【#1】Trung Tâm Dạy Tiếng Campuchia Ở Bình Dương

Nhu cầu học tiếng Khmer (Campuchia) hiện nay rất phổ biến tại Bình Dương bởi nơi đây tập trung nhiều khu công nghiệp, có đông người Khmer sinh sống và làm ăn. Trung tâm tiếng Khmer SaiGon Vina – nơi duy nhất tại Bình Dương có giáo viên người Khmer trực tiếp giảng dạy và là trung tâm có số lượng học viên đông nhất, đội ngũ giáo viên chất lượng, không chỉ ở Bình Dương mà còn cả TP. HCM, Đồng Nai. Chi tiết lịch khai giảng khóa học tiếng Campuchia SGV quận Bình Thạnh.

SaiGon Vina có đa dạng chương trình đào tạo tiếng Khmer cho các bạn chọn lựa, mỗi chương trình là mỗi cấp độ và sự thú vị, phục vụ nhiều mục đích học khác nhau.

Học tiếng Khmer không hẳn là những kiến thức về từ vựng, về ngữ âm, ngữ pháp, học mẫu câu, hội thoại mà các bạn còn được thầy cô giáo chia sẻ về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán mang nhiều nét đặc trưng nổi tiếng từ xa xưa của vùng đất này.

Đa số các bạn học tiếng Khmer là để giao tiếp, và đây cũng là khóa học có số lượng lớn học viên đang theo học tại SaiGon Vina. Khóa học tập trung luyện giao tiếp phản xạ, đặc biệt các bạn sẽ được hướng dẫn cụ thể để phát âm chuẩn.

Chương trình được thiết kế chuyên biệt về giao tiếp, chính vì vậy sau khoá học, học viên có thể sử dụng tiếng Khmer thành thạo. Khóa học này có thời lượng 3 tháng (tương đương khoảng 54 giờ), người học được tiếp cận dần dần từ những câu đàm thoại sát với thực tế, đơn giản, dễ hiểu rồi mới đến những cụm từ khó, ngữ pháp phức tạp.

Ngoài ra, khóa học tiếng Khmer văn phòng được nhiều bạn chọn lựa bởi nó dành riêng cho nhân viên văn phòng hoặc người đi dự phỏng vấn xin việc trong công ty, doanh nghiệp sử dụng tiếng Khmer.

Chương trình được biên soạn công phu, tỉ mỉ từ nhiều nguồn tài liệu uy tín khác nhau bởi giáo viên của SaiGon Vina, cùng với sự tham khảo thực tế từ những nhân viên đang làm cho các công ty nói tiếng Khmer.

Để tiện cho việc học cũng như việc truyền tải kiến thức của giáo viên được hiệu quả thì khóa học được chia ra làm nhiều phần, giúp học viên tiếp xúc nhiều hơn những tình huống khác nhau trong môi trường công sở. Luyện phát âm cũng là một điểm mạnh của chương trình này.

Về đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer tại SaiGon Vina: đều trên 28 tuổi, có kinh nghiệm hơn 6 năm giảng dạy cùng với những phương pháp sư phạm mới là điều khác biệt của trung tâm. Năng nổ, nhiệt huyết và yêu nghề là những phẩm chất đáng quý và hội tụ đầy đủ ở mỗi giáo viên của SaiGon Vina. Đặc biệt, các thầy cô đã dày công tìm hiểu, nghiên cứu cũng như đã có một thời gian dài sinh sống, làm việc lâu dài nên hiểu sâu sắc về đất nước Campuchia giúp cho việc truyền đạt kiến thức tiếng Khmer thật chuẩn tới người học.

Trong công tác giảng dạy nhà trường luôn luôn cập nhật những phương pháp giảng dạy và sư phạm mới nhất với mục đích mang đến cho người học sự thoải mái và tiếp thu bài học hiệu quả. Song song với đó thì học theo phương pháp trực quan sinh động, dùng hình ảnh và video sống động, với không gian lớp phù hợp từng bài, nội thất, tiện nghi đầy đủ là những hiệu ứng tác động thiết thực nhất tới nhu cầu học ngoại ngữ của tất cả mọi người.

Trung tâm tiếng Khmer SaiGon Vina tại Bình Dương là cơ sở có trụ sở, văn phòng, lớp học, trang thiết bị, vật chất hiện đại nhất trong hệ thống giáo dục của SaiGon Vina, chắc chắc các bạn sẽ được trải nghiệm những điều tuyệt vời, thú vị nhất khi các bạn tới đây.

Cơ sở 8: 387 Nguyễn An Ninh, KP. Đông Tân, P. Dĩ An, TX. Dĩ An, Bình Dương (ngã ba Cây Điệp)

Cơ sở 13: 96 Nguyễn Văn Tiết, KP. Đông Tư, P. Lái Thiêu, TX. Thuận An, Bình Dương ( ngã tư Đông Tư)

Hoặc gọi theo số hotline 0902 516 288 gặp thầy Tuấn – cô Mai để được biết chi tiết về các khóa học tại Trung tâm dạy tiếng Campuchia SaiGon Vina cơ sở Bình Dương.

Nguồn: https://saigonvina.edu.vn

【#2】Dạy Tiếng Việt Thực Hành Cho Học Viên Campuchia Tại Trường Sĩ Quan Lục Quân 2 Theo Quan Điểm Giao Tiếp

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Quyên

DẠY TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH CHO HỌC

VIÊN CAMPUCHIA TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN

LỤC QUÂN 2 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Quyên

DẠY TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH CHO HỌC

VIÊN CAMPUCHIA TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN

LỤC QUÂN 2 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn học

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: Quý thầy cô Phòng Sau đại học!

Quý thầy cô Khoa Ngữ Văn!

Tên tôi là: Lê Thị Quyên.

Sinh ngày: 04/ 3/ 1976.

Quê quán: Xuân Hưng- Thọ Xuân- Thanh Hóa.

Thường trú: 14C- K2007- Ấp Long Đức 1- Tam Phước- Biên Hòa- Đồng Nai.

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Văn học.

Tên đề tài luận văn: “Dạy tiếng Việt thực hành cho học viên Campuchia tại Trường Sĩ quan

Lục quân 2 theo quan điểm giao tiếp”.

Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ.

Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi tự làm dưới sự hướng dẫn của PGS. TS.

Đặng Ngọc Lệ.

Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài đều là do tôi tự tay thống kê.

Tôi cam đoan những tri thức kế thừa của người đi trước, tôi đều trích dẫn đầy đủ, cho

vào trong ngoặc kép, nguồn trích dẫn chính xác tên bài, số trang.

Người cam đoan

Lê Thị Quyên

1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và hoàn thành đề cương luận văn này đúng thời

hạn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ, và sự góp ý chân

thành của TS. Phan Thị Minh Thúy, sự giúp đỡ từ quý thầy cô Khoa Ngữ Văn, quý thầy cô

Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ. Mặc dù

tuổi đã cao, nhưng thầy rất nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ hết mình và đôn đốc tôi trong suốt

quá trình làm luận văn.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Ngữ Văn, quý thầy cô

Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi

thực hiện luận văn trong thời gian cho phép.

Dù đã cố gắng thực hiện để hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết và nỗ lực của

mình, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến

đóng góp xây dựng chân thành của quý thầy cô. Tôi xin cảm ơn!

TP.HCM,ngày 30 tháng 9 năm 2013

Lê Thị Quyên

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………………….. 1

LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………………….. 2

MỤC LỤC …………………………………………………………………………………………………….. 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT …………………………………………………………………. 5

MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………………….. 6

1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………………………………………………….. 6

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ………………………………………………………………………………… 8

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………………… 13

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………. 13

5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………………………… 14

6. Đóng góp của luận văn ……………………………………………………………………………………. 14

7. Kết cấu của luận văn ………………………………………………………………………………………. 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN …………………………………………. 16

1.1. Cơ sở lí luận …………………………………………………………………………………………………. 16

1.1.1. Quan điểm giao tiếp và việc dạy thực hành tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 16

1.1.2. Mục tiêu dạy học THTV …………………………………………………………………………… 22

1.1.3. Nhiệm vụ của việc DH THTV …………………………………………………………………… 23

1.2. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………………………………………………….. 25

1.2.1. Khảo sát tình hình dạy và học THTV ở trường Sĩ quan Lục quân 2 (năm học

2012 -2013) ……………………………………………………………………………………………………… 25

1.2.2. Nhận xét …………………………………………………………………………………………………. 26

1.2.3. Những khó khăn của giáo viên trong quá trình dạy học ………………………………… 35

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI TẬP VÀ GIÁO ÁN THEO QUAN

ĐIỂM GIAO TIẾP ………………………………………………………………………………………. 41

2.1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa TV và tiếng Khơmer……………………. 41

2.1.1. Những điểm tương đồng …………………………………………………………………………… 41

2.1.2. Những điểm khác biệt ………………………………………………………………………………. 42

2.1.3. Những kĩ năng cần rèn luyện cho HV ………………………………………………………… 43

2.2. Vận dụng quan điểm giao tiếp trong việc thiết kế bài tập và giáo án để giảng dạy

cho HV Campuchia ……………………………………………………………………………………………. 44

2.2.1. Thiết kế bài tập ……………………………………………………………………………………….. 44

2.2.2. Thiết kế giáo án ……………………………………………………………………………………….. 54

2.3. Vận dụng quan điểm giao tiếp trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của

HV …………………………………………………………………………………………………………………….. 78

3

2.3.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá ……………………………………………………………………… 78

2.3.2. Vận dụng quan điểm giao tiếp trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của

HV ………………………………………………………………………………………………………………….. 78

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM…………………………………………………… 80

3.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm sư phạm ………………………………………………………. 80

3.1.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………………………… 80

3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm ……………………………………………………………………………….. 80

3.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm …………………………………………………………………… 81

3.2.1. Xác định thời gian và phạm vi thực nghiệm ………………………………………………… 81

3.2.2. Xác định đối tượng tham gia thực nghiệm ………………………………………………….. 81

3.2.3. Phương pháp thực nghiệm ………………………………………………………………………… 82

3.2.4. Soạn giáo án thực nghiệm …………………………………………………………………………. 82

3.2.5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm…………………………………………………………………… 93

3.2.6. Nhận xét kết quả thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………… 94

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………….. 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………….. 108

PHỤ LỤC ………………………………………………………………………………………………….. 111

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TỪ NGỮ

STT

VIẾT TẮT

1.

Dạy học thực hành tiếng Việt

DH THTV

2.

Dạy học

DH

3.

Đối chứng

ĐC

4.

Giáo viên

GV

5.

Hoạt động dạy học

HĐDH

6.

Hoạt động

7.

Học viên Sĩ quan Lục quân 2

HV SQLQ 2

8.

Học viên

HV

9.

Kiến thức

KT

10.

Kĩ năng

KN

11.

Nhà xuất bản

NXB

12.

Phương pháp dạy học

PPDH

13.

Phương pháp

PP

14.

Sĩ quan Lục quân 2

SQLQ 2

15.

Thực hành tiếng Việt

THTV

16.

Thực nghiệm sư phạm

TNSP

17.

Tiếng Việt

TV

5

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Trong tiến trình hội nhập và giao lưu quốc tế, ngôn ngữ luôn là vấn đề đặt ra với bất cứ

mối quan hệ quốc tế nào. Nó là rào cản trước tiên với mỗi người, với mỗi cuộc tiếp xúc khi có

yếu tố nước ngoài. Biết được tiếng nói của đối tác luôn là điều kiện và cũng là nhu cầu của tất

cả mọi người. Người nước ngoài đến Việt Nam muốn hiểu biết, nghiên cứu về Việt Nam đều

có nhu cầu biết và học tiếng Việt (TV).

Mục tiêu chung của việc dạy tiếng là cung cấp cho người học những kiến thức cơ

bản, bao gồm vốn từ vựng cơ bản, chuẩn văn hóa, một hệ thống quy tắc ngữ pháp cần thiết,

cao hơn là những thủ pháp tu từ nhằm nâng cao khả năng sử dụng TV trong giao tiếp và xa

hơn nữa là những tri thức về đất nước, con người, văn hóa Việt Nam… thông qua ngôn ngữ

Việt. Mục tiêu cụ thể là những kĩ năng sử dụng ngôn ngữ với bốn kĩ năng cơ bản là nói –

nghe – đọc – viết. Kĩ năng này sẽ được người học sử dụng trong hoạt động giao tiếp như là

công cụ thông tin. Phương châm chung của việc dạy tiếng cũng xem người học là chủ thể

tức là lấy người học làm trung tâm, lấy lợi ích của người học làm mục đích.

Trong những năm qua, Trường Sĩ quan Lục quân 2 (SQLQ 2) ngoài nhiệm vụ tăng

cường hợp tác, đối ngoại quân sự, còn thực hiện chức năng đào tạo cán bộ quân sự cho quân

đội Hoàng gia Campuchia. Cùng với những nội dung huấn luyện quân sự, môn Thực hành

tiếng Việt (THTV) được đưa vào chương trình đào tạo chính khóa cho học viên (HV) nước

bạn. Bên cạnh mục đích chung của việc học tiếng thông qua các bài học, giáo viên (GV)

giới thiệu với HV nền văn hóa Việt Nam, góp phần củng cố và phát triển tình hữu nghị

truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc, hai quân đội Việt Nam – Campuchia. Trên cơ sở đó,

nhận thức đúng quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta cho HV

nước ngoài, tăng cường quan hệ quốc tế; củng cố, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị giữa

Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam với các nước, góp phần thực hiện thắng

lợi đường lối đối ngoại của Đảng ta trong tình hình mới.

Để đáp ứng được nhu cầu của người học trong việc học tiếng và đảm bảo được mục

tiêu học TV của người học, trong những năm qua đội ngũ giáo viên dạy TV cho người nước

ngoài nói chung và học viên Campuchia tại Trường SQLQ 2 nói riêng đã có nhiều thay đổi

về phương pháp (PP) trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên kết quả mang lại vẫn chưa được

như mong muốn của người dạy cũng như người học. Cụ thể qua một khóa học TV nhưng

6

các kĩ năng giao tiếp của người học chưa được vận dụng một cách thuần thục, hoặc còn vận

dụng một cách lúng túng trong giao tiếp. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân

dẫn đến tình trạng trên là do nội dung thời lượng của chương trình, kỹ năng, phương pháp,

tài liệu, hoạt động ngoại khóa và môi trường giao tiếp… Qua những nguyên nhân đó, chúng

tôi thấy rõ một số bất cập như: cán bộ và GV đều chưa phát huy được hiệu quả tối đa của

môi trường giao tiếp; quá trình tự rèn luyện ngôn ngữ trong việc tự học, tự ôn ở đơn vị của

HV qua giao tiếp còn hạn chế. Nhận xét chung về tình hình DH TV trong nhà trường hiện

nay, Lê A cho rằng: “Chọn hoạt động giao tiếp làm đối tượng DH chẳng những không bỏ

qua những tri thức Việt ngữ mà còn góp phần làm cho những tri thức ấy linh hoạt, phong

phú hơn và gần với thực tế cuộc sống hơn” (“Dạy TV là dạy một hoạt động” – Tạp chí Ngôn

ngữ số 4/2001).

Giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ. Chỉ đặt trong hoạt động giao tiếp thì

giá trị của ngôn ngữ mới được xác định. Và chỉ có trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan

hệ giữa các ngôn ngữ với các yếu tố giao tiếp nằm ngoài ngôn ngữ thì người học mới có

điều kiện hiểu chắc, hiểu sâu TV và biết cách sử dụng phù hợp, hiệu quả. Để phát huy tính

tích cực, sáng tạo của người học trong học tập, quan điểm giao tiếp trong DH rất được coi

trọng. Quan điểm giao tiếp chi phối toàn bộ quá trình DH như: xác định mục tiêu, nội dung

DH tới việc lựa chọn hình thức, PP DH và kiểm tra, đánh giá… Mặc dù vậy, GV vận dụng

quan điểm giao tiếp vào dạy THTV với tư cách là một ngoại ngữ còn có nhiều khó khăn và

hạn chế nhất định. Về lí luận, chưa có công trình nghiên cứu đúng theo yêu cầu thực tiễn.

Về thực tiễn dạy và học, GV vẫn chưa thực sự ý thức được mục đích của dạy THTV là dạy

cho học viên kĩ năng giao tiếp. Vì vậy việc lựa chọn hình thức, cách tổ chức và phương

pháp DH còn chưa phù hợp, mang hiệu quả không cao.

Tư tưởng chủ đạo của việc dạy học THTV theo quan điểm giao tiếp chính là lấy giao

tiếp làm môi trường, cách thức và mục đích cho toàn bộ quá trình DH.

Là cơ sở quan trọng cho những môn học tiếp theo nên môn THTV phải được tổ chức

DH theo quan điểm giao tiếp một cách có hiệu quả. Việc DH TV theo hướng giao tiếp thực

chất là đưa HV vào tình huống giao tiếp, tạo nên môi trường giao tiếp cụ thể để thúc đẩy

nhu cầu sản sinh lời nói, ngôn bản, rèn luyện cho học viên kĩ năng định hướng, dùng từ, đặt

câu, viết đoạn… phù hợp với các tình huống giao tiếp. Dạy TV theo hướng giao tiếp tức là

dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân người học. Trong việc rèn luyện lời nói, cần sử dụng

7

triệt để phương pháp hỏi đáp. Hỏi có thể yêu cầu người học thực hiện một hành vi hồi đáp

mà còn có thể là nêu vấn đề để người học trình bày vấn đề đó theo nhận thức của mình.

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Dạy tiếng Việt

thực hành cho học viên Campuchia tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 theo quan điểm giao

tiếp” nhằm áp dụng vào quá trình DH, làm cơ sở để nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng

nhu cầu thực tiễn, thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ quốc phòng giao.

nâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản ngữ, mặt khác trên cơ sở đã có ý thức về năng lực

giao tiếp, tổ chức cho học sinh sáng tạo các hành vi lời nói trong giao tiếp […] tức là dạy

cho học sinh ứng xử sáng tạo trong giao tiếp ở môi trường có tính thực tiễn nhất của đời

sống” (Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học tiếng Việt ở trường trung học, Thành phố

Hồ Chí Minh, 1998). Đồng thời, tác giả cũng coi trọng việc xây dựng các bài tập tình huống

để rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh. Đây cũng là một trong những cơ sở góp phần

định hướng cho việc dạy và học TV đạt hiệu quả cao hơn.

Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt (tập 2, Nxb Giáo dục, 2001) do nhóm tác

giả: Nguyễn Trí – Lê A – Lê Phương Nga biên soạn có tất cả 8 chương, trong đó, tác giả

dành hẳn một chương để nói về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt. Trong chương

một này các tác giả đã nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp. Những cơ sở của

quan điểm dạy học giao tiếp trong dạy học tiếng Việt. Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp

trong dạy học tiếng Việt. Nội dung của chương này là một trong những cơ sở khoa học cho

đề tài nghiên cứu “Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học tiếng Việt thực hành cho học

viên Campu chia tại trường sĩ quan lục quân 2″ của chúng tôi.

Vấn đề giao tiếp cũng được Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San đề cập trong Giáo

trình tiếng Việt (tập 3, NXB Giáo dục, 2002) với nội dung cụ thể như: Các chức năng của

ngôn ngữ – chức năng giao tiếp; hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ; các yếu tố của hệ thống

ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp: những sự biến đổi và chuyển hóa. Vai trò của các quan

hệ hệ thống trong hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc hệ thống và quan điểm giao tiếp trong

việc dạy – học ngôn ngữ xuất phát từ đặc trưng, bản chất của đối tượng và phù hợp với đối

tượng. Ngôn ngữ cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động

giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp.

Bàn về độ phổ biến của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Thị

Ly Kha cho rằng: Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và

phương pháp dạy học. Về nội dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở chỗ: Cách

bố trí thời lượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không tập trung vào việc

nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục

vụ cho hoạt động giao tiếp . Về phương pháp dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở

điểm: Các kiến thực và kĩ năng trong phân môn luyện từ và câu được rèn luyện thông qua

nhiều bài tập gắn với yêu cầu về tập làm văn lớp 5 hoặc với các tình huống giao tiếp tự

nhiên. Kèm theo nội dung trình bày là những ví dụ cụ thể. Do trình bày dưới dạng hỏi – đáp,

9

nên tài liệu này chỉ dừng lại ở giới hạn cung cấp những gợi ý có tính chất định hướng cơ bản

về nội dung, hình thức tổ chức dạy học môn tiếng việt ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp. Mặt

khác, do tính chất đồng tâm và tính phổ quát của vấn đề, những gợi ý có tính phổ quát đó

không chỉ giới hạn ở một lớp, một bậc học mà còn có tác dụng định hướng cho việc dạy

tiếng Việt nói chung theo quan điểm giao tiếp (Hỏi – đáp về dạy học tiếng Việt lớp 5).

Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở tiểu học (NXB Đại học Sư phạm, 2009)

là một giáo trình có ích cho những giáo viên, những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề

dạy học tiếng Việt như thế nào cho hiệu quả. Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã

nghiên cứu khá sâu và làm rõ ràng về những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy

tiếng Việt ở bậc tiểu học. Giáo trình gồm 3 chương: Chương 1 đề cập đến vấn đề giao tiếp

và hoạt động giao tiếp; chương 2 đi sâu vào từ và câu trong hoạt động giao tiếp; chương 3

là chương trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn – Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.

Giáo trình đã vạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao

tiếp: từ việc lựa chọn các tri thức tiếng Việt, xác định các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cần rèn

luyện cho học sinh; lựa chọn, sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức… Tuy giáo trình

chỉ giới hạn trong việc dạy học ở tiểu học nhưng đối với giáo viên dạy tiếng Việt thì tìm thấy ở

giáo trình này những định hướng làm cơ sở cho việc dạy tiếng Việt một cách có hiệu quả theo

quan điểm giao tiếp.

Hai vấn đề: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Được Lê A bàn đến trong bài viết Dạy

tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động (Tạp chí ngôn ngữ số 4/2001). Tác giả

chú ý đến vấn để sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trình tự dạy tiếng Việt và một số thao

tác cơ bản khi dạy học (thao tác phân tích – phát hiện; thao tác phân tích – chứng minh; thao

tác phân tích – phán đoán); Giới thiệu về phương tiện dạy học Grap (sơ đồ mạng để trình

bày những vấn đề cần truyền đạt). Sau khi trình bày các vấn đề trên, tác giả nhấn mạnh: Tri

thức về tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực sự vận dụng vào hoạt

động giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ. Có thể nói bài viết này là

một gợi ý cho việc tổ chức các hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp,

phương tiện dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.

Trong bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt

trong nhà trường phổ thông hiện nay (Tạp chí Ngôn ngữ số 4/2006), Vũ Thị Thanh Hương

đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm “năng lực giao tiếp”, đã dẫn ra những ý kiến khác

nhau của các học giả (Chomsky, Campbell & Wales, Hymes, Murby¸Canale & Swain,

10

nhà nghiên cứu Việt ngữ, những giảng viên giảng dạy ngôn ngữ học và Việt ngữ học.

Theo Đề án Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ

Giáo dục và Đào tạo 2006, hai bộ giáo trình Tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài

(một cho đối tượng là người lớn, một cho đối tượng là thanh thiếu niên) đã được

biên soạn với sự tham gia của nhiều giảng viên, chuyên viên của nhiều trường đại

học, viện nghiên cứu trong cả nước; bộ sách cũng đã được dạy thử nghiệm ở một số

nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn rất cần những bộ giáo trình tiếng Việt có hệ

thống, cập nhật những từ ngữ thuộc nhiều lĩnh vực của cuộc sống hiện đại cũng như

văn hóa truyền thống Việt, những kiến thức ngữ pháp, vận dụng những thành tựu

về phương pháp dạy tiếng trên thế giới; đặc biệt là giáo trình nâng cao hoặc chuyên sâu.

Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học đối chiếu

hoặc mang tính ứng dụng nghiên cứu việc dạy và học tiếng Việt đã được công bố:

“Về việc dạy và học tiếng Việt tại Hàn Quốc” của Kim Ki Tae (Tạp chí Ngôn ngữ

1996), “Trật tự từ trong tiếng Hàn so sánh với tiếng Việt” của Ahn Kyong Hwan

(Nxb Giáo dục 1997), “Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ” của Mai Ngọc Chừ

(Tạp chí Ngôn ngữ 2002), “Lỗi loại từ trong tiếng Việt của người nước ngoài”

(Trong Những vấn đề Ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006)… Công trình

tập thể “Tiếng Việt như một ngoại ngữ” của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam- Đông

Nam Á, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 1995 gồm 50 bài viết của

những nhà nghiên cứu và giảng dạy Việt ngữ trong nước và nước ngoài (từ Hội nghị “Tiếng

Việt cho người nước ngoài”) chủ yếu là những đúc kết kinh nghiệm dạy tiếng Việt cho

người nước ngoài, phân tích, đề xuất hướng giảng dạy tiếng Việt; một vài bài trong số đó

đã tiếp cận với lí thuyết dạy tiếng. Trong một bài viết, chúng tôi đã thử vận dụng lí thuyết

ngôn ngữ trung gian (interlanguage heory) để phân tích lỗi ngữ pháp thường thấy của

người nước ngoài học tiếng Việt. Có thể nói những thành tựu về lí luận và thực tiễn của

ngôn ngữ học đối chiếu, ngôn ngữ học ứng dụng và các liên ngành ngôn ngữ học như đã

nói ở trên là những cơ sở cho những công trình nghiên cứu khoa học, những đúc kết

kinh nghiệm và đây cũng là yếu tố thúc đẩy ngành giảng dạy Tiếng Việt như một ngoại

ngữ phát triển.

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu đi sâu vào việc dạy học

THTV cho học viên Campuchia và vẫn chưa có một công trình nào cung cấp cho chúng ta

một bức tranh toàn cảnh về DH TV cho HV Campuchia theo quan điểm giao tiếp. Vì thế,

12

việc triển khai đề tài: “Dạy tiếng Việt thực hành cho học viên Campuchia tại Trường Sĩ

quan Lục quân 2 theo quan điểm giao tiếp” theo chúng tôi là cấp thiết.

Mặc dù các giáo trình, tài liệu và các bài viết trên không đề cập trực tiếp đến vấn đề

mà đề tài quan tâm nhưng chính các công trình trên là những định hướng, những gợi ý quý

báu giúp chúng tôi thực hiện đề tài “Dạy tiếng Việt thực hành cho học viên Campuchia tại

Trường Sĩ quan Lục quân 2 theo quan điểm giao tiếp” triển khai thực hiện các nội dung

nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tiếng Việt theo quan điểm

giao tiếp.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trước những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, việc “Dạy tiếng Việt thực

hành cho học viên Campuchia tại trường Sĩ quan Lục quân 2 theo quan điểm giao tiếp”

nhằm hướng đến mục đích là nâng cao chất lượng dạy học môn THTV. Để đạt được mục

đích trên, luận văn hướng tới hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản sau:

– Trình bày cơ sở lí thuyết cũng như thực tiễn của việc vận dụng quan điểm giao tiếp

vào dạy tiếng Việt thực hành cho học viên Campuchia.

– Thiết kế các hoạt động dạy học và một số giáo án dạy học tiếng Việt theo hướng

vận dụng quan điểm giao tiếp nhằm phát huy tinh thần tự học, tính tích cực, chủ động, sáng

tạo của HV trong học tập và rèn luyện.

– Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào

THTV cho học viên Campuchia, từ đó rút ra những ưu, khuyết điểm và đề xuất những giải

pháp có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn THTV cho HV Campuchia tại

trường SQLQ 2.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vận dụng quan điểm giao tiếp để dạy THTV

cho HV Campuchia tại trường SQLQ 2.

Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu

vấn đề vận dụng quan điểm giao tiếp để dạy THTV cho HV Campuchia tại trường SQLQ 2.

Đề tài giới hạn ở phạm vi khảo sát về hoạt động dạy THTV của GV và hoạt động học

của HV. Bao gồm các khía cạnh sau: mức độ truyền đạt nội dung lí thuyết, nội dung thực

hành TV của GV trên lớp và mức độ hiểu, vận dụng lí thuyết vào thực hành TV của HV;

13

khả năng HV vận dụng những kiến thức TV đã học vào trong sinh hoạt hàng ngày và khả

năng sử dụng linh hoạt tiếng Việt vào từng hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về quan điểm giao tiếp. Khảo sát thêm các tài

liệu viết về hoạt động giao tiếp trong hoạt động dạy và học. Trên cơ sở lí thuyết để vận dụng

vào thực tiễn dạy và học TV cho HV Campuchia.

5.2. Phương pháp thống kê, so sánh, phân loại

Thống kê và phân loại một số tài liệu nghiên cứu. Lập bảng số liệu, xử lí kết quả thực

nghiêm bằng cách so sánh kết quả đạt được theo từng lĩnh vực, trên cơ sở phân tích, lí giải,

tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất cách thức thực hiện nhằm đạt được mục đích đề ra của đề tài.

5.3. Phương pháp thực nghiệm

Dạy thực nghiệm một số bài trong chương trình môn học gồm 3 bài, tại Trường SQLQ 2

cũng như dự giờ các lớp khác để rút ra kinh nghiệm và kiểm chứng các giả thiết khoa học về

quá trình giảng dạy TV cho HV Campuchia tại Trường SQLQ 2.

Tóm lại, phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh, phân

loại; phương pháp thực nghiệm được xem là những phương pháp nghiên cứu chính của luận

văn. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác bổ sung trong

quá trình thực hiện nhằm góp phần hoàn chỉnh luận văn.

6. Đóng góp của luận văn

Luận văn hoàn thành sẽ có những đóng góp sau:

– Thiết kế được các hoạt động dạy học và một số giáo án dạy học tiếng Việt thực

hành theo hướng giao tiếp, nhằm giúp giáo viên dụng tốt quan điểm giao tiếp vào dạy tiếng

Việt thực hành góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt thực hành cho học viên

Campuchia tại Trường Sĩ quan Lục quân 2.

– Tích cực hóa các hoạt động học tập của HV, phát huy tinh thần tự học, tạo hứng

thú, duy trì hứng thú học tập và nâng cao thành tích học tập của HV.

– Nêu được những ưu, khuyết điểm trong việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy

THTV cho HV Campucgia và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy

học TV cho HV Campuchia tại Trường SQLQ 2.

14

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận và ba chương:

Chương1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương này, chúng tôi trình bày ngắn gọn lí

thuyết về giao tiếp, dạy THTV theo quan điểm giao tiếp, cơ sở thực tiễn của việc dạy học

THTV cho HV Campuchia tại Trường SQLQ 2. Đồng thời, trình bày phương DH hiện nay ở

nhà trường làm cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu.

Chương 2: Thiết kế một số bài tập và giáo án dạy – học các bài THTV theo quan

điểm giao tiếp. Chương này, chúng tôi tiến hành triển khai ý đồ sư phạm. Cụ thể là chỉ ra

cách khai thác dạy học theo quan điểm giao tiếp.

Chương 3: Thực nghiệm.

Ngoài phần nội dung chính, luận văn còn kèm theo một số phụ lục (1) Giáo án đối

chứng. (2) Thiết kế giáo án thực nghiệm. (3) Đề thi và kiểm tra. (4) Phiếu tham khảo ý kiến

HV (5) Phiếu tham khảo ý kiến GV. (6) Kết quả thu nhận từ phiếu tham khảo ý kiến GV.

(7) Kết quả thu nhận từ phiếu tham khảo ý kiến HV. (8) Một số hình ảnh về hoạt động của

lớp thực nghiệm. (9) Một số kết quả bài tập của học vên. (10) Bài tập vui, trò chơi.

15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Quan điểm giao tiếp và việc dạy thực hành tiếng Việt theo quan điểm giao

tiếp

1.1.1.1. Lí thuyết về giao tiếp

Giao tiếp được hiểu là hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu

biết, cộng tác… giữa các thành viên trong xã hội. Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi giải

mã (nhận thông tin) và kí mã (phát thông tin). Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi này đều có thể

thực hiện được bằng hai hình thức: khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết).

Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân giữa người nói với người nghe, ở đó diễn ra

sự trao đổi về tư tưởng, tình cảm, nhận thức của con người.

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một cấu trúc động gồm có bốn giai đoạn: định

hướng, lập chương trình, hiện thực hóa và kiểm tra. Các giai đoạn này được thực hiện kế

tiếp nhau một cách liên tục.

Giao tiếp là nhu cầu thường xuyên không thể thiếu của con người. Hoạt động giao

tiếp có đặc thù là sự tương tác, diễn ra khi có ít nhất hai người tiếp xúc, trao đổi với nhau về

một nội dung nào đó. Sản phẩm của hoạt động giao tiếp là ngôn bản. Ngôn bản là chuỗi

ngôn từ được sắp xếp theo một quy tắc nhất định để thể hiện nội dung được trao đổi trong

giao tiếp.

Cơ chế của hoạt động (HĐ) giao tiếp.

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ chịu sự chi phối của các nhân tố giao tiếp bao

gồm: đối tượng – mục đích – nội dung – hoàn cảnh – phương tiện (cách thức) giao tiếp với

mối quan hệ như sau:

16

Hoàn cảnh giao tiếp

Mục đích giao tiếp

Nội dung giao tiếp

Người nói

(Người viết)

Tạo lập

Văn bản

(Ngôn bản)

Lĩnh hội

Người nghe

(Người đọc)

Giải mã

Mã hóa

Phương tiện giao tiếp

Hiệu quả giao tiếp

Sơ đồ 1.1. Cơ chế hoạt động giao tiếp

Từ sơ đồ trên cho thấy việc hình thành của ngôn bản chịu sự tác động rõ rệt của các

yếu tố giao tiếp khách quan (hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện giao tiếp) và chủ quan (mục

đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp). Ngôn bản được tạo lập phải thỏa mãn mong muốn bộc

lộ hiểu biết, tình cảm, tâm tư của người nói (người viết) nhưng cũng phải đáp ứng được

những nhu cầu cơ bản là phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, có khả năng tác động và tạo ra

phản ứng ở người nghe. Tạo lập ngôn bản và tiếp nhận ngôn bản thành công có nghĩa là HĐ

giao tiếp đã đạt được mục đích.

17

Dựa trên cơ chế của hoạt động giao tiếp, chúng tôi nhận thấy hoạt động DH trong

nhà trường cũng là một hoạt động giao tiếp song hoạt động này có một số điểm khác với

HĐ giao tiếp thông thường trong đời sống.

Thứ nhất, tuy cả hai dạng HĐ giao tiếp đều có chung một bối cảnh giao tiếp rộng

(thời đại, lịch sử, phong tục…) nhưng HĐ giao tiếp trong DH luôn diễn ra ở một hoàn cảnh

giao tiếp, không đổi là lớp học, trường học trong khi hoàn cảnh giao tiếp của xã hội lại rất

phong phú và đa dạng.

Thứ hai, HĐ giao tiếp trong đời sống xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau, tùy vào

nhu cầu của người tham gia vào giao tiếp nhưng mục đích giao tiếp của dạy học được xác

định rõ và hầu như không thay đổi (giúp người học chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng,

kĩ xảo, xây dựng phương pháp học tập; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm

sống cho người học).

Thứ ba, đối tượng giao tiếp trong đời sống thuộc nhiều thành phần; lứa tuổi, trình độ

khác nhau còn đối tượng giao tiếp trong DH là GV và học viên. HĐ DH là một cuộc trao

đổi, tương tác giữa GV và HV với nhau nhằm hướng tới mục đích giao tiếp đã đề ra.

Với cách hiểu như trên HĐ DH là HĐ giao tiếp đặc biệt. Chính vì thế, mọi HĐ DH

cần được tổ chức trên nền tảng của lí thuyết giao tiếp.

Như vậy, theo quan điểm giao tiếp, dạy TV là dạy một HĐ giao tiếp trong giao tiếp

và bằng hoạt động giao tiếp. Quan điểm này xác định dạy TV là dạy một hoạt động giao

tiếp, tức là xác định mục đích của việc dạy THTV là hình thành cho người học năng lực sử

dụng tiếng trong giao tiếp cho phù hợp với các nhân tố giao tiếp. Chính mục tiêu này quy

định nội dung cơ bản của việc dạy THTV. Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chủ yếu là

dạy các kĩ năng nói – nghe – đọc – viết, mà muốn có kĩ năng thì học viên cần phải có những

tri thức TV cần thiết. Nghĩa là người dạy phải cung cấp những kiến thức về những quy tắc

của các đơn vị ngôn ngữ, trên cơ sở đó mà dần dần rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ

cho người học. Quan điểm giao tiếp còn xác định việc dạy tiếng Việt phải “dạy trong giao

tiếp và dạy bằng giao tiếp” để nhấn mạnh cách thức và phương pháp dạy học.

Khi dạy theo quan điểm giao tiếp, GV phải dạy cho HV được học, được tập giao tiếp

ở trong bài học, ở lớp cao hơn là biết vận dụng nó trong giao tiếp trong thực tế cuộc sống

hàng ngày. Biết nói năng, quan hệ ngôn ngữ đúng vai trò, đúng mục đích với người xung

quanh, biết nêu nhận xét, đánh giá trước sự vật, sự việc… mà không phải chỉ nhằm tới mục

đích là biết làm văn như trước đây.

18

【#3】Mở Lớp Dạy Tiếng Khmer, Bổ Túc Văn Hóa, Lịch Sử, Pháp Luật Campuchia Cho Người Gốc Việt

Ngày 22/02, nhằm đáp ứng nguyện vọng xin nhập quốc tịch Campuchia cho người gốc Việt sinh sống lâu dài tại Campuchia, cộng đồng người Việt đã mở lớp dạy tiếng Khmer, bổ túc kiến thức văn hóa, lịch sử, pháp luật Campuchia.

Lớp học hỗ trợ người gốc Việt có nguyện vọng nhập quốc tịch Campuchia (Ảnh: VOV)

Lớp học đầu tiên trong chương trình bổ túc tiếng Khmer, kiến thức văn hóa, lịch sử, pháp luật Campuchia cho cộng đồng người Việt tại Campuchia đã được tổ chức tại tỉnh Takeo, cách thủ đô Phnom Penh 75 km.

Tham dự lễ khai giảng được tổ chức tại trường Tiểu học Hữu nghị Khmer-Việt Nam tỉnh Takeo có Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia Lại Xuân Chiến, đại diện Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Sihanoukville phụ trách khu vực lãnh sự tỉnh Takeo, Hội Khmer-Việt Nam tại Campuchia, Chi nhánh hội tỉnh Takeo.

Đây là lớp học thí điểm kéo dài trong 3 tháng, với khoảng 36 học viên, nhằm hỗ trợ người gốc Việt đáp ứng cơ bản các điều kiện và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Campuchia từng bước nâng cao trình độ văn hóa chung trong cộng đồng, hội nhập xã hội tốt hơn. Chương trình bổ túc này dự kiến kéo dài trong 5 năm (2020-2025), với lớp học thứ 2 có thể được tổ chức tại Phnom Penh.

Phát biểu tại lễ khai giảng, Công sứ Lại Xuân Chiến chia sẻ ý nghĩa thiết thực và lâu dài của việc nâng cao trình độ văn hóa chung của cộng đồng; hiểu biết phong tục tập quán và đặc biệt là quy định pháp luật về quản lý ngoại kiều, di trú và quốc tịch là cách thực tế nhất để bà con người gốc Việt hội nhập xã hội Campuchia.

Hoan nghênh việc tổ chức lớp học này, Phó Chủ tịch Hội đồng phường Roka Khnong thuộc huyện Daun Keo tỉnh Takeo, ông Ming Hourn mong muốn cộng đồng người gốc Việt tích cực tham gia khóa học để việc hội nhập vào xã hội nước sở tại được thuận lợi hơn.

Các học viên gốc Việt được bổ túc kiến thức về văn hóa, lịch sử, pháp luật Campuchia (Ảnh: VOV)

Theo thống kê của Bộ Nội vụ Campuchia, có khoảng trên 160.000 người gốc Việt đang sinh sống tại nước này, tập trung đông nhất ở thủ đô Phnom Penh và 5 tỉnh giáp Biển Hồ, gồm: Kampong Chhnang, Pursat, Battambang, Kampong Thom và Siem Reap.

Nhìn chung, đời sống của bà con ở thành thị thời gian gần đây khá ổn định. Tuy nhiên, các hộ ở vùng sâu vùng xa, đặc biệt là dọc theo sông Mekong và Biển Hồ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Khai giảng lớp dạy tiếng Việt cho trẻ em Việt Nam tại Thủ đô Viên, Cộng hòa Áo

Ngày 15/02/2020, Đại sứ quán Việt Nam tại Áo và Hội Phụ nữ Việt Nam tại Áo đã phối hợp tổ chức Lễ khai giảng …

Thủ tướng đề nghị mở lớp dạy tiếng Việt tại Myanmar

Tại Yangon, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam và gặp gỡ, nói chuyện với đại diện cộng đồng …

Những cô dâu Việt gìn giữ tiếng mẹ đẻ ở xứ Hàn

Các cô dâu Việt ở Hàn khá siêng năng, giỏi giang, chăm chỉ làm việc và việc nhà, đặc biệt là đều quan tâm đến …

【#4】Dạy Tiếng Việt Ở Lào Và Campuchia Vừa Thiếu Vừa Không Đồng Bộ

Theo kết quả khảo sát tại Vientiane (Lào) và Phnom Penh (Campuchia), hoạt động dạy và học tiếng Việt chủ yếu do các Hội người Việt tổ chức, thông qua việc lập trường, lớp riêng cho con em học. Tuy nhiên, tại các lớp này, học sinh vẫn phải theo chương trình giáo dục của nước sở tại, đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa không đồng đều. Bên cạnh đó, kinh phí duy trì hoạt động xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài liệu, phương tiện dạy học, trả lương cho giáo viên…còn phụ thuộc vào sự đóng góp của cộng đồng. Hỗ trợ kinh phí từ trong nước cho việc dạy và học tiếng Việt chưa nhiều.

Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ủy ban NN về NVNONN xây dựng Đề án “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay đến năm 2021”, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết và ngày càng lớn của đồng bào ở nước ngoài, cũng như yêu cầu ngày càng cao của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ông Hùng cho biết.

Ông Hùng (giữa) phát biểu tại Hội nghị.

Hiện Ủy ban đang thực hiện dự án thí điểm “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với cộng đồng người Việt Nam” tại 6 nước: Lào, Campuchia (đại diện các nước láng giềng) Nga, CH Czech (đại diện các địa bàn truyền thống tại châu u), Mỹ và Canada (đại diện khu vực có đông kiều bào nhất) trong năm 2010.

Theo đó, Ban Điều hành Dự án sẽ tiến hành các bước thử nghiệm về công tác dạy tiếng Việt tại các địa bàn nói trên. Các chuyên gia về ngôn ngữ đã đưa ra các phương pháp dạy tiếng Việt cho NVNONN, bao gồm kỹ năng, kiến thức… phù hợp.

Bên cạnh đó, kết quả thí điểm của Dự án sẽ kết hợp với Đề án “Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài” do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì.

Cùng với Vientiane (Lào) và Phnom Penh (Campuchia), Dự án sẽ được tiến hành tại Moscow (Nga), Praha (CH Czech), California (Mỹ) và Toronto (Canada).

【#5】Phạm Xuân Nguyên: Tôi Dạy Tiếng Việt Cho Bộ Đội Campuchia

Đó là vào năm 1980. Tôi đang là lính năm thứ ba thuộc Tổng cục Kỹ thuật, làm giáo viên ở Khoa “Văn hóa cơ sở” tại trường Hạ sĩ quan kỹ thuật WilhelmPieck (tiền thân là trường Quân Cụ dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nay là trường Đại học Quân sự Trần Đại Nghĩa) ở Gò Vấp, Sài Gòn. Năm đó, sau khi Campuchia được giải phóng khỏi chế độ Pol Pot (7/1/1979), chính quyền cách mạng nước bạn cử sang trường tôi 40 chiến sĩ để học kỹ thuật.

Anh em trong đơn vị còn trêu tôi: Mỗi sáng nghe bộ đội CPC tập thể dục hô “một hai ba” cứ như là bốn mươi thằng Nguyên vậy. Thì tôi đã nói từ đầu, học ngoại ngữ phát âm là quan trọng mà, giao tôi dạy thì học trò nói giọng Nghệ của tôi là đúng quá rồi!

Ban giám hiệu nhà trường xem lý lịch quân nhân biết tôi là sinh viên văn khoa Đại học Tổng hợp Hà Nội đi lính nên gọi lên giao nhiệm vụ: Dạy tiếng Việt cho bốn chục chiến sĩ Campuchia sao cho sáu tháng sau họ có thể nghe nói, đọc viết được tiếng ta để cùng ngồi học với các bộ đội Việt Nam. Tôi nói: dạy tiếng gồm có dạy phát âm, dạy từ vựng, dạy ngữ pháp, hai phần sau tôi có thể gắng làm được từ những gì đã học thời sinh viên (mặc dù tôi học ngành Văn chứ không phải ngành Ngôn Ngữ), nhưng còn khoản phát âm thì chịu vì tôi nói tiếng Việt giọng Nghệ đến người ta còn khó nghe thì sao mà dạy người nước ngoài nói được. Nhưng trong Quân đội mệnh lệnh là mệnh lệnh, khi cấp trên đã giao nhiệm vụ thì cấp dưới chỉ có việc thi hành. Trước đó công việc của tôi ở Khoa “Văn hóa cơ sở” là dạy toán lý cho bộ đội mình đa phần trình độ văn hóa lớp 7 (hệ 10 năm) để chuẩn bị cho họ vào học chuyên môn kỹ thuật.

Sau khi nhận nhiệm vụ (cùng với Trần Văn Quang, cũng là sinh viên cùng khoa cùng khóa – nhưng sau vài tháng thì Quang thôi), tôi tự nghĩ ra chương trình và giáo án, biên soạn 4 tập sách học tiếng Việt in roneo cho bộ đội Campuchia, và tự mình thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chúng tôi được ở tách riêng ra một bộ phận đóng tại một chung cư với mật danh là T67 trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa vốn trước đây là cư xá của phi công chế độ cũ, tôi không còn nhớ số nhà nhưng nhớ là nó đối diện với trường trung cấp hàng không. Tòa nhà hơn mười tầng, tôi cùng các chiến sĩ bạn và bộ phận hậu cần phục vụ ở chỉ khoảng ba tầng, còn lại là để trống. Sau này có nhiều dịp vô TP HCM đi qua đó tôi thấy tòa nhà ấy đã có lúc được chuyển thành khách sạn Omi, và bây giờ là cái gì đó khác nữa. Với tôi, đó là nơi ghi dấu sáu tháng tôi dạy tiếng Việt cho bộ đội Campuchia.

Tôi dạy thế nào? Dạy theo kiểu kinh nghiệm của người bản ngữ hơn là có phương pháp dạy hẳn hoi. Giúp cho tôi có cô Dung phiên dịch, một Việt kiều ở Campuchia về. Mở đầu tôi giới thiệu cho các học viên CPC biết bảng chữ cái tiếng Việt, rồi nói về cách ghép chữ thành tiếng và tiếng thành từ. Và tôi dạy luôn vào từ. Thí dụ, có buổi lên lớp trời se lạnh, tôi đặt một câu: “Hôm nay trời lạnh” và nhờ cô Dung dịch nghĩa câu đó theo từng từ và nghĩa cả câu. Cần thiết thì Dung sẽ viết cả tiếng Miên vào sau câu tiếng Việt cho học viên hiểu. Học viên học theo và thuộc nghĩa. Những hôm có học viên bị ốm, cô Dung phải đưa đi khám ở viện quân y 175 thì tôi phải dạy vòng qua tiếng Pháp. Tôi nhờ đến những học viên có biết tiếng Pháp trong lớp dịch sang tiếng Miên (một số học viên đã qua trung học ở CPC đều biết tiếng Pháp). Những từ cụ thể thì dễ, ví như từ “cái bàn” tôi viết chữ lên bảng rồi chỉ vào cái bàn, thế là cả lớp hiểu nghĩa và nhớ từ. Đến các khái niệm trừu tượng thì tôi kẻ ba cột trên bảng: một cột ghi tiếng Việt, một cột ghi tiếng Pháp, sau đó gọi một học viên CPC biết tiếng Pháp lên điền vào cột thứ ba bằng tiếng Miên. Thí dụ: từ “tự do” tôi chú tiếng Pháp là “Liberté” và học viên chú tiếng Miên theo. Tiếp đó tôi viết cả câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Việt và tiếng Pháp “Rien de plus précieux que l’indépendance et la liberté” và tiếng Miên được viết tiếp vào. Tất cả các học viên thuộc và hiểu và nhớ từ. Khó nhất là sự đọc. Tiếng Nghệ của tôi nhiều khi nói ra cả cô Dung cũng không nghe rõ. Còn học viên thì rất lúng túng về mặt thanh điệu để ghi dấu vào từ. Một hôm tôi vào lớp viết một câu lên bảng: “Buoi sang nay troi lanh” và đề nghị cả lớp thêm dấu câu cho đúng. Gần như cả lớp đánh dấu câu sai, nhất là ở chữ đầu tiên thay vì dấu hỏi họ cứ cho dấu huyền khiến cô Dung phải quay mặt và tôi thì cũng ngượng ngùng buồn cười.

Phạm Xuân Nguyên (đứng đầu tiên bên phải) cùng các bạn lính sinh viên khi mới nhập ngũ (8/1978)

Ấy vậy mà thầy trò cũng qua được sáu tháng và các học viên quân sự CPC đã nghe được, viết được tiếng Việt. Khi tiếng Việt đã tàm tạm nghe hiểu, họ lại được học cả toán, lý do các giáo viên khác dạy. Kể ra thế cũng liều mà được việc. Họ chỉ thắc mắc khi ra phố về: thầy giáo ơi, sao thầy dạy chúng tôi “quyển vở”, “cây bút”, “phong bì”, nhưng ngoài phố người dân lại nói là “cuốn tập”, “cây viết”, “bao thư”. Những lúc đó tôi lại giảng thêm cho họ biết thế nào là từ phổ thông, từ địa phương. Cũng có lúc họ đặt một câu tình cảm: “Sáng nay trời lạnh tôi tội nghiệp thầy giáo” thì tôi lại phải giảng giải và nhờ qua cô Dung mà nói rằng từ “tội nghiệp” có thể thay bằng từ “thương”. Tôi vui vì cứ mỗi ngày qua các học viên đến phòng tôi đều đã có thể nói chuyện bằng tiếng Việt, từ ít đến nhiều, từ ngắc ngứ đến trôi chảy. Chỉ họa hoằn tôi mới phải nhờ đến cô Dung, và sau này là anh Thạch Văn Sơn, thông dịch.

Hết thời gian học tiếng, 40 học viên CPC được đưa về trường WilhelmPieck phiên chế thành một trung đội riêng và ngày ngày lên lớp học cùng bộ đội VN. Các giáo viên dạy kỹ thuật phần lớn là người Bắc, giọng họ nhẹ và trong. Song có lẽ do đã quen với tiếng tôi nặng và đục suốt nửa năm trời nên gần một tháng đầu học, các chiến sĩ CPC đều phản ánh với Ban giám hiệu nhà trường là “các thầy nói sai hết, chỉ thầy Nguyên nói đúng”. Tôi nghe mà nửa cười nửa mếu. Anh em trong đơn vị còn trêu tôi: Mỗi sáng nghe bộ đội CPC tập thể dục hô “một hai ba” cứ như là bốn mươi thằng Nguyên vậy. Thì tôi đã nói từ đầu, học ngoại ngữ phát âm là quan trọng mà, giao tôi dạy thì học trò nói giọng tôi là đúng quá rồi! Nhưng dần dần họ nghe quen giọng các thầy, lại giao tiếp với các học viên VN trong lớp, và dễ dàng tiếp thu các bài học chuyên môn. Tôi thấy mừng vì mình đã có công đặt những cơ sở ban đầu của tiếng Việt cho họ.

Từ đó đã gần bốn chục năm trôi qua. Tôi tiếc là bốn tập giáo trình dạy tiếng Việt cho bộ đội CPC in roneo mà tôi biên soạn hồi ấy được lưu trong thư viện nhà trường nay cũng không còn. Trong đó các bài khóa (text) phần nhiều tôi đều dịch từ một cuốn sách tiếng Nga dạy cho người làm kỹ thuật mà đến nay tôi cũng không nhớ là làm sao tôi có được trong tay, chắc có lẽ tôi đã cầm theo khi chuyển quân từ Bắc vào.

Sáu tháng dạy tiếng Việt cho bộ đội CPC được tôi ghi nhật ký đều đặn. Xin trích mấy đoạn.

“Lên lớp buổi đầu tiên cho các bạn CPC. Chưa đi vào chương trình chính thức. Mới cùng Dung nói vài lời mở đầu, tự giới thiệu, thì Dung phải theo quân y đưa mấy chiến sĩ bạn đi viện 175. Còn lại mình xoay xỏa với 36 anh em khác. Mình dùng tiếng Pháp tóm lược nội dung chương trình cho bạn biết, vừa nói vừa viết bảng cũng hiểu được, vì khá đông anh em CPC qua trung học đã có biết tiếng Pháp. Hơn nữa tiếng Việt và tiếng Khơme cũng vốn là gần gũi nhau, khi phát âm dễ tiếp thu. Mới ngay một buổi sáng mình đã cho tập phát âm, tập viết, tập ghép vần 9 nguyên âm và 10 phụ âm. Anh em hiểu được, nắm được khá nhanh, chỉ có điều là họ nói thường bỏ mất thanh điệu và do đó khi viết không có các dấu thanh.” (Thứ năm – 16/10/1980)

“Tối trò chuyện với một vài anh em CPC, hiểu hơn về cuộc sống bên trong của họ. Kinko có một người yêu tên là Bunnary, 19 tuổi, làm y tá ở Phnom Penh, viết thư tình bằng tiếng Pháp khá hay. Tes Moni lặng lẽ vẻ ngoài nhưng lại có một nội tâm phong phú. Sống có tâm hồn. Ty Soe Kha vui vẻ, nói cười luôn miệng, thường thích kêu đùa là tiếng Việt khó học nhưng lại rất chăm học; chiều nay trong giờ đặt câu anh chiến sĩ bạn đó đã viết được một câu như thế này – “tối qua thời tiết lạnh buốt làm cho tôi không ngủ được, nhớ nhà”. Lại nhớ mới mấy hôm trước Chuân Pâu viết trong bài kiểm tra về nhà – “Yêu là kẻ thù của học tập”; anh bạn này khá thạo tiếng Pháp, tỏ ý không thích toán, lý, hóa, mà lại thích droit politique (luật chính trị – PXN dịch)”. (Thứ hai – 27/10/1980).

Tôi ra quân tháng 6/1982 và không hề có tin tức, liên lạc gì với các chiến sĩ CPC – học viên tiếng Việt của tôi. Nhiều lần đi du lịch sang đất nước chùa tháp tôi cũng đã có ý định tìm kiếm họ nhưng không có kết quả. Tôi muốn biết số phận họ về sau thế nào – có thể có người trong số họ sẽ giữ những vị trí quan trọng trong quân đội hoàng gia CPC vì đây là lứa cán bộ đầu tiên được cử đi học sau ngày 7/1/1979, và tiếng Việt giọng Nghệ của tôi họ còn lưu giữ không. Giá mà gặp được người nào trong số họ để thầy trò cùng nói tiếng Nghệ giữa thủ đô Phnom Penh thì cũng thú vị.

Phạm Xuân Nguyên

【#6】Ký Ức Dạy Tiếng Việt Trên Đất Campuchia

Dạy tiếng Việt tạo nền tảng ngôn ngữ cho các SV Campuchia tiếp thu những môn khoa học kỹ thuật của giảng viên Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ.

Lúc ấy, lực lượng cán bộ sang Campuchia dạy tiếng Việt phần lớn là giảng viên (GV) đến từ các trường: ĐH Tổng hợp Hà Nội, ĐH Tổng hợp TPHCM (nay là Trường ĐH KHXH&NV), ĐH Sư phạm Hà Nội… Một số GV ngày đó mới tốt nghiệp ĐH được giữ lại trường để hình thành tổ tiếng Việt trong khoa Ngữ văn, đã hăng hái nhận nhiệm vụ sang giúp nước bạn.

Cô Minh Hằng (phải) chia tay các SV trước ngày về nước. Ảnh: NVCC

Ký ức khó phai

Đã hơn 30 năm kể từ chuyến xuất ngoại đầu tiên sang Campuchia giảng dạy tiếng Việt, nhưng hình ảnh về con người, đất nước chùa Tháp vẫn còn in đậm trong tâm trí TS Lê Thị Minh Hằng – GV tiếng Việt, Khoa Việt Nam học thuộc Trường ĐH KHXH&NV TPHCM.

Ngày ấy, cô Hằng vừa mới ra trường được vài năm, đang làm công việc giảng dạy tiếng Việt tại Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Tổng hợp TPHCM. Theo lời cô, việc cử giáo viên sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế của Trường ĐH Tổng hợp TPHCM bắt đầu từ năm 1986. Theo lịch trình, cô được phân công đi chuyến đầu tiên. Nhưng do có bầu nên phải sau khi sinh em bé được 14 tháng, cô mới gửi con cho gia đình và lên đường sang nước bạn làm nhiệm vụ.

“Tôi và 3 thầy cô của khoa (thầy Huỳnh Chương Hưng, Trần Ngọc Hồng, cô Huỳnh Thị Thanh Xuân) đi chuyến thứ hai, tức là năm học 1988 – 1989, thay cho các thầy cô khác của khoa đi chuyến thứ nhất vừa hoàn thành nhiệm vụ trở về. Lúc đó, nhiệm vụ được giao của chúng tôi là giúp đỡ nhân dân Campuchia xây dựng lại đất nước sau thời kỳ đen tối dưới chế độ Khmer Đỏ, về lĩnh vực giáo dục”.

Lúc bấy giờ, phương tiện đi lại còn hạn chế nên phần lớn các GV sang dạy tiếng Việt ở Campuchia di chuyển bằng đường bộ. “Chúng tôi đến Campuchia bằng chuyến xe khởi hành lúc 7 giờ sáng mà mãi đến 5 giờ chiều mới đến nơi vì thủ tục kiểm tra tại cửa khẩu Mộc Bài khá phức tạp, nhất là khâu kiểm tra hành lý, hàng hóa trên xe. Cuối cùng chúng tôi cũng được đưa đến trường để gặp gỡ các vị trong Ban giám hiệu và bắt đầu nhận công việc mới” – cô Hằng nhớ lại.

Sau khi tới trường nhận nhiệm vụ, cô Hằng và các đồng nghiệp được bố trí ở trong khu nhà của chuyên gia Việt Nam (gần đó là khu chuyên gia Liên Xô) cùng với các thầy cô giáo của các trường: ĐH Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội. “Một vài thầy cô công tác ở đây đến 5 năm, nói tiếng Campuchia rất giỏi. Lúc đầu thì có bếp ăn tập thể do một cô gái người Campuchia nấu, sau thì mọi người nấu ăn riêng cho hợp khẩu vị…” – cô Hằng kể.

Ngôi trường mà cô Hằng và các đồng nghiệp tham gia giảng dạy là Trường ĐH Tổng hợp Phnompenh có diện tích khá rộng, nằm cách trung tâm Phnompenh khoảng 10 km. “Trong khuôn viên trường có một hồ sen rất lớn. Hồ sen này đẹp đến nỗi khi nhớ về ngôi trường này là tôi nhớ ngay đến nó. Tôi cũng luôn nhớ con đường đến trường, hai bên đường là hai hàng cây hoàng hậu tím ngắt. Khi nhìn thấy chúng, tôi đã thốt lên: Ồ, không ngờ Phnom Penh lại đẹp đến vậy…” – cô Hằng chia sẻ.

chúng tôi Bùi Khánh Thế

Ngày nào cũng mặc áo dài đi dạy

Lần đầu sang nước bạn đi dạy, cô Hằng không hình dung được việc mặc trang phục như thế nào để đứng lớp, nên mang sẵn áo dài từ Việt Nam sang. Ngày nào đi dạy cô cũng mặc áo dài. “Những ngày đầu lên lớp rất bỡ ngỡ, nhưng rồi tất cả cũng vào quy củ. Tôi dạy tiếng Việt, cũng không biết một chữ tiếng Campuchia và không có hỗ trợ phiên dịch nhưng tới lúc kết thúc khóa học thì thấy tiếng Việt của các em có tiến bộ rất nhiều” – cô Hằng cho biết.

Khu nhà cô Hằng và các thầy cô Việt Nam ở, không lúc nào vắng bóng học trò. Các em thường xuyên đến chơi, mang bánh trái, mật ong biếu, hoặc đưa các thầy cô đi tham quan các cảnh đẹp trong thành phố. Có khi các em kể chuyện gia đình, hầu như không gia đình nào trong các em là không có người thân bị giết hại, phải tận tai nghe thì mới hiểu người Campuchia phải chịu khổ như thế nào.

“Tôi đã tận mắt thấy các vết máu của người Campuchia bị tra tấn còn sót lại trong các bức tường của các căn nhà và cũng đã đến thăm nhà tù Toul Sleng, để rồi rùng mình trước tội ác của chế độ Khmer Đỏ. Chúng tôi được lệnh không ra khỏi nhà sau 9 giờ tối. Tuy vất vả nơi đất khách xứ người, nhưng bù lại tôi và các đồng nghiệp được nhà trường đối xử rất trọng thị, được tạo mọi điều kiện trong giảng dạy và sinh hoạt, được đi thăm Angkor Wat, Angkor Thom bằng máy bay, được đưa về nước bằng đường hàng không”, cô Hằng cho biết.

Thời gian nhanh chóng trôi qua, khóa học kết thúc, cô Hằng cùng các đồng nghiệp về nước, mang theo những lưu luyến khi phải rời xa nơi này. “Vào những ngày cuối cùng tôi thấy thật buồn, như là mình đã để lại cả một ‘con tim’. Các em sinh viên tổ chức tiệc lớn, tiệc nhỏ chia tay thầy cô, cùng những điệu múa Khmer truyền thống, có hoa, có quà và có cả… lệ rơi” – cô Hằng tâm sự.

“Đất nước Campuchia thời điểm đó hầu như tan nát không còn gì, bởi tất cả các giá trị tri thức bị chế độ Khmer Đỏ hủy diệt hết. Chúng tôi cùng một số trí thức của chính quyền Campuchia mới thành lập, đi tìm những người có trình độ còn sống sót để đưa về đào tạo gầy dựng lực lượng trí thức nòng cốt, tái thiết lại Trường ĐH Tổng hợp Phnom Penh.

Trong đó, việc dạy tiếng Việt cho SV Campuchia là một nội dung quan trọng, vì khi biết tiếng Việt thì các em mới tiếp cận được các môn KHKT khác của giảng viên Việt Nam. Ngày Trường ĐH Tổng hợp Phnom Penh khánh thành, hoạt động trở lại, tôi là người chấp bút soạn diễn văn bằng tiếng Việt và được một Thứ trưởng của Bộ Giáo dục Campuchia lúc bấy giờ dịch sang tiếng Campuchia”.

GS.TS.NGND Bùi Khánh Thế (nguyên Trưởng đoàn chuyên gia giáo dục Trường ĐH Tổng hợp TPHCM ở Campuchia từ 1986 đến 1989)

【#7】‎học Tiếng Nhật Hiragana Và Katakana Miễn Phí

Phiên bản 1.1.2

Very helpful even if you don’t memorize

Super simple. You can just find what phrase you are looking to say and let the other person hear it and they will understand.

The negative is that the upgrade costs a lot. But you get the most important basics with the free version.

Hello Jijup, we are happy that you like our app so much. Your kind words mean a lot to us. Reviews like these are the reason we wake up every day! Don’t hesitate to write us any time at [email protected] All the best, have fun learning, Monticha from Simya

Highly suggested

I really like this app and it’s even better once you pay the small charge for full access. It has other words and phrases I haven’t found with other apps so it’s great!

すごい!Great! Toll!

Hi Kiku miku, wow!! I will give your kind words to the team. Feedback like yours is what keeps us going! Should you have any questions at all, drop us a message on [email protected]! Thanks again, Monticha from Simya

Nhà phát triển Simya Solutions Ltd. chưa cung cấp cho Apple thông tin chi tiết về các phương thức đảm bảo quyền riêng tư cũng như cách xử lý dữ liệu của họ.

Thông Tin Chi Tiết Chưa Được Cung Cấp

Nhà phát triển sẽ buộc phải cung cấp thông tin chi tiết về quyền riêng tư khi họ gửi bản cập nhật tiếp theo của ứng dụng.

Thông Tin

Người bán
Simya Solutions Ltd.

Tương thích

Yêu cầu phiên bản iOS 9.0 trở lên. Tương thích với iPhone, iPad và iPod touch.

Ngôn Ngữ

Tiếng Việt, Bokmål, Na Uy, Cộng hòa Séc, Filipino, Nhạc Punjab, Tiếng Anh, Tiếng Ba Lan, Tiếng Bengali, Tiếng Bungari, Tiếng Bồ Đào Nha, Tiếng Campuchia, Tiếng Croatia, Tiếng Do Thái, Tiếng Hindi, Tiếng Hungary, Tiếng Hy Lạp, Tiếng Hà lan, Tiếng Hàn, Tiếng Indonesia, Tiếng Mã Lai, Tiếng Nga, Tiếng Nhật, Tiếng Pháp, Tiếng Phần Lan, Tiếng Slovak, Tiếng Tamil, Tiếng Thái, Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Tiếng Thụy Điển, Tiếng Trung Giản Thể, Tiếng Trung Phồn thể, Tiếng Tây Ban Nha, Tiếng Urdu, Tiếng Ý, Tiếng Đan Mạch, Tiếng Đức, Tiếng Ả Rập

Bản quyền
© 2021 Simya Solutions Ltd.

Mua In-App
  1. Simply Learn Japanese Pro 9,99 US$
  2. Category Romance 1,99 US$
  3. Category Conversation 1,99 US$

    Chia Sẻ Trong Gia Đình

    Tối đa sáu thành viên gia đình sẽ có thể sử dụng app này khi bật tính năng Chia Sẻ Trong Gia Đình.

【#8】Rmit Việt Nam Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giảng Dạy Tiếng Anh

(DĐDN) Trong năm vừa qua, các giáo viên chương trình tiếng Anh của RMIT đã liên tục tạo dựng danh tiếng hàng đầu về công tác giảng dạy tiếng Anh (ELT- English Language Teaching) cho Đại học RMIT tại Việt Nam và khu vực châu Á.

13 giáo viên Tiếng Anh của Đại học RMIT Việt Nam đã tham gia thuyết trình tại năm hội nghị quốc tế về giảng dạy tiếng Anh (TESOL), chia sẻ hiểu biết từ kinh nghiệm có được trong quá trình giảng dạy ở Việt Nam.

Cô Fiona Wiebusch – Điều phối viên phát triển năng lực giáo viên Tiếng Anh tại Đại học RMIT Việt Nam cho biết: “Chủ đề của những hội nghị này tập trung tìm hiểu các phương pháp giảng dạy sáng tạo, vì vậy chúng tôi thật sự phấn khởi khi các phương pháp giảng dạy của mình tại RMIT Việt Nam đã được ghi nhận năm nay.”

Cô Fiona chia sẻ thêm: “Tham gia các nghiên cứu hành động, xây dựng hội thảo và tham dự thuyết trình tại hội nghị đang là các tiêu chí chính của chương trình phát triển năng lực giáo viên tại Đại học RMIT Việt Nam, vì vậy chúng tôi rất phấn khởi khi được chia sẻ kinh nghiệm và chuyên môn với các đồng nghiệp khác và cũng để học hỏi kinh nghiệm từ họ”.

Mở đầu cho chuỗi sự kiện là chương trình Tiếng Anh TESOL của Đại học RMIT Việt Nam vào tháng 9/2011, với sự tham gia của hơn 250 giáo viên tiếng Anh trong và ngoài nước tại hội nghị giảng dạy chuyên đề tổ chức tại cơ sở Nam Sài Gòn. Tháng 2/2012, 9 giáo viên tiếng Anh của RMIT Việt Nam đã tham gia thuyết trình tại Hội thảo Quốc tế về Phương pháp giảng dạy CamTESOL tổ chức thường niên lần thứ 8 tại Campuchia.

Những thách thức và cơ hội mà phương pháp giảng dạy và học tập dựa trên nhiệm vụ thực tế mang lại đang được chú trọng hàng đầu trong phương pháp giảng dạy của cộng đồng giáo viên toàn cầu. Đó cũng là lý do giúp Đại học RMIT Việt Nam có thêm bốn giảng viên tiếng Anh tham gia thuyết trình thành công tại hội nghị của Tổ chức Giáo viên ngôn ngữ Nhật Bản diễn ra vào tháng 5 vừa qua tại Osaka, Nhật Bản.

5 giáo viên của RMIT Việt Nam đã tham dự Hội nghị Quốc tế uy tín KoTESOL lần thứ 20 được tổ chức tại Đại học nữ Sookmyung ở Seoul, Hàn Quốc.



【#9】Đẩy Mạnh Việc Dạy Và Học Tiếng Việt Ở Nước Ngoài: Lan Tỏa Tình Yêu Quê Hương

Phong trào phát triển rộng khắp

Dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, hiện đã trở thành một phong trào phát triển rộng khắp. Theo thống kê của Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao), ở Mỹ có khoảng 200 trung tâm/cơ sở dạy tiếng Việt, Thái Lan có 39 lớp, Campuchia có 33 điểm trường/lớp, Lào có 13 trường/trung tâm dạy tiếng Việt. Ngoài ra, ở Pháp, Đức, Cộng hòa Czech, Nga… cũng tổ chức được hàng chục trung tâm dạy tiếng Việt.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài Lương Thanh Nghị nhận định, việc dạy và học tiếng Việt cũng như bảo tồn tiếng Việt là nguyện vọng chính đáng và nhu cầu thiết yếu của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Thời gian qua, Ủy ban đã tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên dạy tiếng Việt là kiều bào ở nhiều nước với hy vọng các thầy, cô giáo được nâng cao kiến thức sư phạm, hoàn thiện kỹ năng, có thêm kinh nghiệm, động lực để vượt qua những khó khăn trong sự nghiệp “gieo chữ” cho người Việt ở nước ngoài. Cô giáo Nguyễn Phương Dung (kiều bào Belarus) chia sẻ: “Những kiến thức thu được từ các khóa học và trải nghiệm từ hoạt động thực tế tại quê hương là động lực để các giáo viên kiều bào tiếp tục công việc giảng dạy tiếng Việt ở nước sở tại”.

Tuy nhiên, theo Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, chủ biên bộ sách “Tiếng Việt vui”, đồng thời là người chủ trì xây dựng chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, điều kiện dạy học ở mỗi cộng đồng kiều bào tại các nước có những điểm khác nhau, nên hai bộ sách trên chỉ là tài liệu để giáo viên tham khảo, linh hoạt sử dụng hoặc dựa vào đó biên soạn giáo án. Thực tế này đòi hỏi cần tiến hành nghiên cứu bổ sung để xây dựng một giáo trình hoàn chỉnh, chuẩn hóa, đáp ứng nhu cầu học tiếng Việt của bà con kiều bào ở nhiều nước, trên nhiều địa bàn khác nhau.

Tại lễ ra mắt bộ học liệu, chúng tôi Nguyễn Lân Trung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài cho biết, học và dạy tiếng Việt là xu thế tất yếu khi Việt Nam có tới trên 5 triệu kiều bào tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có một giáo trình nào được xem là đáp ứng toàn diện nhu cầu chuyên môn. Thế nên, bộ học liệu “Xin chào Việt Nam” phù hợp với chủ trương của hội là tăng cường các giáo trình về dạy và học tiếng Việt dành cho bà con kiều bào. “Tôi hy vọng rằng, chương trình này cùng với những đề án khác đang được triển khai sẽ nâng cao phạm vi, chất lượng dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”, chúng tôi Nguyễn Lân Trung nói.

Thời gian qua, với nỗ lực của các cơ quan, tổ chức trong nước và những hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài, chất lượng công tác dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng kiều bào đang được nâng cao theo hướng chuyên nghiệp và chuẩn hóa. Thành quả này góp phần tích cực vào việc bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ, tạo sợi dây gắn kết người Việt trẻ với quê hương, đất nước, nhất là trong bối cảnh các thế hệ thứ ba, thứ tư sinh ra và lớn lên ở nước ngoài; cũng như duy trì, phát huy bản sắc dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

【#10】Bí Quyết Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Trẻ 3

Ngày nay, tiếng anh không còn xa lạ đối với các bậc phụ huynh, do đó để mang lại hiệu quả học tiếng anh cho bé thì nên cho các bé tiếp xúc với tiếng anh càng sớm càng tốt, đặc biệt là các trẻ ở độ tuổi từ 3 đến 4 tuổi, khi mà khả năng hình thành ngôn ngữ giao tiếp của các bé đang bắt đầu hoàn thiện, thì việc cho bé trau dồi thêm ngôn ngữ tiếng anh là một phương pháp hiệu quả để hình thành tư duy ngôn ngữ phản xạ cho bé sau này.

Nhiều bậc phụ huynh tự hỏi? Trẻ 3, 4 tuổi học tiếng Anh được chưa?

Xin thưa: Về mặt khoa học thì khi trẻ bắt đầu lên 3 đến 4 tuổi là thời điểm tốt nhất để trẻ tiếp thu được một ngoại ngữ mới, song song với tiếng mẹ đẻ… Do đó, nên dạy tiếng anh cho trẻ 3, 4 tuổi càng sớm càng tốt, tuy nhiên cần phải đúng phương pháp để cuốn hút trẻ.

Đối với trẻ nhỏ thì (Tiếng Việt cũng như là ngôn ngữ tiếng anh), chỉ khác duy nhất là tiếng việt thì thuận lợi hơn về môi trường (do mọi người trong gia đình đều nói tiếng việt) nên khả năng bắt chiếc của trẻ nhanhhơn, cũng như mọi người dễ dàng “chỉnh” cho trẻ mỗi khi trẻ nói sai. Tuy nhiên không phải vì thế mà ngôn ngữ “Tiếng anh” của trẻ không thể phát huy, mà chỉ do phương pháp tiếng cận của bố mẹ với cách học tiếng anh của con, do đó việc cho học song song cả 2 ngôn ngữ trong độ tuổi này là tốt nhất.

Có thể nói giai đoạn 3-4 tuổi là giai đoạn tốt nhất để học ngoại ngữ, đây là giai đoạn mà trẻ có thể thẩm thấu và phát âm ngoại ngữ một cách chuẩn xác nhất. Hầu hết các trẻ học tiếng Anh giai đoạn này đều có khả năng nói tiếng Anh như người bản ngữ.

Tại sao lại đưa ra luận điểm”Trẻ được tiếp xúc với tiếng anh càng sớm càng tốt”:

Một số ý kiến cứ nói là trẻ con nhỏ biết gì mà học, tiếng Việt còn chưa sõi… Trên thực tế, ở các nước phát triển, phụ huynh thường cho con học ngoại ngữ ở các trường học dạy ngoại ngữ cho trẻ từ khi trẻ 6 tháng tuổi. Vậy nên dạy tiếng Anh cho trẻ 3, 4 tuổi là thời điểm tuy là không sớm nhưng rất cần thiết. Một dẫn chứng không xa lạ: Nếu như các bạn đã qua nước Campuchia – khả năng ngôn ngữ của nước bạn đối với tiếng anh tốt hơn Việt Nam về độ phổ biến rất nhiều, tất cả các quán ăn,siêu thị, nhà hàng,trường học, người dân đều có khả năng nói tiếng anh, tỷ lệ thanh niên tốt nghiệp đại học nghe nói tiếng anh tốt chiếm trên 96%. Tại sao lại có điều đó: Bởi các trẻ nhỏ ở Campuchia từ 6 tháng tuổi khi học mẫu giáo đã tiếp xúc với ít nhất 3 ngôn ngữ trong đó chủ đạo là tiếng bản địa: Khmer, tiếng anh và tiếng trung quốc, đến tầm độ tuổi 3-4 tuổi các bé có thể hát những bài hát tiếng anh, nói những câu giao tiếp đơn giản bằng tiếng anh, đến độ tuổi trước khi đi học lớp 1 các bé đã nói khá tốt tiếng anh, giao tiếp tốt với những văn cảnh cơ bản.

Làm thế nào để trẻ hình thành tư duy ngôn ngữ:

Đó là phương pháp mà các bậc phụ huynh cần áp dụng để trẻ không bị nhầm lẫn. Để có thể dạy tiếng Anh cho trẻ 3, 4 tuổi mà trẻ không bị rối loạn ngôn ngữ thì phải phân biệt rạch ròi Tiếng Anh và Tiếng Việt. Phụ huynh có thể quy định những thời gian học cho bé và nguyên tắc quan trọng là dạy Tiếng Anh thì chỉ dùng Tiếng Anh và dạy Tiếng Việt thì chỉ dùng Tiếng Việt.

Dạy tiếng anh cho trẻ 3, 4 tuổi cần phải kiên trì:

Đối với trẻ nhỏ, mọi việc cần phải kiên trì, tạo ra sự hứng thú cuốn hút trẻ ham học, dạy tiếng anh cho trẻ cũng vậy, đây là một việc không quá khó, cũng chẳng dễ dàng. Một số bậc phụ huynh cho con đi học thì rất sốt ruột muốn biết kết quả ngay, phải biết con biết từ này và nói được câu này. Vô hình chung là đầy đọa mình và con mình, vì hầu hết không có super kid, tất cả theo một quỹ đạo rất bình thường: mưa dần thấm lâu: Văn ôn võ luyện, thực tế trẻ chỉ nói khi trẻ thấy cần thiết, hay khi trẻ thích…

Dạy tiếng anh cho trẻ là phải dạy chuẩn ngay từ đầu:

Nếu bố mẹ không biết tiếng anh cũng không sao, quan trọng là bố mẹ tìm cho con những người nói tiếng anh tốt, đặc biệt ưu tiên là những cô giáo bản xứ, các thầy cô giáo bản xứ sẽ giúp các con, và chỉnh cho các con một cách chuẩn xác việc phát âm đúng các từ. Về nhà bố mẹ có thể mở các bài hát “Không có hình” chỉ có lời để cho các con nghe vào thời điểm sáng ngủ dậy và tối trước khi đi ngủ, đó là 2 thời điểm tốt nhất để hội tụ tiếng anh cho trẻ.

Tại sao chúng tôi lại ưu tiên giáo viên bản ngữ: Giáo viên bản ngữ có 2 lợi thế hơn so với người Việt: trẻ con bắt buộc phải nghe và hiểu họ vì họ không nói và không hiểu được tiếng Việt (khả năng phản xạ đã nói ở trên); và nói gì thì nói, phương pháp dạy của họ luôn tiên tiến hơn, họ cũng giỏi khuấy động phong trào hơn người Việt mình, không ngại nhảy, không ngại hát, không ngại nói…, tất cả đều làm cho trẻ hứng thú bắt chước và sẽ hội tụ dần dần về tư duy ngôn ngữ.

Dạy tiếng anh cho trẻ 3, 4 tuổi với nhiều hình thức khác nhau

Cứ tưởng tượng con bạn ở nước ngoài, nó sẽ giao tiếp với người nước ngoài, nó sẽ xem TV nước ngoài, nghe nhạc nước ngoài… Vậy nên hãy cố tạo cho con bạn một môi trường ngôn ngữ như thế: Xem TV bằng tiếng Anh (đĩa, cable TV), nghe nhạc tiếng Anh, kể cả nhạc người lớn, giao tiếp với người nước ngoài (đi học, đi giao lưu).