Top #10 ❤️ Dạy Tiếng Campuchia Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Lienminhchienthan.com

Ký Ức Dạy Tiếng Việt Trên Đất Campuchia

Những Câu Giao Tiếp Tiếng Khmer Đơn Giản Và Hữu Ích Khi Đi Du Lịch Campuchia

Trung Tâm Dạy Tiếng Campuchia Ở Bình Dương

Tăng Cường Dạy Tiếng Chăm Trong Trường Học Ở Bình Thuận

18 Năm Dạy Tiếng Chăm Không Lương

Trao Đổi: Để Nâng Cao Hơn Nữa Chất Lượng Công Tác Dạy Học Tiếng Chăm

Dạy tiếng Việt tạo nền tảng ngôn ngữ cho các SV Campuchia tiếp thu những môn khoa học kỹ thuật của giảng viên Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ.

Lúc ấy, lực lượng cán bộ sang Campuchia dạy tiếng Việt phần lớn là giảng viên (GV) đến từ các trường: ĐH Tổng hợp Hà Nội, ĐH Tổng hợp TPHCM (nay là Trường ĐH KHXH&NV), ĐH Sư phạm Hà Nội… Một số GV ngày đó mới tốt nghiệp ĐH được giữ lại trường để hình thành tổ tiếng Việt trong khoa Ngữ văn, đã hăng hái nhận nhiệm vụ sang giúp nước bạn.

Cô Minh Hằng (phải) chia tay các SV trước ngày về nước. Ảnh: NVCC

Ký ức khó phai

Đã hơn 30 năm kể từ chuyến xuất ngoại đầu tiên sang Campuchia giảng dạy tiếng Việt, nhưng hình ảnh về con người, đất nước chùa Tháp vẫn còn in đậm trong tâm trí TS Lê Thị Minh Hằng – GV tiếng Việt, Khoa Việt Nam học thuộc Trường ĐH KHXH&NV TPHCM.

Ngày ấy, cô Hằng vừa mới ra trường được vài năm, đang làm công việc giảng dạy tiếng Việt tại Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Tổng hợp TPHCM. Theo lời cô, việc cử giáo viên sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế của Trường ĐH Tổng hợp TPHCM bắt đầu từ năm 1986. Theo lịch trình, cô được phân công đi chuyến đầu tiên. Nhưng do có bầu nên phải sau khi sinh em bé được 14 tháng, cô mới gửi con cho gia đình và lên đường sang nước bạn làm nhiệm vụ.

“Tôi và 3 thầy cô của khoa (thầy Huỳnh Chương Hưng, Trần Ngọc Hồng, cô Huỳnh Thị Thanh Xuân) đi chuyến thứ hai, tức là năm học 1988 – 1989, thay cho các thầy cô khác của khoa đi chuyến thứ nhất vừa hoàn thành nhiệm vụ trở về. Lúc đó, nhiệm vụ được giao của chúng tôi là giúp đỡ nhân dân Campuchia xây dựng lại đất nước sau thời kỳ đen tối dưới chế độ Khmer Đỏ, về lĩnh vực giáo dục”.

Lúc bấy giờ, phương tiện đi lại còn hạn chế nên phần lớn các GV sang dạy tiếng Việt ở Campuchia di chuyển bằng đường bộ. “Chúng tôi đến Campuchia bằng chuyến xe khởi hành lúc 7 giờ sáng mà mãi đến 5 giờ chiều mới đến nơi vì thủ tục kiểm tra tại cửa khẩu Mộc Bài khá phức tạp, nhất là khâu kiểm tra hành lý, hàng hóa trên xe. Cuối cùng chúng tôi cũng được đưa đến trường để gặp gỡ các vị trong Ban giám hiệu và bắt đầu nhận công việc mới” – cô Hằng nhớ lại.

Sau khi tới trường nhận nhiệm vụ, cô Hằng và các đồng nghiệp được bố trí ở trong khu nhà của chuyên gia Việt Nam (gần đó là khu chuyên gia Liên Xô) cùng với các thầy cô giáo của các trường: ĐH Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội. “Một vài thầy cô công tác ở đây đến 5 năm, nói tiếng Campuchia rất giỏi. Lúc đầu thì có bếp ăn tập thể do một cô gái người Campuchia nấu, sau thì mọi người nấu ăn riêng cho hợp khẩu vị…” – cô Hằng kể.

Ngôi trường mà cô Hằng và các đồng nghiệp tham gia giảng dạy là Trường ĐH Tổng hợp Phnompenh có diện tích khá rộng, nằm cách trung tâm Phnompenh khoảng 10 km. “Trong khuôn viên trường có một hồ sen rất lớn. Hồ sen này đẹp đến nỗi khi nhớ về ngôi trường này là tôi nhớ ngay đến nó. Tôi cũng luôn nhớ con đường đến trường, hai bên đường là hai hàng cây hoàng hậu tím ngắt. Khi nhìn thấy chúng, tôi đã thốt lên: Ồ, không ngờ Phnom Penh lại đẹp đến vậy…” – cô Hằng chia sẻ.

chúng tôi Bùi Khánh Thế

Ngày nào cũng mặc áo dài đi dạy

Lần đầu sang nước bạn đi dạy, cô Hằng không hình dung được việc mặc trang phục như thế nào để đứng lớp, nên mang sẵn áo dài từ Việt Nam sang. Ngày nào đi dạy cô cũng mặc áo dài. “Những ngày đầu lên lớp rất bỡ ngỡ, nhưng rồi tất cả cũng vào quy củ. Tôi dạy tiếng Việt, cũng không biết một chữ tiếng Campuchia và không có hỗ trợ phiên dịch nhưng tới lúc kết thúc khóa học thì thấy tiếng Việt của các em có tiến bộ rất nhiều” – cô Hằng cho biết.

Khu nhà cô Hằng và các thầy cô Việt Nam ở, không lúc nào vắng bóng học trò. Các em thường xuyên đến chơi, mang bánh trái, mật ong biếu, hoặc đưa các thầy cô đi tham quan các cảnh đẹp trong thành phố. Có khi các em kể chuyện gia đình, hầu như không gia đình nào trong các em là không có người thân bị giết hại, phải tận tai nghe thì mới hiểu người Campuchia phải chịu khổ như thế nào.

“Tôi đã tận mắt thấy các vết máu của người Campuchia bị tra tấn còn sót lại trong các bức tường của các căn nhà và cũng đã đến thăm nhà tù Toul Sleng, để rồi rùng mình trước tội ác của chế độ Khmer Đỏ. Chúng tôi được lệnh không ra khỏi nhà sau 9 giờ tối. Tuy vất vả nơi đất khách xứ người, nhưng bù lại tôi và các đồng nghiệp được nhà trường đối xử rất trọng thị, được tạo mọi điều kiện trong giảng dạy và sinh hoạt, được đi thăm Angkor Wat, Angkor Thom bằng máy bay, được đưa về nước bằng đường hàng không”, cô Hằng cho biết.

Thời gian nhanh chóng trôi qua, khóa học kết thúc, cô Hằng cùng các đồng nghiệp về nước, mang theo những lưu luyến khi phải rời xa nơi này. “Vào những ngày cuối cùng tôi thấy thật buồn, như là mình đã để lại cả một ‘con tim’. Các em sinh viên tổ chức tiệc lớn, tiệc nhỏ chia tay thầy cô, cùng những điệu múa Khmer truyền thống, có hoa, có quà và có cả… lệ rơi” – cô Hằng tâm sự.

“Đất nước Campuchia thời điểm đó hầu như tan nát không còn gì, bởi tất cả các giá trị tri thức bị chế độ Khmer Đỏ hủy diệt hết. Chúng tôi cùng một số trí thức của chính quyền Campuchia mới thành lập, đi tìm những người có trình độ còn sống sót để đưa về đào tạo gầy dựng lực lượng trí thức nòng cốt, tái thiết lại Trường ĐH Tổng hợp Phnom Penh.

Trong đó, việc dạy tiếng Việt cho SV Campuchia là một nội dung quan trọng, vì khi biết tiếng Việt thì các em mới tiếp cận được các môn KHKT khác của giảng viên Việt Nam. Ngày Trường ĐH Tổng hợp Phnom Penh khánh thành, hoạt động trở lại, tôi là người chấp bút soạn diễn văn bằng tiếng Việt và được một Thứ trưởng của Bộ Giáo dục Campuchia lúc bấy giờ dịch sang tiếng Campuchia”.

GS.TS.NGND Bùi Khánh Thế (nguyên Trưởng đoàn chuyên gia giáo dục Trường ĐH Tổng hợp TPHCM ở Campuchia từ 1986 đến 1989)

Chèo Lái Những Chuyến Đò Ngôn Ngữ

Khó Khăn Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

Kontum: Đưa Chương Trình Tiếng Ba Na, Gia Rai Vào Dạy Cho Học Sinh Tiểu Học

Dạy Tiếng Ba Lan Tại Hà Nội

Học Tiếng Ba Lan Ở Đâu Tại Tphcm?

Trung Tâm Dạy Tiếng Campuchia Ở Bình Dương

Tăng Cường Dạy Tiếng Chăm Trong Trường Học Ở Bình Thuận

18 Năm Dạy Tiếng Chăm Không Lương

Trao Đổi: Để Nâng Cao Hơn Nữa Chất Lượng Công Tác Dạy Học Tiếng Chăm

Thầy Giáo Liệt 18 Năm Dạy Tiếng Chăm Không Lương

Dạy Trẻ Các Con Vật Bằng Tiếng Anh Giúp Trẻ Học Hiệu Quả Hơn

Nhu cầu học tiếng Khmer (Campuchia) hiện nay rất phổ biến tại Bình Dương bởi nơi đây tập trung nhiều khu công nghiệp, có đông người Khmer sinh sống và làm ăn. Trung tâm tiếng Khmer SaiGon Vina – nơi duy nhất tại Bình Dương có giáo viên người Khmer trực tiếp giảng dạy và là trung tâm có số lượng học viên đông nhất, đội ngũ giáo viên chất lượng, không chỉ ở Bình Dương mà còn cả TP. HCM, Đồng Nai. Chi tiết lịch khai giảng khóa học tiếng Campuchia SGV quận Bình Thạnh.

SaiGon Vina có đa dạng chương trình đào tạo tiếng Khmer cho các bạn chọn lựa, mỗi chương trình là mỗi cấp độ và sự thú vị, phục vụ nhiều mục đích học khác nhau.

Học tiếng Khmer không hẳn là những kiến thức về từ vựng, về ngữ âm, ngữ pháp, học mẫu câu, hội thoại mà các bạn còn được thầy cô giáo chia sẻ về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán mang nhiều nét đặc trưng nổi tiếng từ xa xưa của vùng đất này.

Đa số các bạn học tiếng Khmer là để giao tiếp, và đây cũng là khóa học có số lượng lớn học viên đang theo học tại SaiGon Vina. Khóa học tập trung luyện giao tiếp phản xạ, đặc biệt các bạn sẽ được hướng dẫn cụ thể để phát âm chuẩn.

Chương trình được thiết kế chuyên biệt về giao tiếp, chính vì vậy sau khoá học, học viên có thể sử dụng tiếng Khmer thành thạo. Khóa học này có thời lượng 3 tháng (tương đương khoảng 54 giờ), người học được tiếp cận dần dần từ những câu đàm thoại sát với thực tế, đơn giản, dễ hiểu rồi mới đến những cụm từ khó, ngữ pháp phức tạp.

Ngoài ra, khóa học tiếng Khmer văn phòng được nhiều bạn chọn lựa bởi nó dành riêng cho nhân viên văn phòng hoặc người đi dự phỏng vấn xin việc trong công ty, doanh nghiệp sử dụng tiếng Khmer.

Chương trình được biên soạn công phu, tỉ mỉ từ nhiều nguồn tài liệu uy tín khác nhau bởi giáo viên của SaiGon Vina, cùng với sự tham khảo thực tế từ những nhân viên đang làm cho các công ty nói tiếng Khmer.

Để tiện cho việc học cũng như việc truyền tải kiến thức của giáo viên được hiệu quả thì khóa học được chia ra làm nhiều phần, giúp học viên tiếp xúc nhiều hơn những tình huống khác nhau trong môi trường công sở. Luyện phát âm cũng là một điểm mạnh của chương trình này.

Về đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer tại SaiGon Vina: đều trên 28 tuổi, có kinh nghiệm hơn 6 năm giảng dạy cùng với những phương pháp sư phạm mới là điều khác biệt của trung tâm. Năng nổ, nhiệt huyết và yêu nghề là những phẩm chất đáng quý và hội tụ đầy đủ ở mỗi giáo viên của SaiGon Vina. Đặc biệt, các thầy cô đã dày công tìm hiểu, nghiên cứu cũng như đã có một thời gian dài sinh sống, làm việc lâu dài nên hiểu sâu sắc về đất nước Campuchia giúp cho việc truyền đạt kiến thức tiếng Khmer thật chuẩn tới người học.

Trong công tác giảng dạy nhà trường luôn luôn cập nhật những phương pháp giảng dạy và sư phạm mới nhất với mục đích mang đến cho người học sự thoải mái và tiếp thu bài học hiệu quả. Song song với đó thì học theo phương pháp trực quan sinh động, dùng hình ảnh và video sống động, với không gian lớp phù hợp từng bài, nội thất, tiện nghi đầy đủ là những hiệu ứng tác động thiết thực nhất tới nhu cầu học ngoại ngữ của tất cả mọi người.

Trung tâm tiếng Khmer SaiGon Vina tại Bình Dương là cơ sở có trụ sở, văn phòng, lớp học, trang thiết bị, vật chất hiện đại nhất trong hệ thống giáo dục của SaiGon Vina, chắc chắc các bạn sẽ được trải nghiệm những điều tuyệt vời, thú vị nhất khi các bạn tới đây.

Cơ sở 8: 387 Nguyễn An Ninh, KP. Đông Tân, P. Dĩ An, TX. Dĩ An, Bình Dương (ngã ba Cây Điệp)

Cơ sở 13: 96 Nguyễn Văn Tiết, KP. Đông Tư, P. Lái Thiêu, TX. Thuận An, Bình Dương ( ngã tư Đông Tư)

Hoặc gọi theo số hotline 0902 516 288 gặp thầy Tuấn – cô Mai để được biết chi tiết về các khóa học tại Trung tâm dạy tiếng Campuchia SaiGon Vina cơ sở Bình Dương.

Nguồn: https://saigonvina.edu.vn

Những Câu Giao Tiếp Tiếng Khmer Đơn Giản Và Hữu Ích Khi Đi Du Lịch Campuchia

Ký Ức Dạy Tiếng Việt Trên Đất Campuchia

Chèo Lái Những Chuyến Đò Ngôn Ngữ

Khó Khăn Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

Kontum: Đưa Chương Trình Tiếng Ba Na, Gia Rai Vào Dạy Cho Học Sinh Tiểu Học

Phạm Xuân Nguyên: Tôi Dạy Tiếng Việt Cho Bộ Đội Campuchia

Dịch Thuật Tiếng Campuchia Khmer Sang Tiếng Việt Online Số 1

Dạy Tiếng Việt Cho Tây

Phương Pháp Dạy Bé Học Tiếng Anh Con Vật Giúp Bé Học Nhanh Nhớ Lâu

Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

Đó là vào năm 1980. Tôi đang là lính năm thứ ba thuộc Tổng cục Kỹ thuật, làm giáo viên ở Khoa “Văn hóa cơ sở” tại trường Hạ sĩ quan kỹ thuật WilhelmPieck (tiền thân là trường Quân Cụ dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nay là trường Đại học Quân sự Trần Đại Nghĩa) ở Gò Vấp, Sài Gòn. Năm đó, sau khi Campuchia được giải phóng khỏi chế độ Pol Pot (7/1/1979), chính quyền cách mạng nước bạn cử sang trường tôi 40 chiến sĩ để học kỹ thuật.

Anh em trong đơn vị còn trêu tôi: Mỗi sáng nghe bộ đội CPC tập thể dục hô “một hai ba” cứ như là bốn mươi thằng Nguyên vậy. Thì tôi đã nói từ đầu, học ngoại ngữ phát âm là quan trọng mà, giao tôi dạy thì học trò nói giọng Nghệ của tôi là đúng quá rồi!

Ban giám hiệu nhà trường xem lý lịch quân nhân biết tôi là sinh viên văn khoa Đại học Tổng hợp Hà Nội đi lính nên gọi lên giao nhiệm vụ: Dạy tiếng Việt cho bốn chục chiến sĩ Campuchia sao cho sáu tháng sau họ có thể nghe nói, đọc viết được tiếng ta để cùng ngồi học với các bộ đội Việt Nam. Tôi nói: dạy tiếng gồm có dạy phát âm, dạy từ vựng, dạy ngữ pháp, hai phần sau tôi có thể gắng làm được từ những gì đã học thời sinh viên (mặc dù tôi học ngành Văn chứ không phải ngành Ngôn Ngữ), nhưng còn khoản phát âm thì chịu vì tôi nói tiếng Việt giọng Nghệ đến người ta còn khó nghe thì sao mà dạy người nước ngoài nói được. Nhưng trong Quân đội mệnh lệnh là mệnh lệnh, khi cấp trên đã giao nhiệm vụ thì cấp dưới chỉ có việc thi hành. Trước đó công việc của tôi ở Khoa “Văn hóa cơ sở” là dạy toán lý cho bộ đội mình đa phần trình độ văn hóa lớp 7 (hệ 10 năm) để chuẩn bị cho họ vào học chuyên môn kỹ thuật.

Sau khi nhận nhiệm vụ (cùng với Trần Văn Quang, cũng là sinh viên cùng khoa cùng khóa – nhưng sau vài tháng thì Quang thôi), tôi tự nghĩ ra chương trình và giáo án, biên soạn 4 tập sách học tiếng Việt in roneo cho bộ đội Campuchia, và tự mình thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chúng tôi được ở tách riêng ra một bộ phận đóng tại một chung cư với mật danh là T67 trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa vốn trước đây là cư xá của phi công chế độ cũ, tôi không còn nhớ số nhà nhưng nhớ là nó đối diện với trường trung cấp hàng không. Tòa nhà hơn mười tầng, tôi cùng các chiến sĩ bạn và bộ phận hậu cần phục vụ ở chỉ khoảng ba tầng, còn lại là để trống. Sau này có nhiều dịp vô TP HCM đi qua đó tôi thấy tòa nhà ấy đã có lúc được chuyển thành khách sạn Omi, và bây giờ là cái gì đó khác nữa. Với tôi, đó là nơi ghi dấu sáu tháng tôi dạy tiếng Việt cho bộ đội Campuchia.

Tôi dạy thế nào? Dạy theo kiểu kinh nghiệm của người bản ngữ hơn là có phương pháp dạy hẳn hoi. Giúp cho tôi có cô Dung phiên dịch, một Việt kiều ở Campuchia về. Mở đầu tôi giới thiệu cho các học viên CPC biết bảng chữ cái tiếng Việt, rồi nói về cách ghép chữ thành tiếng và tiếng thành từ. Và tôi dạy luôn vào từ. Thí dụ, có buổi lên lớp trời se lạnh, tôi đặt một câu: “Hôm nay trời lạnh” và nhờ cô Dung dịch nghĩa câu đó theo từng từ và nghĩa cả câu. Cần thiết thì Dung sẽ viết cả tiếng Miên vào sau câu tiếng Việt cho học viên hiểu. Học viên học theo và thuộc nghĩa. Những hôm có học viên bị ốm, cô Dung phải đưa đi khám ở viện quân y 175 thì tôi phải dạy vòng qua tiếng Pháp. Tôi nhờ đến những học viên có biết tiếng Pháp trong lớp dịch sang tiếng Miên (một số học viên đã qua trung học ở CPC đều biết tiếng Pháp). Những từ cụ thể thì dễ, ví như từ “cái bàn” tôi viết chữ lên bảng rồi chỉ vào cái bàn, thế là cả lớp hiểu nghĩa và nhớ từ. Đến các khái niệm trừu tượng thì tôi kẻ ba cột trên bảng: một cột ghi tiếng Việt, một cột ghi tiếng Pháp, sau đó gọi một học viên CPC biết tiếng Pháp lên điền vào cột thứ ba bằng tiếng Miên. Thí dụ: từ “tự do” tôi chú tiếng Pháp là “Liberté” và học viên chú tiếng Miên theo. Tiếp đó tôi viết cả câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Việt và tiếng Pháp “Rien de plus précieux que l’indépendance et la liberté” và tiếng Miên được viết tiếp vào. Tất cả các học viên thuộc và hiểu và nhớ từ. Khó nhất là sự đọc. Tiếng Nghệ của tôi nhiều khi nói ra cả cô Dung cũng không nghe rõ. Còn học viên thì rất lúng túng về mặt thanh điệu để ghi dấu vào từ. Một hôm tôi vào lớp viết một câu lên bảng: “Buoi sang nay troi lanh” và đề nghị cả lớp thêm dấu câu cho đúng. Gần như cả lớp đánh dấu câu sai, nhất là ở chữ đầu tiên thay vì dấu hỏi họ cứ cho dấu huyền khiến cô Dung phải quay mặt và tôi thì cũng ngượng ngùng buồn cười.

Phạm Xuân Nguyên (đứng đầu tiên bên phải) cùng các bạn lính sinh viên khi mới nhập ngũ (8/1978)

Ấy vậy mà thầy trò cũng qua được sáu tháng và các học viên quân sự CPC đã nghe được, viết được tiếng Việt. Khi tiếng Việt đã tàm tạm nghe hiểu, họ lại được học cả toán, lý do các giáo viên khác dạy. Kể ra thế cũng liều mà được việc. Họ chỉ thắc mắc khi ra phố về: thầy giáo ơi, sao thầy dạy chúng tôi “quyển vở”, “cây bút”, “phong bì”, nhưng ngoài phố người dân lại nói là “cuốn tập”, “cây viết”, “bao thư”. Những lúc đó tôi lại giảng thêm cho họ biết thế nào là từ phổ thông, từ địa phương. Cũng có lúc họ đặt một câu tình cảm: “Sáng nay trời lạnh tôi tội nghiệp thầy giáo” thì tôi lại phải giảng giải và nhờ qua cô Dung mà nói rằng từ “tội nghiệp” có thể thay bằng từ “thương”. Tôi vui vì cứ mỗi ngày qua các học viên đến phòng tôi đều đã có thể nói chuyện bằng tiếng Việt, từ ít đến nhiều, từ ngắc ngứ đến trôi chảy. Chỉ họa hoằn tôi mới phải nhờ đến cô Dung, và sau này là anh Thạch Văn Sơn, thông dịch.

Hết thời gian học tiếng, 40 học viên CPC được đưa về trường WilhelmPieck phiên chế thành một trung đội riêng và ngày ngày lên lớp học cùng bộ đội VN. Các giáo viên dạy kỹ thuật phần lớn là người Bắc, giọng họ nhẹ và trong. Song có lẽ do đã quen với tiếng tôi nặng và đục suốt nửa năm trời nên gần một tháng đầu học, các chiến sĩ CPC đều phản ánh với Ban giám hiệu nhà trường là “các thầy nói sai hết, chỉ thầy Nguyên nói đúng”. Tôi nghe mà nửa cười nửa mếu. Anh em trong đơn vị còn trêu tôi: Mỗi sáng nghe bộ đội CPC tập thể dục hô “một hai ba” cứ như là bốn mươi thằng Nguyên vậy. Thì tôi đã nói từ đầu, học ngoại ngữ phát âm là quan trọng mà, giao tôi dạy thì học trò nói giọng tôi là đúng quá rồi! Nhưng dần dần họ nghe quen giọng các thầy, lại giao tiếp với các học viên VN trong lớp, và dễ dàng tiếp thu các bài học chuyên môn. Tôi thấy mừng vì mình đã có công đặt những cơ sở ban đầu của tiếng Việt cho họ.

Từ đó đã gần bốn chục năm trôi qua. Tôi tiếc là bốn tập giáo trình dạy tiếng Việt cho bộ đội CPC in roneo mà tôi biên soạn hồi ấy được lưu trong thư viện nhà trường nay cũng không còn. Trong đó các bài khóa (text) phần nhiều tôi đều dịch từ một cuốn sách tiếng Nga dạy cho người làm kỹ thuật mà đến nay tôi cũng không nhớ là làm sao tôi có được trong tay, chắc có lẽ tôi đã cầm theo khi chuyển quân từ Bắc vào.

Sáu tháng dạy tiếng Việt cho bộ đội CPC được tôi ghi nhật ký đều đặn. Xin trích mấy đoạn.

“Lên lớp buổi đầu tiên cho các bạn CPC. Chưa đi vào chương trình chính thức. Mới cùng Dung nói vài lời mở đầu, tự giới thiệu, thì Dung phải theo quân y đưa mấy chiến sĩ bạn đi viện 175. Còn lại mình xoay xỏa với 36 anh em khác. Mình dùng tiếng Pháp tóm lược nội dung chương trình cho bạn biết, vừa nói vừa viết bảng cũng hiểu được, vì khá đông anh em CPC qua trung học đã có biết tiếng Pháp. Hơn nữa tiếng Việt và tiếng Khơme cũng vốn là gần gũi nhau, khi phát âm dễ tiếp thu. Mới ngay một buổi sáng mình đã cho tập phát âm, tập viết, tập ghép vần 9 nguyên âm và 10 phụ âm. Anh em hiểu được, nắm được khá nhanh, chỉ có điều là họ nói thường bỏ mất thanh điệu và do đó khi viết không có các dấu thanh.” (Thứ năm – 16/10/1980)

“Tối trò chuyện với một vài anh em CPC, hiểu hơn về cuộc sống bên trong của họ. Kinko có một người yêu tên là Bunnary, 19 tuổi, làm y tá ở Phnom Penh, viết thư tình bằng tiếng Pháp khá hay. Tes Moni lặng lẽ vẻ ngoài nhưng lại có một nội tâm phong phú. Sống có tâm hồn. Ty Soe Kha vui vẻ, nói cười luôn miệng, thường thích kêu đùa là tiếng Việt khó học nhưng lại rất chăm học; chiều nay trong giờ đặt câu anh chiến sĩ bạn đó đã viết được một câu như thế này – “tối qua thời tiết lạnh buốt làm cho tôi không ngủ được, nhớ nhà”. Lại nhớ mới mấy hôm trước Chuân Pâu viết trong bài kiểm tra về nhà – “Yêu là kẻ thù của học tập”; anh bạn này khá thạo tiếng Pháp, tỏ ý không thích toán, lý, hóa, mà lại thích droit politique (luật chính trị – PXN dịch)”. (Thứ hai – 27/10/1980).

Tôi ra quân tháng 6/1982 và không hề có tin tức, liên lạc gì với các chiến sĩ CPC – học viên tiếng Việt của tôi. Nhiều lần đi du lịch sang đất nước chùa tháp tôi cũng đã có ý định tìm kiếm họ nhưng không có kết quả. Tôi muốn biết số phận họ về sau thế nào – có thể có người trong số họ sẽ giữ những vị trí quan trọng trong quân đội hoàng gia CPC vì đây là lứa cán bộ đầu tiên được cử đi học sau ngày 7/1/1979, và tiếng Việt giọng Nghệ của tôi họ còn lưu giữ không. Giá mà gặp được người nào trong số họ để thầy trò cùng nói tiếng Nghệ giữa thủ đô Phnom Penh thì cũng thú vị.

Phạm Xuân Nguyên

8 Cách Dạy Bé Các Con Vật Cực Thú Vị, Không Bao Giờ Nhàm Chán

Cách Dạy Trẻ Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Các Loại Động Vật Hiệu Quả Nhất

Dạy Bé Tập Nói Bằng Hình Ảnh

Dạy Các Con Vật Hay Cho Trẻ Tập Nói Nhanh Và Hiệu Quả

Dạy Bé Học Tiếng Anh Qua Con Vật

Dạy Tiếng Việt Ở Lào Và Campuchia Vừa Thiếu Vừa Không Đồng Bộ

Bí Quyết Dạy Con Tên Các Con Vật Bằng Tiếng Anh Hiệu Quả

Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Con Vật Thường Thấy Tại Gia Đình

Dạy Tiếng Anh Cho Bé Bằng Tên Các Con Vật Bằng Tiếng Anh

Bật Mí Phương Pháp Giúp Bé Học Tiếng Anh Thiếu Nhi Về Các Con Vật

Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Các Con Vật Khi Còn Nhỏ

Theo kết quả khảo sát tại Vientiane (Lào) và Phnom Penh (Campuchia), hoạt động dạy và học tiếng Việt chủ yếu do các Hội người Việt tổ chức, thông qua việc lập trường, lớp riêng cho con em học. Tuy nhiên, tại các lớp này, học sinh vẫn phải theo chương trình giáo dục của nước sở tại, đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa không đồng đều. Bên cạnh đó, kinh phí duy trì hoạt động xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài liệu, phương tiện dạy học, trả lương cho giáo viên…còn phụ thuộc vào sự đóng góp của cộng đồng. Hỗ trợ kinh phí từ trong nước cho việc dạy và học tiếng Việt chưa nhiều.

Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ủy ban NN về NVNONN xây dựng Đề án “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay đến năm 2022”, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết và ngày càng lớn của đồng bào ở nước ngoài, cũng như yêu cầu ngày càng cao của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ông Hùng cho biết.

Ông Hùng (giữa) phát biểu tại Hội nghị.

Hiện Ủy ban đang thực hiện dự án thí điểm “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với cộng đồng người Việt Nam” tại 6 nước: Lào, Campuchia (đại diện các nước láng giềng) Nga, CH Czech (đại diện các địa bàn truyền thống tại châu u), Mỹ và Canada (đại diện khu vực có đông kiều bào nhất) trong năm 2010.

Theo đó, Ban Điều hành Dự án sẽ tiến hành các bước thử nghiệm về công tác dạy tiếng Việt tại các địa bàn nói trên. Các chuyên gia về ngôn ngữ đã đưa ra các phương pháp dạy tiếng Việt cho NVNONN, bao gồm kỹ năng, kiến thức… phù hợp.

Bên cạnh đó, kết quả thí điểm của Dự án sẽ kết hợp với Đề án “Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài” do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì.

Cùng với Vientiane (Lào) và Phnom Penh (Campuchia), Dự án sẽ được tiến hành tại Moscow (Nga), Praha (CH Czech), California (Mỹ) và Toronto (Canada).

Người Mở Trường Việt Trên Đất Campuchia

Biên Dịch Tài Liệu Tiếng Campuchia (Khmer)

Phương Pháp Dạy Toán Cho Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1

Hướng Dẫn Những Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Cho Bé Lớp 1 Hiệu Quả Nhất

Làm Sao Để Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Qua Các Bài Hát Tiếng Anh Cho Bé Mẫu Giáo

🌟 Home
🌟 Top