mới chỉ đáp ứng nhu cầu học tiếng dân tộc của 5% số lượng học sinh dân tộc thiểu số. Muốn tăng tỷ lệ học tiếng dân tộc của học sinh thì cần phải đào tạo hàng chục ngàn giáo viên dạy tiếng dân tộc.

    Bên cạnh đó, một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến việc dạy và học tiếng dân tộc. Ngành giáo dục địa phương chưa tham mưu để đảm bảo quyền lợi học tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc thiểu số dù nhu cầu là rất lớn.

    Ở một góc nhìn khác, chúng tôi Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ, Viện Hàn lâm KH-XH Việt Nam nhấn mạnh, đặt một bộ chữ viết chung chắc chắn sẽ hết sức cồng kềnh và tốn công sức.

    Cần lưu ý, xây dựng chữ viết không chỉ là vấn đề của khoa học ngôn ngữ mà nó còn là vấn đề chịu sự chi phối lớn của tâm lý dân tộc. Có chữ viết nhưng không dân tộc nào có chữ viết riêng, liệu điều này có được các dân tộc chấp nhận hay không? Đây cũng là vấn đề đặt ra cho ý tưởng các dân tộc ít người có thể sử dụng chữ viết của các dân tộc lớn hơn trong vùng…

    Quang cảnh Hội nghị.

    Theo TS Hoành, trong bối cảnh hiện nay, khi mà sự hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội ở nước ta thì cũng như nhiều quốc gia khác, việc bảo vệ sự đa dạng văn hóa, đa dạng ngôn ngữ đang trở thành vấn đề cấp bách. Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc. Mất ngôn ngữ thì sự tồn tại của dân tộc cũng không còn. Bảo tồn, duy trì và phát huy vai trò, bản sắc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thực sự đang đặt ra cho chúng ta trách nhiệm nặng nề. Thực hiện tốt việc xây dựng chữ viết cho các ngôn ngữ có nguy cơ mai một, tiêu vong cũng như các dân tộc đang có nhu cầu sẽ là một công việc hết sức có ý nghĩa để chia sẻ trách nhiệm đặt ra.

    Kiến nghị về việc tăng cường dạy và học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số, bà Hà Thị Khiết cho rằng: Cần tăng cường công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, và các tổ chức đoàn thể trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhân thức của toàn thể xã hội về công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số.

    Đổi mới, nâng cao nhận thức về phát triển giáo dục dân tộc cho cán bộ và người dân, đồng thời thấy rõ mục đích của việc dạy và học tiếng, chữ viết là nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa chứ không phải chỉ để biết. Đồng thời, đa đạng hóa các loại hình dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc tại từng gia đình, từng thôn bản, thông qua đội ngũ già làng, trưởng bản, thày mo, thày cúng, người biết viết chữ dân tộc, tránh tình trạng “cứng nhắc, hành chính hóa” trong tuyển chọn đội ngũ giáo viên.

    Bà Hà Thị Khiết đặc biệt nhấn mạnh, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức đoàn thể các cấp cần vận động các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu rõ ích lợi và tầm quan trọng của chủ trương dạy chữ dân tộc trong trường phổ thông, để từ đó vận động học sinh tích cực tham gia học chữ viết, tiếng nói của dân tộc mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Cơ Tu Để Phục Vụ Đồng Bào
  • Khi Cán Bộ Học Tiếng Cơ Tu
  • Học Tiếng Cơ Tu Để Gần Trò Hơn
  • 100 Từ Vựng Về Các Loài Động Vật Trong Tiếng Anh
  • Học Tiếng Anh Theo Chủ Đề Con Vật
  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Những năm gần đây, các tỉnh Tây Nguyên đã tuyên truyền, vận động các bậc phụ huynh là người dân tộc thiểu số cho con em mình tự nguyện tham gia học tiếng dân tộc thiểu số do các trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tổ chức.

    Các tỉnh Tây Nguyên cũng đã sử dụng các bộ sách giáo khoa tiếng Êđê, Jrai, Bahnar, K’ho… bậc tiểu học từ lớp 3, 4 và lớp 5 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Riêng việc dạy tiếng dân tộc thiểu số tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được thực hiện ở các lớp 6, 7 và 8 theo chương trình, tài liệu của địa phương.

    Các tỉnh Tây Nguyên cũng tổ chức dạy 2 tiết/tuần, bố trí phòng học học, giáo viên, mua sắm đồ dùng dạy học, hỗ trợ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập và vở viết cho học sinh dân tộc phục vụ tốt yêu cầu dạy và học cho các cháu.

    Từ đầu năm học 2022-2019 đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã cấp sách giáo khoa mới tiếng Êđê miễn phí cho 13.170 học sinh dân tộc Êđê thuộc 3 khối lớp 3,4, 5 và 133 giáo viên dạy tiếng dân tộc Êđê ở 106 trường tiểu học trên địa bàn.

    Các tỉnh Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng cũng đã trích ngân sách địa phương hàng trăm tỷ đồng để in sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc thiểu số tại chỗ, sách bài tập, mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ tốt yêu cầu dạy và học.

    Hầu hết, các giáo viên dạy tiếng dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên cũng đã được đào tạo nghiệp vụ sư phạm tại các trường Đại học, Cao đẳng và đã được học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo về chuyên ngành dạy tiếng dân tộc nên góp phần nâng cao chất lượng dạy học bằng tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh
  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu
  • Dạy Tiếng Việt Cho Tây
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1
  • Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số
  • Giáo Viên Cần Linh Động Khi Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Dân Tộc Thiểu Số
  • Gia Sư Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Tuyển Giáo Viên Tiếng Anh Online Làm Việc Từ Xa
  • Tiêu Chí Lựa Chọn Trung Tâm Dạy Tiếng Việt Online Cho Người Nước Ngoài
  • Do vậy, nhà trường đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là vấn đề đọc, nói bằng tiếng Việt. Học sinh được chia thành nhóm nhỏ để rèn kỹ năng đọc, viết, tham gia các hoạt động học nhóm, phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, các tiết đọc thư viện, hoạt động ngoại khóa… Nhờ vậy, tỷ lệ học sinh được tăng cường tiếng Việt ra lớp đúng độ tuổi đạt 100%; các em từng bước tự tin, hòa nhập với tập thể.

    Hơn một nửa học sinh tại Trường Mầm non Ninh Tây, xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa con em đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Ê đê và Raglai. Việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ luôn là rào cản trong việc truyền thụ, tiếp thu kiến thức trong các hoạt động giáo dục của nhà trường.

    Từ năm học 2022-2017, Trường Mầm non Ninh Tây đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như: tập huấn phương pháp dạy tiếng Việt cho giáo viên, thiết kế môi trường cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với tiếng Việt thông qua đồ dùng, đồ chơi, góc thư viện, hoạt động trải nghiệm thực tế…

    Cô Nguyễn Thị Mỹ Huyền, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Ninh Tây chia sẻ: Nhờ được tăng cường tiếng Việt nên qua các năm học, trẻ đã mạnh dạn, tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn.

    Huyện miền núi Khánh Vĩnh có 17 trường mầm non với hơn 68% trẻ là người dân tộc thiểu số và 16 trường tiểu học với hơn 81% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh, từ năm 2022 đến nay huyện có 344 cán bộ, giáo viên người Kinh được bồi dưỡng tiếng Raglai để nâng cao kỹ năng, phương pháp giảng dạy.

    Ông Đỗ Hữu Quỳnh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa cho biết, qua 5 năm thực hiện đề án, các cấp ủy, chính quyền địa phương, ban, ngành, đoàn thể và cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ trẻ đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức về sự cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Các trường trong dự án coi đây là một trong những giải pháp để duy trì kết quả phổ cập giáo dục tại các địa phương. Thuận lợi về môi trường giao tiếp nên vốn tiếng Việt của học sinh phong phú và nhuần nhuyễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn trong việc triển khai đề án như: học sinh nhút nhát, môi trường rèn luyện tiếng Việt còn hạn chế. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên các em phải theo cha mẹ lên rẫy. Mặt khác, giáo viên đa số là người Kinh nên gặp khó khăn khi giao tiếp với trẻ và trao đổi với cha mẹ của học sinh.

    Thời gian tới, để thực hiện tốt hơn đề án, Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa chỉ đạo các đơn vị tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động gia đình người dân tộc thiểu số tạo điều kiện cho trẻ đến trường và học 2 buổi/ngày; trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cũng được tăng cường…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Em Kiều Bào: Quan Trọng Là Phương Pháp
  • Dạy Tiếng Việt Cho Người Trung Quốc, Đài Loan
  • Trung Tâm Dạy Tiếng Anh Online Cho Bé Khi Con Ở Nhà Trong Mùa Dịch Covid
  • 15 Website Học Tiếng Anh Online Từ Đầu, Anh Van Online Hiệu Quả Cho Người Mới
  • Học Anh Văn Trực Tuyến 1 Kèm 1 Hiệu Quả Với Giáo Viên Philippines Trường Học Tiếng Anh E
  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC TIẾP

    Định nghĩa

    Phương pháp dạy học trực tiếp còn gọi là phương pháp tự nhiên . Nguyên tắc chính của phương pháp này là: dạy ngôn ngữ thứ hai không thông qua ngôn ngữ mẹ đẻ nhằm rút ngắn được thời gian học tiếng và tránh được những lẫn lộn ngôn ngữ khi sử dụng.

    Các yêu cầu sư phạm của phương pháp trực tiếp

    Khi dùng phương pháp dạy học trực tiếp, cần phải nắm roc 5 yêu cầu sau đây:

    Dạy từ ngữ thông qua người thật, việc thật, tranh hoặc mẫu minh họa; tránh giải thích từ ngữ mới bằng ngôn ngữ thứ hai. Khi gặp câu, đoạn khó, không được giải thích bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà phải giải thích bằng ngôn ngữ 2.

    ( Từ mới không giải thích bằng ngôn ngữ 2, câu khó không giải thích bằng ngôn ngữ1).

    2.2 . Dạy ngư phap thông qua hệ thống bài tập. Không đưa ra bất kì một qui tắc nào khi giải thích các hiện tượng ngữ pháp; Chỉ khi học sinh thật thành thục ngôn ngữ nói mới thận trọng đưa ra những ghi nhớ đơn giản về hiện tượng ngữ pháp và cách dùng một số từ ngữ đặc biệt.

    2.3. Mở đầu một bài đàm thoại theo phương pháp trực tiếp luôn cần có một mẩu chuyện ngắn hoặc có một cuộc đàm thoại giữa thầy và trò theo lối nói hàng ngày.

    2.4. Dạng luyện tập là hệ thống bài tập luyện theo câu hỏi hoặc tập nghe hiểu những mẫu chuyện ngắn dễ hiểu.Thông thường đó là những mẩu chuyện vui, giai thoại có trong đời thường.

    2.5. Bài học luôn gắn với việc giới thiệu và làm quen với văn hóa. Văn hóa cảu ngôn ngữ hai là mặt được phương pháp dạy học trực tiếp đặc biệt chú trọng vì cho rằng các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cuẩ một cộng đồng, suy cho cùng , chính là sự thể hiện các đặc diểm văn hóa.

    3. Những ưu điêm và hạn chế của phương pháp trực tiếp

    3.1. Những ưu điểm của phương pháp trực tiếp là:

    – Không khí học tập trong lớp luôn vui vẻ và hòn nhiên.

    – Học sinh phản ứng nhanh trong giao tiếp hàng ngày

    – Vốn từ và mẫu ngữ pháp tăng lên nhanh chóng vì ít bị rơi rụng và được thực hành trực tiếp hàng ngày.

    – Là cơ sở chắc chắn để học sinh học ngôn ngữ viết, ngôn ngữ học tập trong các tài liệu một cách nhẹ nhàng, tự tin.

    3.2 Những nhược điểm, hạn chế

    – Môi trường học không phải là chinh smôi trường giao tiếp thực cho học sinh sử dụng ngôn ngữ hai. Nó chỉ mang tính mô hình nên học sinh nắm từ ngưc và cách giao tiếp không thể chuẩn xác.

    – Ngôn ngữ 2 học theo phương pháp trực tiếp là khẩu ngữ, dùng trong giao tiếp hàng ngày. Dạng ngôn ngữ này có phần khác với ngôn ngữ viết. Chẳng hạn trong khẩu ngữ, câu thươgnf tỉnh lược, từ ngữ ít chính xác và thiên về cảm xúc. Do vậy, nếu không có biện pháp kịp thời, học sinh sẽ gặp khó khăn ở những lớp cao, nơi thường phảo tiếp xúc với phong cách ngôn ngữ viết.

    4 Sử dụng phương pháp trực tiếp trong dạy học các môn ở Tiểu học

    Trong dạy học ngôn ngữ 2, không phải tất cả các môn và các phan môn đều thích hợp với phương pháp dạy học trực tiếp. Việc quyết định sử dụng phương pháp dạy học trực tiếp cho việc dạy học một môn hay phân môn nào còn tùy thuộc vào trình độ tiếng Việt của học sinh và mưc độ trừu tượng của môn học.

    Ví dụ ở môn Tiếng Việt, những phân môn như Học vần, Kể chuyện, Tập Làm Văn miệng thì có thể dùng phương pháp trực tiếp, nhưng khi học tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu hay tập làm văn viết thì khó hơn, hoặc chỉ áp dụng được với từng phần trong nội dung bài học. Tương tự, nếu ở các môn như Đạo Đức, Khoa học dễ sử dụng phương pháp trực tiếp thì ở môn Toán, do tính trừu tượng của nó, cũng khó dùng được phương pháp này một cách tuyệt đối, cần phải phối hợp với các phương pháp khác.

    Ngoài ra, trình độ tiếng Việt của học sinh quyết định khá lớn đến khả năng có dùng phương pháp trực tiếp hay không. Nếu vốn từ của các em còn quá hạn chế thì việc dùng phương pháp trực tiếp sẽ không đem lại kết quả như mong muốn, bởi vì bài học sẽ luôn luôn bị ngắt quãng ra để bổ túc hoặc luyện từ mới, mẫu câu mới trong bài ; Như vậy, yêu cầu về tiêngd đã choán hết thời gian truyền thụ kiến thức nên phương pháp trực tiếp sẽ không mang lại kết quả như mong đợi.

    PHƯƠNG PHÁP DẠY NGÔN NGỮ GIAO TIẾP

    1. Định nghĩa

    Phương pháp dạy ngôn ngữ giao tiếp hiện đang được dùng phổ biến, đặc biệt ở Châu Âu. Nguyên tắc chủ yếu của phương pháp này là : Dạy cho người học các phương thức xử lí hoàn cảnh dựa vào giao tiếp. Qua thực hành, người học có được kĩ năng và chủ động trong giao tiếp. Người thầy tốt nhất phải là người sử dụng thành thạo ngôn ngữ 2. Trong quá trình dạy ngôn ngữ 2, người thầy phải có ý thức không can thiệp quá sâu và chi tiết vào thực hành nói năng của học sinh. Người thầy chỉ tư vấn và chỉ can thiệp khi học sinh thật sự gặp khó khăn, có yêu cần được tư vấn.

    Các yêu cầu sư phạm chính của phương pháp

    Phương pháp này khi sử dụng cần tuân thủ 5 nguyên tắc sư phạm sau đây:

    Ngôn ngữ được dùng khi dạy học là ngôn ngữ nói khi giao tiếp.

    Học sinh thực hành giao tiếp không được nói các cụm từ rời rạc mà buộc phải nói ra thành các cụm từ hoặc câu để có dạng lời nói liên tục.

    Khi trao đổi hoặc có nhu cầu giúp đỡ, học sinh chỉ dùng ngôn ngữ 2, không dùng tiếng mẹ đẻ. Luôn hướng tới cách giao tiếp tay đôi, theo cặp : giữa trò và thậy hoặc giữa trò và trò.

    Giáo viên có nhiệm vụ thiết kế :+ Các tình huống giao tiếp ( giao tiếp với bạn bè, giao tiếp trong gia đình; giao tiếp trong đời sống với người bán hàng, người phụ trách thư viện,… ).

    + Các mục đích giao tiếp.

    Khi nhóm học tập gặp khó khăn nào đó trong xử lí tình huống giao tiếp, đại diện nhóm đến trao đổi trực tiếp với giáo viên. Sau đó cả nhóm bàn bạc tìm ra cách khắc phục.Toàn bộ các công đoạn này đều phải dùng ngôn ngữ 2.

    Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy giao tiếp

    4.1 Ưu điểm

    – Không khí học tập trong lớp dễ sôi nổi.

    – Tạo nền tảng quan trọng cho việc học kiến thức thông qua ngôn ngữ 2.

    – Học sinh sớm quen với giao tiếp vì bắt buộc phải dùng cụm từ và câu.

    4.2 Nhược điểm

    – Dạng ngôn ngữ được thực hành là ngôn ngữ nói nên sẽ gây bất lợi cho việc học ngôn ngữ chuẩn mực, thường có trong các bài học kiến thức.

    – người học có năng lực giao tiếp nhưng không có nhiều kiến thức về chính ngôn ngữ đang học vì thời gian chủ yếu dành cho các kĩ năng nói và nghe.

    – Trong một số trường hợp, cần nhiều vật liệu thiết kế các khung cảnh cho thực hành giao tiếp.

    Các yêu cầu của giáo viên :

    Có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ 2 hoặc hiểu biết về ngôn ngữ 2 một cách chắc chắn.

    Ứng xư mềm mỏng và linh hoạt.

    Có khả năng hòa nhập cao.

    Luôn bình tĩnh trước mọi tình huống.

    Sử dụng phương pháp dạy giao tiếp trong các môn học ở Tiểu học

    Phương pháp dạy giao tiếp thích hợp với nhiều phân môn Tiếng Việt và nhiều môn khác so với phương pháp trực tiếp.Chẳng hạn như với môn Tiếng Việt, các phân môn sau đây sử dụng khá tự nhiên phương pháp này:

    -Tập đọc

    – Kể chuyện

    – Tập làm văn miệng

    – Luyện từ vầ câu.

    Đây là những phân môn ít nhiều sử dụng dạng nói của ngôn ngữ 2 trong dạy học. Phương pháp này tỏ ra rất thích hợp với:

    Tiết luyện tập toán

    Đạo đức

    Tự nhiên xã hội

    Mĩ thuật

    Âm nhạc

    Đương nhiên, việc áp dụng thành công phương pháp này vào viêc dạy học còn phụ thuộc khá nhiều vào khả năng thiết kế của giáo viên, năng lực tiếng việt của học sinh và các điều kiện cụ thể về môi trường học tập( đồ dùng, điều kiện sống của gia đình, cộng đồng…)

    SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

    Qua trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ

    Giai đoạn thứ nhất: Trẻ lắng nghe ngôn ngữ nói – Đây là giai đoạn này trẻ bắt đầu chú ý đến âm thanh lời nói.

    Giai đoạn thứ 2: trẻ quan sat sự liên kết giữa âm thanh và lời nói với vật, hành động, màu sắc ,… giai đoạn này trẻ bắt đầu hiểu nghĩa của câu nói.

    Giai đoạn thứ ba: trẻ lắng nghe và nhớ các từ ngữ, các câu nói được lặp lại hàng ngày. Đây là giai đoạn trẻ cố gắng nhập tâm và thu thập vốn từ.

    Giai đoạn thứ tư: Trẻ thực hành nói bằng cách mô phỏng theo âm thanh mà chúng nghe thấy- Đây là giai đoạn trẻ nói thụ động/ bắt chước/nói theo.

    Giai đoạn thứ năm: Trẻ chủ động tạo ra âm thanh lời nói, chủ động giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ.

    Như vậy, để học được tiếng mẹ đẻ, trẻ phải trải qua 5 giai đoạn bao gồm: nghe – hiểu- tích lũy vốn từ – bắt chước- nói được.

    Để trẻ có thể nói được một thứ tiếng nào đó, cần dạy trẻ nói theo từng bước thích hợp với lứa tuổi vàphải đặt trẻ trong môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ đó thường xuyên, liê tục.

    Cách học TMĐ của trẻ.

    Học qua quá trình giao tiếp hàng ngày, qua việc thực hành các kĩ năng nghe – nói- đọc- viết.

    Học thông qua các trò chơi phát triển ngôn ngữ;

    Học thông qua các hoạt động trong gia đình, ngoài xã hội

    Học thông qua các môn học trong nhà trường.

    Sử dụng kiến thức -kĩ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ để dạy học tiếng Việt

    Việc dạy học ngôn ngữ 2 đối với học sinh dân tộc thiểu số cần dựa trên ki

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Ngôn Ngữ Học Đại Cương Tiếng Dân Tộc Thái
  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Thiểu Số:

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • Giáo Án Phụ Đạo Tiếng Anh 6 ( Hot )
  • Người “truyền Lửa” Từ Lớp Phụ Đạo Tiếng Anh
  • Ke Hoach Day Phu Dao Tieng Anh 8 Ky I, Ii
  • hả năng sử dụng tiếng Việt là yếu tố quyết định đến chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh tiểu học, do chương trình phổ thông áp dụng cho toàn quốc, không phân biệt vùng, miền. Hai năm qua, dù ngànhGiáo dục có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được vẫn chưa như mong muốn. Nhiều nỗ lực

    Trong ba bậc học phổ thông, việc dạy tiếng Việt cho học sinh ở bậc tiểu học rất quan trọng, vì đây là bậc học đầu tiên. Một học sinh dân tộc thiểu số vào lớp 1 phải có ngay khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thì mới có thể giao tiếp, hiểu lời thầy cô giảng bài, làm bài tập… Thực tế, trước khi đến trường, các em học sinh dân tộc thiểu số giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ và không biết viết; khi vào lớp 1 phải biết tiếng Việt, chí ít là nói được để giao tiếp và phải viết được tiếng Việt.

    Học sinh dân tộc thiểu số đang cần nhiều sự hỗ trợ để nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt.

    – Trong ảnh: Một lớp học tại xã Đăk Mang, huyện Hoài Ân. Ảnh: H.L

    Bà Hồ Thị Phi Yến, Trưởng Phòng Tiểu học – Mầm non (Sở GD-ĐT), cho biết: “Từ năm học 2010-2011, Sở đã chỉ đạo các Phòng GD-ĐT trong tỉnh tổ chức nhiều hình thức tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như: tổ chức dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 trước khi bước vào năm học mới, lồng ghép việc dạy tăng cường tiếng Việt vào các môn học, các hoạt động giáo dục và tổ chức các trò chơi học tập để tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh, tăng thời lượng môn Tiếng Việt lớp 1 từ 350 tiết/năm thành 500 tiết/năm cho học sinh lớp 1 tại các trường tiểu học học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Các trường chưa có điều kiện tổ chức dạy 2 buổi/ngày thì thực hiện phương án dạy phụ đạo cùng với học sinh yếu vào buổi thứ hai trong ngày và các ngày thứ bảy, chủ nhật (3 tiết/tuần)”.Bậc tiểu học còn phối hợp với bậc học mầm non trong huy động trẻ 4, 5 tuổi ra lớp. Tất cả trẻ 5 tuổi đều qua chương trình Giáo dục mầm non mới, các huyện nằm trong Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) sử dụng tài liệu Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường, nên số trẻ vào học lớp 1 đều học qua chương trình mẫu giáo 5 tuổi và được làm quen với môi trường giao tiếp tiếng Việt…. Những nỗ lực ấy được đền đáp bằng một số kết quả đáng phấn khởi. Bà Phạm Thị Bộ, Phó Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Vân Canh, cho biết: “Năm 2009-2010, sau khi tham dự Dự án PEDC, Phòng đề xuất với huyện thực hiện ngay việc tăng cường tiếng Việt trong trường học. Kết quả ba năm học qua, tỉ lệ học sinh yếu, kém giảm hẳn, số em khá giỏi tăng dần đều. Đặc biệt, khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt của các em, kể cả học sinh lớp 1 cũng được cải thiện nhiều”. Một minh chứng thuyết phục khác là tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số cấp tỉnh năm 2012, những thứ hạng cao của phần thi Viết chữ đẹp và Kỹ năng – Kiến thức tiếng Việt đều thuộc về học sinh huyện Vân Canh.

    Những chương trình gặp gỡ, giao lưu tiếng Việt cần được nhân rộng dưới nhiều hình thức hấp dẫn. – Trong ảnh: Trao thưởng cho học sinh đoạt giải tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cấp tỉnh.

    Chưa thể yên tâm Dù có bước tiến ở một số địa phương, nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều học sinh tiểu học dân tộc thiểu số vất vả “đánh vật” với tiếng Việt. Chuyên viên phòng GD-ĐT một huyện miền núi nhiều năm theo dõi mảng giáo dục miền núi cho rằng, việc xóa rào cản ngôn ngữ còn nhiều trở ngại. Trước hết là nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số của một số chính quyền địa phương, thể hiện ở việc chần chừ áp dụng tăng thời gian dạy tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết, bởi việc này đụng đến “kinh phí”. Tiếp đến là nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Khá đông ông bố bà mẹ trẻ biết nói tiếng Việt, nhưng vẫn giữ thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ ở nhà, xem nhẹ việc hỗ trợ nhà trường, giúp con học tiếng Việt. Vậy là ở trường, các em giao tiếp bằng tiếng Việt, nhưng khi về nhà lại nói tiếng mẹ đẻ, nên rất khó tiến bộ. Phần lớn giáo viên giảng dạy tại các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số là người Kinh, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên gặp khó khăn khi giao tiếp với học sinh. Một số người giảng dạy lâu năm hoặc đã tham gia học các lớp dạy tiếng dân tộc thiểu số do các huyện tổ chức nhưng cũng chỉ có thể nói vài câu thông thường. Có một điều gây băn khoăn là hàng năm, tỉnh đều cử hàng chục con em đồng bào dân tộc thiểu số đi học cử tuyển, nhưng số giáo viên là người dân tộc thiểu số lại rất ít, thậm chí có trường không có người nào. Thiết nghĩ, ở bậc mầm non và tiểu học, giáo viên giảng dạy là người dân tộc thiểu số, hiểu tiếng, hiểu bản sắc, sâu sát tâm tư, tình cảm của học sinh thì kết quả học tập nhất định sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Bà Hồ Thị Phi Yến cho biết: “Thời gian tới, Sở sẽ tiếp tục có những văn bản chỉ đạo để thúc đẩy phong trào học tập tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhất là những vùng cao, vùng sâu bằng những hoạt động phong phú, đa dạng theo kiểu “học mà chơi, chơi mà học” để các em thích thú và thoải mái tham gia. Ngoài ra, sẽ vận động phụ huynh đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện và tiếp sức để con em mình đến gần với tiếng Việt hơn”. Rõ ràng, ở góc độ chuyên môn, ngànhGiáo dục đang cố gắng tạo chuyển biến song chừng ấy vẫn chưa thể yên tâm khi chính quyền địa phương và phụ huynh còn bàng quang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khó Khăn Trong Việc Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Cô Giáo Vùng Cao Miệt Mài Truyền Tiếng Nói, Chữ Viết Dân Tộc Thái
  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Cơ Thể Người
  • Học Từ Vựng Tiếng Hàn Cơ Bản Qua Tên Các Bộ Phim Nổi Tiếng Của Hàn Quốc
  • Cách Học Từ Vựng Tiếng Hàn Hiệu Quả Giúp Bạn Nhớ Lâu
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100