Clip Dạy Ngữ Pháp Tiếng Anh

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Clip Dạy Ngữ Pháp Tiếng Anh xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 22/01/2021 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Clip Dạy Ngữ Pháp Tiếng Anh để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 495 lượt xem.

Có 8 tin bài trong chủ đề【Clip Dạy Ngữ Pháp Tiếng Anh】

【#1】Tổng Hợp Ngữ Pháp Tiếng Anh Từ Lớp 6 Đến Lớp 9

I. Ngữ Pháp Tiếng Anh: Either, Neither

1, Câu trả lời ngắn với either và neither

“Either và neither được dùng trong câu phủ định, để thể hiện sự đồng thuận mang ý phủ định giữa các người nói với nhau về một sự việc nào đó.

*Cấu trúc:

– Either: đứng ở cuối câu: S + trợ động từ + not + either

VD: I didn’t either; I don’t either; She doesn’t either…..

– Neither: đứng ở đầu câu: Neither + trợ động từ + S

VD: Neither do I, Neither did he……

2, Either và Neither được dùng làm đại từ:

– either có nghĩa là hoặc cái này hoặc cái kia, neither có nghĩa là không cái này mà cũng không cái kia.

– either và neither khi được dùng làm đại từ sẽ đứng một mình, động từ chính trong câu chia theo ngôi thứ ba số ít

Ví dụ:

I tried Asus and Oppo phones before, but neither was good. (Tôi đã thử dùng điện thoại Asus và Oppo trước đây. Nhưng không có cái nào tốt cả.)

Do you want tea or coffee? – Either is good for me.

(Bạn uống trà hay cà phê? – Cái nào cũng được hết.)

3, Một số cách dùng khác của either và neither:

*NEITHER

1. neither + Noun số ít

Ở trường hợp này neither được xem như một “người xác định” cho danh từ số ít đứng sau nó.

Ví dụ:

Neither member of our group came to the meeting yesterday. (Không có thành viên nào trong nhóm chúng tôi đi họp ngày hôm qua.)

2. neither + of + đại danh từ

– Trong cấu trúc này, of luôn phải đứng giữa neither và danh từ

– Động từ phải chia ở số ít

– Chỉ có 3 đại danh từ được dùng với neither of là you, them, us

Ví dụ:

Neither of us knows that Mr. Blank passed away. (Không ai trong chúng tôi biết rằng thầy Blank đã qua đời.)

Neither of you is approved for this vacancy. I’m so sorry. (Các bạn không được chấp nhận cho vị trí này. Tôi rất tiếc.)

3. neither + of + từ xác định + Noun số nhiều

Các từ xác định thường dùng trong cấu trúc này là: a, an, the, my, his, their, this, that

Lưu ý: Động từ phải chia theo ngôi thứ ba số ít (dù danh từ ở dạng số nhiều)

Ví dụ:

Neither of my friends knows how my brother looks like. (Không có đứa bạn nào của tôi biết mặt anh trai tôi.)

Neither of the dresses fixed me. (Không có cái váy nào vừa với tôi cả.)

4. Neither … nor:Đây là một cặp liên từ tương quan, được dùng để diễn tả sự phủ định kép, không cái này cũng không cái kia.

Ví dụ:

Neither me nor my friends want to talk with her. (Cả tôi lẫn bạn tôi đều không muốn nói chuyện với cô ta.)

*EITHER

1. either + Noun số ít:

Trong trường hợp này, either được sử dụng như một từ xác định ( determiner) trước danh từ số ít

Ví dụ:

A: Where do you want to have dinner, at home or outside?

B: Either option is fine for me.

(Bạn muốn ăn tối ở đâu, ở nhà hay ngoài tiệm? – Cái nào cũng được hết.)

2. either + of + Đại danh từ

– Cấu trúc either of đi với một tân ngữ đại từ (thường là us, you, them)

Ví dụ:

I know Clara and Jason. Either of them loves volleyball.

(Tôi biết Clara và Jason. Cả hai bọn họ đều thích bóng chuyền.)

– Either có khi được sử dụng độc lập trong câu, lúc này nó có nghĩa là người nói không quan tâm đến sự lựa chọn, cái nào cũng được, đôi khi nó còn đi với từ “one”

Ví dụ:

A & B: We will eat out tonight. Do you want to eat seafood or pizza?

C: Either one.

(Bọn tôi tính ra ngoài ăn tối nè. Cậu muốn ăn hải sản hay pizza – Cái nào cũng ăn hết.)

3. either + of + từ xác định + Noun số nhiều

Các từ xác định thường dùng trong cấu trúc này là: a, an, the, my, his, their, this, that

Ví dụ:

Either of the dishes is delicious. (Cả hai món ăn đều rất ngon miệng.)

Either of his cars was broken last month. (Tháng rồi cả hai chiếc xe của anh ta đều hư hết.)

4. either … or: Đây là cặp liên từ tương quan được dùng để diễn tả sự lựa chọn: hoặc là cái này, hoặc là cái kia

Ví dụ: I want to have either tea or juice. (Tôi muốn uống trà hoặc cà phê.)

II. Ngữ Pháp Tiếng Anh: CÂU ĐIỀU KIỆN

NHỮNG KTCB VỀ CÂU ĐIỀU KIỆN:

* Câu điều kiện được dùng để nêu lên một giả thiết về một sự việc, mà sự việc đó chỉ có thể xảy ra khi điều kiện được nói đến xảy ra.

* Cấu tạo:

Cấu tạo của câu điều kiện bao gồm hai mệnh đề:

Mệnh đề If (If clause): là mệnh đề điều kiện, hay mệnh đề phụ

Mệnh đề chính (main clause): là mệnh đề kết quả, hay mệnh đề chính

Cách sắp xếp mệnh đề chính và mệnh đề phụ trong câu điều kiện:

If – clause, main – clause

Mệnh đề If đứng trước mệnh đề chính và cả hai được ngăn cách với nhau bởi dấu phẩy (hoặc chấm phẩy).

Main – clause If – clause

Mệnh đề If đứng sau mệnh đề chính thì không cần dùng dấu phẩy (hoặc chấm phẩy)

* Các từ điều kiện:

Mệnh đề điều kiện thường được bắt đầu với các từ như: if, unless (= if … not); provided (that) (= if only); so long as (as long as); on condition that (miễn là, với điều kiện là); suppose; supposing (giả sử như); in case (trong trường hợp); even if (ngay cả khi, dù cho)

CÁC LOẠI CÂU ĐIỀU KIỆN

* Câu điều kiện loại 0:

* Chức năng:Câu điều kiện loại 0 diễn tả một chân lý, sự việc luôn luôn đúng.

* Cấu trúc:

If clause (Simple psent), main clause (simple psent).

If + chủ ngữ 1 + động từ (chia theo chủ ngữ 1) , chủ ngữ 2 + động từ (chia theo chủ ngữ 2)

Nếu chủ ngữ là I/ they/ you/ we thì động từ giữ nguyên.

Nếu chủ ngữ là She/ he/ it thì động từ phải thêm -s/-es/-ies.

Ví dụ:

If you heat the ice, it smelts. (Nếu bạn đun nước đó, nó sẽ tan chảy)

The water reaches 100 degree if you heat it. (Nước sẽ đạt nhiệt độ 100 độ C nếu bạn đun sôi nó)

* Câu điều kiện loại 1: diễn tả một sự việc/ hành động có thể xảy ra ở hiện tại hoặc tương lai.

Cấu trúc:

If clause (simple psent), main clause (simple future).

If + chủ ngữ 1 + động từ (chia ở hiện tại đơn) , chủ ngữ 2 + will + V

Will có thể được thay bằng can/ may/ shall/ must

– Mệnh đề chính và mệnh đề if có thể đứng trước hoặc đứng sau đều được

Ví dụ:

If you take this medicine, you will feel better. (Nếu bạn uống thuốc, thì bạn sẽ thấy đỡ hơn đó.)

If it stops raining, we can go out. (Nếu như trời ngừng mưa thì chúng ta có thể đi ra ngoài.)

* Câu điều kiện loại 2:

– Câu điều kiện loại 2 là câu điều kiện không có thực ở hiện tại.

– Câu điều kiện loại 2 được sử dụng để diễn tả một điều không thể xảy ra ở hiện tại hoặc tương lai, chỉ là một giả thiết, một ước muốn trái ngược với thực trạng hiện tại.

Cấu trúc:

If clause S + V ( QKĐ), Main clause [S + would/ could (not) + V + …].

If + chủ ngữ 1 + V-ed/-d( BQT) (to be: were), chủ ngữ 2 + would/ could (not) + V

Ví dụ:

– If I were you, I would help him.

– If you tried hard again, you would succeed.

* Câu điều kiện loại 3:

– Câu điều kiện loại 3 là câu điều kiện không có thực trong quá khứ.

– Câu điều kiện loại 3 được dùng để diễn tả một điều không thể xảy ra trong quá khứ, chỉ mang tính ước muốn trong quá khứ, một giả thiết trái ngược với thực trạng ở quá khứ.

Cấu trúc:

If clause QKHT, main clause (could/ would + have + P2/ ed)

If + chủ ngữ 1 + had + P2/ -ed/ d, chủ ngữ 2 + would/ could + have +P2/-ed

Ví dụ:

If he had studied hard, he would have passed his exams. (Nếu cậu ta học hành chăm chỉ, thì cậu ta đã đậu kỳ thi rồi.)

If I had known she was sick, I would have visited her. (Nếu tôi biết cô ấy bị bệnh, thì tôi đã tới thăm cô ấy rồi.)

III. 55 Cấu trúc V-ing trong Tiếng Anh

1. ADMIT DOING SOMETHING: Chấp nhận đã làm gì

2. AVOID DOING SOMETHING: Tránh làm gì

3. DELAY DOING SOMETHING: Trì hoãn làm gì

4. DENY DOING SOMETHING: Phủ nhận làm gì

5. ENJOY DOING SOMETHING: Thích làm gì

6. FINISH DOING SOMETHING: Hoàn thành làm gì

7. KEEP DOING SOMETHING: Tiếp tục, duy trì làm gì

8. MIND DOING SOMETHING: Bận tâm làm gì

9. SUGGEST DOING SOMETHING: Gợi ý làm gì

10. LIKE DOING SOMETHING: Thích làm gì

11. HATE DOING SOMETHING: Ghét làm gì

12. LOVE DOING SOMETHING: Thích làm gì

13. CAN’T BEAR DOING SOMETHING: Không thể chịu được làm gì

14. CAN’T STAND DOING SOMETHING : Không thể chịu được làm gì

15. CAN’T HELP DOING SOMETHING : Không thể tránh được làm gì

16. LOOK FORWARD DOING SOMETHING: Trông mong làm gì

17. ACCUSE SOMEBODY OF DOING SOMETHING: Buộc tội ai làm gì

18. INSIST SOMEBODY ON DOING SOMETHING: Nài nỉ ai làm gì

19. REMIND SOMEBODY OF DOING SOMETHING: Gợi nhớ làm gì

20. BE AFRAID OF DOING SOMETHING: Sợ làm gì

21. BE AMAZED AT DOING SOMETHING: Ngạc nhiên làm gì

22. BE ANGRY ABOU/ OF DOING SOMETHING : Giận/ Bực mình làm gì

23. BE GOOD/ BAD AT DOING SOMETHING : Giỏi/ Kém làm gì

24. BE BORED WITH DOING SOMETHING: Buồn chán làm gì

25. BE DEPENENT ON DOING SOMETHING : Phụ thuộc

26. THINK OF DOING SOMETHING : Nhớ về cái gì đó

27. THANK OF DOING SOMETHING : Nhờ vào cái gì, vào ai gì đó

28. THANK TO DOING SOMETHING : Cảm ơn ai vì đã làm gì

29. APOLOZISE FOR DOING SOMETHING : Xin lỗi ai vì cái gì đó

30. COMFRESS TO DOING SOMETHING: Thú nhận làm gì

31. COMGRATULATE SOMEBODY ON DOING SOMETHING: Chúc mừng ai vì điều gì đó

32. BE FROND OF DOING SOMETHING: Thích làm gì

33. BE GRATEFUL TO SOMEBODY FOR DOING SOMETHING: Biết ơn ai vì đã làm gì

34. BE USED TO DOING SOMETHING : Đã quen làm gì

35. WARN SOMEBODY ABOUT DOING SOMETHING: Cảnh báo ai việc gì hoặc làm gì

36. WARN SOMEBODY AGAINST DOING SOMETHING: Cảnh báo ai không được làm gì

37. DREAM OF DOING SOMETHING: Giấc mơ về việc gì, về ai,về làm

38. PREVENT FROM DOING SOMETHING: Ngăn cản làm gì

39. ALLOW DOING SOMETHING: Cho phép làm gì

40. CONSIDER DOING SOMETHING: Xem xét đến khả năng làm gì

41. DISKILE DOING SOMETHING: Không thích làm gì

42. DREAD DOING SOMETHING: Sợ phải làm gì

43. ENDURE DOING SOMETHING: Chịu đựng phải làm gì

44. GIVE UP = QUIT DOING SOMETHING: Từ bỏ làm gì đó

45. GO ON DOING SOMETHING: Tiếp tục làm gì đó

46. IMAGINE DOING SOMETHING: Tưởng tượng làm gì

47. INVOVLE DOING SOMETHING: Đòi hỏi phải làm gì đó

48. MISS DOING SOMETHING: Suýt đã làm gì

49. POSTPONE DOING SOMETHING: Trì hoãn làm gì

50. REMEMBER DOING SOMETHING: Nhớ đã làm gì

51. PRACTICE DOING SOMETHING : Thực tập, thực hành làm gì

52. RESENT DOING SOMETHING: Ghét làm gì đó

53. RISK DOING SOMETHING: Có nguy cơ bị làm gì đó

54. SPEND TIME DOING SOMETHING: Bỏ (thời gian) làm gì đó

55. BEGIN DOING SOMETHING: Bắt đầu làm gì đó

IV. Cấu trúc câu bị động – The Passive Voice

NHỮNG KTCB CẦN NHỚ:

*Câu bị động: Câu bị động là câu có chủ ngữ chỉ người, vật bị tác động bởi hành động của người, vật khác.

Ví dụ: The car is washed by Linh’s mother. (Mẹ của Linh rửa cái xe)

CÁC BƯỚC CHUYỂN CÂU BỊ ĐỘNG

*Bước 1: Chuyển tân ngữ chủ động thành chủ ngữ bị động

Ví dụ: My brother wrote a letter. → The letter was written by my brother

*Bước 2: Chia động từ cho thể bị động

*Bước 3: Chuyển chủ ngữ chủ động thành by + O

Lưu ý: Các đại từ như me, you, him, them, people, someone,her… thường được loại bỏ khi không muốn nêu rõ tác nhân.

*Bước 4: Vị trí của trạng ngữ trong câu bị động

– Trạng từ/trạng ngữ chỉ nơi chốn đứng trước by + O

Ví dụ: I have found the book in the closet. → The book has been found in the closet by me.

– Trạng từ/trạng ngữ chỉ thời gian đứng sau by O

Ví dụ: My dad bought a car yesterday. → A car was bought by my dad yesterday.

V. Cấu trúc câu Trực tiếp – gián tiếp

Ngữ Pháp Tiếng Anh: Câu Trực Tiếp – Gián Tiếp: NHỮNG KTCB CẦN NHỚ :

– Câu trực tiếp: Là các câu nói diễn tả chính xác những từ ngữ của người nói . Là các câu nói bình thường trong giao tiếp. Thường đặt trong dấu ngoặc kép “”

– Câu gián tiếp (hay còn gọi là câu tường thuật): Là cách nói khi chúng ta muốn kể lại hay tường thuật lại cho ai đó nghe về những gì người khác nói. Đôi khi không cần phải dùng đúng những từ của người nói.

*CÁC ĐỘNG TỪ TƯỜNG THUẬT 1.Các động từ thường dùng:

-Khi tường thuật ta thường sử dụng các động từ trung gian như saytell.

Ví dụ:

+ He said (that) he was ill. ( Anh ấy nói là anh ấy bị bệnh.)

+ He told me (that) he was ill. ( Anh ấy nói với tôi rằng anh ấy bị bệnh.)

– Sau tell ta có thể dùng nhiều loại mệnh đề và cụm từ khác nhau như:

He told me where he was. (Từ để hỏi)

He told me to go. (Động từ nguyên mẫu có to)

He told me where to go. (Từ hỏi + Động từ nguyên mẫu có to)

He told me a lie. (Danh từ/Cụm danh từ)

* Verb + to V: agree, demand, guarantee, hope, offer, promise, propose, swear, threaten, volunteer, vow…..

Ví dụ: Susan promises not to come home late again. (Susan hứa là sẽ không về nhà trễ nữa)

Ví dụ: Lele apologized Amanda for deleting her images on Instagram. ( Lele xin lỗi vì đã xoá những bức ảnh của Amanda trên Instagram.)

* Verb + O + Giới từ + V-ing: accuse … of, congratulate … on, pvent … from, stop … from, suspect … of, thank … for, warn … against.

Ví dụ: Destorm thanks Liane for joining his party. (Destorm cảm ơn Liane vì đã tham gia clip hài của anh)

*Verb + that clause:

Ví dụ:

King Bach admits that he doesn’t like Lele. (King Bach thừa nhận là cậu không thích Lele)

3. Cách chuyển đổi từ lời nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp ( lời tường thuật )

Thông thường, để tường thuật một câu, ta cần phải lùi thì, thay đổi đại từ nhân xưng, tính từ sở hữu và thay đổi trạng từ chỉ nơi chốn hoặc thời gian trong câu.

LÙI THÌ TRONG CÂU TƯỜNG THUẬT

Đối với các động từ khiếm khuyết không có dạng quá khứ, ta chuyển đổi như sau:

THAY ĐỔI ĐẠI TỪ

Các đại từ nhân xưng và tính từ sở hữu khi chuyển từ lời nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp thay đổi như bảng sau:

-Đại từ nhân xưng

-Tính từ sở hữu:

CHUYỂN ĐỔI TRẠNG TỪ TRONG CÂU TƯỜNG THUẬT

Tường Thuật Dạng Câu Hỏi

* Câu hỏi Yes/No:

Đối với câu hỏi Yes/No, dùng if hoặc whether ngay sau động từ trần thuật và đổi lại thứ tự của chủ ngữ và động từ/trợ động từ trong câu trực tiếp.

Ví dụ:

‘Have you seen the rain?’ He asked → He asked me if/whether I had seen the rain.

* Câu hỏi dùng các từ để hỏi( WH questions) như what, when, where, why, how…:

Đối với các câu hỏi có từ dùng để hỏi, dùng lại các từ để hỏi tại vị trí sau động từ trần thuật và đổi lại thứ tự của chủ ngữ và động từ/trợ động từ trong câu trực tiếp.

Ví dụ:

‘Where did you sleep last night?’ he asked → He asked me where I had slept the night before

Tường Thuật Câu Mệnh Lệnh

Câu mệnh lệnh và câu yêu cầu trong câu tường thuật:

Các câu mệnh lệnh và câu yêu cầu được mở đầu bằng những động từ như order, command, tell, ask, request,… và theo sau là tân ngữ trực tiếp chỉ người nhận lệnh + động từ nguyên mẫu có to

Ví dụ:

‘Stand up, Natasha.’ → He told Natasha to stand up.

‘Close the door, please.’ → The teacher ordered his students to close the door.

* Với các từ để hỏi:

Động từ nguyên mẫu có ” to ”thường được dùng sau từ hỏi khi chuyển câu hỏi sang câu tường thuật, thường được dùng để trả lời câu hỏi trực tiếp với ” should”.

Ví dụ:

”How should I make BBQ sauce?” → He asked her how to make BBQ sauce.

Còn tiếp…

Bên cạnh việc tương tác với VnDoc qua fanpage VnDoc.com, mời bạn đọc tham gia nhóm học tập tiếng Anh THCS tại group trên facebook: Tiếng Anh THCS.


【#2】Phương Pháp Dạy Trẻ Học Bảng Chữ Cái Tiếng Việt Dễ Nhớ Nhất

Bảng chữ cái tiếng Việt có gì đặc biệt?

Bảng chữ cái tiếng Việt là các kí hiệu theo chữ Latinh dùng để ghép chữ có nghĩa. Với mục đích ghi lại ngôn ngữ thành dạng văn bản và theo cách phát âm của người Việt. Ở bảng này các chữ được viết hoa khác hoàn toàn với chữ cái viết thường.

Bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn nhất trong năm 2021

Các em học sinh khi mới bước vào đầu cấp 1, học bảng chữ cái là bước đầu tiên. Hiểu và ghi nhớ các chữ cái là việc cha mẹ, thầy cô cần dạy cho các bé. Đó là bước cơ bản không thể thiếu trong việc học, hiểu ngôn ngữ tiếng Việt của các con.

Theo đúng chuẩn của Bộ giáo dục và đào tạo. Bảng chữ cái tiếng Việt viết hoa bao gồm 29 chữ cái. Trong đó:

+ Có 12 nguyên âm đơn gồm các chữ cái: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, u, ư, y.

+ Có 17 phụ âm đầu đơn gồm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x.

+ Có 3 nguyên âm đôi với nhiều cách viết khác nhau: ia – yê – iê, ua – uô – ưa – ươ.

+ Có 9 phụ âm đầu ghép 2 chữ: ph, th, tr, ch, gi, nh, ng, kh, gh.

+ Có 1 phụ âm đầu ghép 3 chữ: ngh.

Bảng chữ cái tiếng Việt thường được phân loại:

+ Kiểu chữ nhỏ thường được gọi là chữ in thường

+ Kiểu chữ lớn, viết hoa được gọi là chữ in hoa.

Bí quyết giúp bé học bảng chữ cái hiệu quả

Muốn dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng việt lớp 1 nhanh, hiệu quả. Bố mẹ cần trang bị cho mình kiến thức đầy đủ về bảng chữ cái. Ngoài ra phải nắm một số kỹ năng sư phạm, phương pháp dạy học gần gũi với trẻ.

Phải có công cụ hỗ trợ

Nếu bố mẹ dạy chữ cái cho trẻ chỉ nói suông chắc chắn không khả thi. Bé sẽ ngáp ngắn ngáp dài và không tập trung lời bố mẹ nói. Vì thế, muốn trẻ hứng thú khi học bảng chữ cái. Phụ huynh phải cần có công cụ hỗ trợ. Ví dụ như tranh ảnh về chữ cái, thẻ học thông minh hay các clip dạy chữ vui nhộn.

Giới thiệu cho bé các nét cơ bản

Chữ cái được tạo nên từ các nét cơ bản. Vì thế, trẻ cần phải nắm rõ chữ cái tiếng Việt bao gồm những nét nào? Phụ huynh giới thiệu cho bé về các nét, đặc điểm của mỗi nét trong từng chữ cái.

Cách viết bảng chữ cái tiếng Việt

+ Nét thẳng: nét thẳng đứng, thẳng xiên, thẳng ngang

+ Nét cong: cong hở, cong kín, cong trái, cong phải

+ Nét móc: Móc xuôi (móc trái), móc ngược (móc phải), móc hai đầu

+ Nét khuyết: Khuyết xuôi, khuyết ngược

+ Nét hất

Dạy trẻ học bảng chữ cái theo từng nhóm chữ

Muốn dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng Việt lớp 1 nhanh. Phụ huynh cần áp dụng phương pháp học theo nhóm chữ. Những chữ cái có cấu tạo, đặc điểm, cách viết giống nhau sẽ chia vào một nhóm. Cụ thể có 3 nhóm như sau:

Nhóm 1: i, u, ư, t, n, m, v, r (8 chữ cái)

Nhóm 2: l, b, h, k, y, p (6 chữ cái)

Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, x, e, ê, s (15 chữ cái)

Trong quá trình dạy học, bố mẹ nhớ phân tích tỉ mỉ từng nhóm chữ. Ví dụ như nhóm chữ này được tạo nên chủ yếu từ nét nào. Điểm nổi bật của nhóm chữ này là gì…?

Với cách dạy trẻ học bảng chữ cái tiếng Việt lớp 1 như trên, bé sẽ nhớ bài rất nhanh. Trẻ biết phân biệt từng nét chữ, từng nhóm chữ cơ bản mà ít khi bị nhầm lẫn.

Bạn đang có nhu cầu sở hữu một chiếc bảng từ để dạy bé tại nhà đạt hiệu quả tốt hơn hay những món đồ nội thất trường học. Hãy đến với xưởng nội thất Lương Sơn để chọn lựa cho mình một chiếc bảng từ có kích thước phù hợp nhất. Các chuyên gia nội thất sẽ tư vấn, giúp bạn có quyết định chọn mua đúng đắn nhất.

Nội thất Lương Sơn – Tổng kho nội thất Địa chỉ: Ngõ 1, Phạm Văn Bạch, Cầu Giấy, Hà Nội Showroom: 58C Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Số điện thoại: 0961 399 005 – 0976.19.59.22 – 0961.399.008 Website: chúng tôi


【#3】Thế Hệ Học Sinh Từng Được Dạy Phương Pháp ‘vuông Tròn’ Cách Đây Hơn 20 Năm Lên Tiếng Trước Cơn Bão Tranh Cãi Của Dân Mạng

Câu chuyện về phương pháp dạy học “vuông tròn” vẫn chưa có hồi kết và càng ngày càng nóng trên mạng xã hội. Người ta đua nhau share những bài hát chế, những lời châm biếm trong khi chưa hiểu rõ được bản chất của vấn đề.

Bộ sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại khi đem thử nghiệm dạy ở các trường Tiểu học tiếp tục vấp phải những bình luận trái nhiều, thậm chí nhiều ý kiến phản đối từ phía phụ huynh, cha mẹ học sinh.

Sự việc bắt nguồn từ clip quay lại cảnh 1 cô giáo hướng dẫn học sinh học câu thơ “Tháp mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” bằng phương pháp nhìn vào dấu chấm, ô vuông để đọc thuộc lòng.

Về bản chất vấn đề, cư dân mạng đang cố tình hiểu sai. Phương pháp sử dụng ô vuông này là để giúp các em học sinh hiểu về “tiếng” (hay âm tiết) trước khi nhận mặt chữ. Bởi vì về mặt bản chất, tiếng hay âm thanh chúng ta phát ra là thứ có trước, chữ viết chỉ là các ký hiệu được quy ước dành cho tiếng mà thôi.

Trước khi nhận mặt chữ, các em học sinh cần hiểu rằng ngôn ngữ là cấu tạo từ các “tiếng”, và các ô vuông là để hỗ trợ cho sự tưởng tượng đó được tốt hơn, tránh gây nhầm lẫn.

Các ô vuông này chỉ được dạy trong một vài buổi đầu để học sinh làm quen với khái niệm “tiếng”. Còn sau đó sẽ được áp dụng vào bảng chữ Quốc ngữ như bình thường, để hỗ trợ cho cách đánh vần của học sinh.

Không chỉ được áp dụng trên thế giới, phương pháp này cũng đã được dạy cho thế hệ 9x cách đây hơn 20 năm

Nguyễn Siêu, chàng trai từng gây sốt trên mạng xã hội với phát biểu về việc cuồng hoa hậu của người Việt vào năm 2021; tốt nghiệp bằng Cử nhân Điện ảnh và Truyền thông tại đại học Vassar, New York (top 12 nước Mỹ) loại xuất sắc (GPA: 3.9/4.0), 1 người từng học phương pháp này của giáo sư Hồ Ngọc Đại cho biết:

” Ngày xưa, mình học cấp 1 tại trường Tiểu học Thực Nghiệm, thuộc trung tâm Công nghệ giáo dục của chính thầy Đại. Bộ sách Tiếng Việt mình được học trong suốt 5 năm từ 2001 tới 2005 chính là bộ sách này, bộ sách dạy học sinh đọc các khối tròn vuông mà mọi người đang chỉ trích kịch liệt mấy ngày hôm nay. Thời ấy, trường mình là nơi duy nhất dạy học theo chương trình Công nghệ giáo dục, trong khi bạn bè cùng lứa ở tất cả các trường tiểu học khác đều học theo sách giáo khoa đại trà của Bộ GD&ĐT.”

Năm 2005, trường tiểu học Thực Nghiệm được yêu cầu ngừng dạy theo chương trình Công nghệ giáo dục và bắt đầu sử dụng bộ sách đại trà của Bộ GD&ĐT. Khoá 2001 – 2005 của Siêu là lứa học sinh Thực Nghiệm cuối cùng được học tập trọn vẹn 5 năm với chương trình của thầy Đại.

Siêu cho biết, lý do dân mạng “ném đá” nhiệt tình phương pháp này vì ngoài số ít những người đã học ở trường tiểu học Thực Nghiệm trước năm 2005, không một ai khác biết tới chương trình dạy học này.

Điều thứ nhất mà Siêu được dạy trong lớp tiếng Việt đầu tiên của cả cuộc đời chính là ngôn ngữ bao gồm hai thành phần cơ bản: chữ viết và tiếng nói. Bộ sách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại không bắt đầu từ chữ viết A, B, C, mà bắt đầu bằng tiếng nói, vì tiếng nói là thể dạng ngôn ngữ đầu tiên mà con người sử dụng: đứa trẻ ngay sau khi sinh ra đã biết khóc, khi lớn lên một chút thì biết bập bẹ gọi mẹ, gọi bà, còn lên ba, lên bốn thì mới bắt đầu học viết chữ. Âm thanh vì thế đi trước con chữ.

Chương trình Tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại cũng bắt đầu từ thành phần cơ bản của tiếng Việt: ÂM. Học sinh được học về âm thanh đầu tiên. Một “tiếng” phát ra là một âm thanh, dù “tiếng” ấy có nghĩa hay không. “Tiếng” chính là đơn vị cơ bản, đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ. Ví dụ: “dâm bụt” là một TỪ, tức là một đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, nhưng nó gồm hai TIẾNG, tức là hai đơn vị âm thanh, là “dâm” và “bụt.” Đứng một mình, “dâm” và “bụt” là hai tiếng có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa, nhưng ở những tuần học đầu tiên của chương trình Công nghệ giáo dục, học sinh chưa học về NGHĨA, mà đơn thuần chỉ học về ÂM.

Chúng chỉ cần rằng hiểu “dâm bụt” có 2 tiếng, tức là hai lần miệng chúng mở ra, thanh quản rung để phát ra một âm thanh nào đó. Mỗi hình vuông, hình tròn trong bộ sách của thầy Đại là đại diện cho một ÂM, một tiếng. Một câu thơ 6 chữ sẽ có 6 hình vuông; một câu thơ 8 chữ sẽ có 8 hình vuông. Cư như vậy, học sinh sẽ nắm được khái niệm về “tiếng,” về “âm,” để phân tách rõ ràng rằng một câu thơ có 6 chữ thì miệng chúng phải phát âm ra đầy đủ 6 “tiếng,” không sót “tiếng” nào.

Bạn Giang Thuỷ Trúc, sinh năm 1990, hiện đang du học tại Nhật Bản, người từng học Cấp 1, 2 trường Thực Nghiệm Giáo dục phổ thông Tây Ninh cũng đã được dạy phương pháp này từ những ngày đầu tiên đến trương.

Thủy Trúc cho biết: “Trường mình học là trường Thực Nghiệm, tức là học chương trình Thực Nghiệm ngay từ đầu – cách đây khoảng hơn 20 năm. Tới năm 2005, mình tốt nghiệp lớp 9 và không còn học chương trình này nữa vì lúc đó Bộ GD&ĐT cải cách sách giáo khoa lần đầu, thống nhất 1 chương trình cho cả nước.

Theo mình nhớ thì tụi mình học rất vui, không ai áp lực gì. Thỉnh thoảng gặp bạn bè ở ngoài thì có chút ngạc nhiên vì cái mình biết mà tụi nó không biết thôi, còn cái tụi nó mới học thì mình học lâu rồi.”

Chương trình của giáo sư Hồ Ngọc Đại đã giúp thế hệ ngày xưa phát triển tư duy ngôn ngữ cực tốt

Theo những người đã được dạy chương trình này từ bé, thì nó chú trọng dạy học sinh cách TƯ DUY NGÔN NGỮ, bên cạnh việc chỉ biết đọc và viết.

Nguyễn Siêu chia sẻ rằng: “Chính nhờ cách học tiếng Việt này mà cho tới tận bây giờ, khi làm biết cứ việc gì, đi bất cứ đâu, nhìn bất cứ vật nào, não mình ngay lập tức phân tích cái gì thuộc về thế giới “thật” cái gì thuộc về những thứ mang tính chất đại diện, dùng để gọi, để ví, để miêu tả, để “thay thế” bao gồm “ngôn ngữ” và “hình ảnh.” Con mèo là vật thật, bức tranh con mèo là một vật thay thế, hai tiếng “con mèo” cũng là vật thay thế, hai tiếng “a cat” trong tiếng Anh cũng là một vật thay thế khác.

Chính cách dạy học này đã rèn luyện cho mình có được một tư duy ngôn ngữ rất rõ ràng: Khi mình miêu tả một cái gì, mình sẽ phải đi tìm từ ngữ chuẩn xác nhất để diễn đạt ý mà mình đang có trong đầu. Khi mình viết trong tiếng Anh, mình cũng phải tư duy sao cho ra cái từ “đắt” nhất có thể để đại diện cho cái “vật thật” mà mình đang muốn miêu tả.”

Thời của Thủy Trúc học, nhiều phụ huynh cũng ý kiến là chương trình nặng học không nổi nhưng bản thân học sinh rất hứng thú, không cảm thấy vấn đề gì hết. Nó giúp phát triển tư duy rất tốt, những bé mới vào học chữ lớp 1 sẽ dễ tiếp cận hơn.

Ngôn ngữ không chỉ là biết cách nói một từ, đọc một tiếng. Ngôn ngữ cốt lõi nằm ở sự tư duy. Tư duy ngôn ngữ tốt thì cách nhìn cuộc sống, cách giải quyết vấn đề, cách làm việc sẽ tốt. Công việc hiện nay của Siêu là sản xuất và dựng video quảng bá cho kênh Paramount tại Mỹ. Tư duy ngôn ngữ được học tập, bồi đắp và gọt sắc nhờ chương trình Tiếng Việt của thầy Hồ Ngọc Đại vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong cách làm nghệ thuật và làm việc ngày qua ngày của cậu bạn này.

Ví dụ, để truyền tải một thông điệp nào đó qua một video ngắn, khi nào thì ta cần dùng hình ảnh làm “vật thay thế,” khi nào cần dùng lời thuyết minh đằng sau làm “vật thay thế”? Cách đọc thơ bằng hình vuông, hình tròn trong chương trình Tiếng Việt cũng trang bị cho mình một tư duy tốt về NHỊP. Mỗi tiếng phát ra tạo ra một nhịp; 8 hình vuông là 8 nhịp khác nhau. Nhịp điệu là cốt lõi của nghệ thuật: phải kể chuyện theo nhịp nhanh hay chậm để hấp dẫn, phải dựng video, dựng phim thế nào để khán giả không cảm giác là sản phẩm này nhanh tới mức khó hiểu hoặc quá lề mề, lê thê. Mỗi khi viết hay dựng video, Siêu đều “cảm” nhịp và nhớ lại những cái gõ thước vào từng ô vuông, khối tròn của cô giáo năm lớp 1 ở trường Thực Nghiệm. Siêu nói rằng cậu thật sự rất biết ơn chương trình Công nghệ giáo dục của thầy Đại đã giúp mình xây dựng được khả năng ngôn ngữ của ngày hôm nay.

Cuối cùng, điều mà thế hệ những người từng được dạy phương pháp của giáo sư Hồ Ngọc Đại muốn nhắn rủ rằng, trước khi share bất cứ thứ gì lên mạng xã hội, mọi người đừng nên vội vàng quá, hãy tìm hiểu thật kỹ vấn đề vì nếu mọi chuyện đi quá xa sẽ để lại hậu quả khôn lường. Họ cũng muốn cảm ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại và những người đã phát minh, giảng dạy phương pháp này.


【#4】Áp Dụng Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Bằng Hình Ảnh Cho Người Nước Ngoài

Phương pháp hay công nghệ dạy học là con đường đưa kiến thức, kĩ năng đến với người học nhằm đạt kết quả có định hướng. Để người học có được năng lực nhận thức và giao tiếp ở một trình độ nhất định, người dạy cần tìm hiểu, lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Việc đổi mới cách dạy từ truyền thống sang cách dạy hiện đại trong đó có phương pháp sử dụng hình ảnh là một yêu cầu cần lưu ý trong hướng đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng nói chung và dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng. I. Một vài vấn đề về việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay

Với xu thế phát triển kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế và giao lưu văn hóa, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam học tập và công tác.

Để đáp ứng được yêu cầu đó, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Trung tâm 123VIETNAMESE nói riêng và ở các cơ sở dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung đang ngày càng được chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giáo trình cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy. Về phía học viên, có rất nhiều người đến từ các nước không sử dụng tiếng Anh (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,…) nên phương pháp giảng dạy mà nhiều giáo viên vẫn và đang áp dụng là dùng ngôn ngữ thứ ba, chủ yếu là tiếng Anh, để giải thích trở nên khó khăn và không phù hợp. Thậm chí trong nhiều trường hợp việc giáo viên cố gắng đưa ra một từ tiếng Anh càng làm cho học viên lúng túng, không thể hình dung nổi.

Không những vậy, trên thực tế trong lúc giảng dạy tiếng Việt cho lớp học có các học viên của nhiều quốc tịch thì việc dùng một ngôn ngữ khác để giải thích sẽ không mang lại hiệu quả cao cho người học.

Hơn nữa, các giáo trình mà chúng ta đang dùng phổ biến hiện nay cung cấp cho học viên một vốn từ vựng rất lớn, với phong phú các loại mẫu câu song lại nghèo nàn về hình ảnh, đặc biệt ở trình độ nâng cao. Lúc này đòi hỏi sự sáng tạo và chuẩn bị bài giảng công phu hơn của người giáo viên. Trong đó có việc áp dụng phương pháp dạy tiếng Việt thông qua hình ảnh.

II. Áp dụng phương pháp dạy tiếng Việt qua hình ảnh

1. Một số loại hình ảnh thường dùng khi dạy ngoại ngữ

Dựa vào đặc điểm hình ảnh (tĩnh hay động) và việc áp dụng các loại hình ảnh này vào từng trình độ (cơ sở hay nâng cao) cho phù hợp, chúng tôi chia làm một số loại hình ảnh sau:

Loại 1 – Hình ảnh tĩnh, không cần chú thích

Đây là loại hình ảnh rất đơn giản nhưng cơ bản. Giáo viên khi sử dụng chúng không cần phải giải thích nhiều. Vì thế nó thường được áp dụng trong việc dạy từ mới, ở tất cả các trình độ, trong đó phát huy tác dụng nhất khi dạy ở trình độ cơ sở.

Loại 2 – Hình ảnh tĩnh, kèm theo chú thích

Loại hình ảnh này phức tạp hơn loại 1, giáo viên cần phải chú thích thêm trong hình ảnh. Khác với loại 1, loại hình ảnh 2 cung cấp cho người học lượng từ mới nhiều hơn, thường áp dụng trong học bài đọc ở trình độ nâng cao và học chuyên ngành.

Loại 3 – Hình ảnh tĩnh, theo tiến trình

Chúng thường sử dụng trong các bài đọc ở các trình độ sau cơ sở hay học chuyên ngành. Vì tính chất theo tiến trình, diễn biến của câu chuyện trong bài đọc nên nó đòi hỏi sự tìm kiếm, sưu tập của giáo viên và cả ứng dụng công nghệ thông tin trong khi giảng dạy.

Loại 4 – Hình ảnh động, kèm âm thanh (video, clip)

Thực chất loại hình ảnh này chính là các video, clip. Mặc dù không được sử dụng nhiều như những loại hình ảnh kể trên song các hình ảnh động, có âm thanh này sinh động và trong một vài trường hợp dạy tiếng nó là phương pháp tối ưu nhất. Đặc biệt, đây là loại được dùng khi rèn luyện cả bốn kỹ năng: nghe – nói – đọc – viết của người học.

2. Áp dụng phương pháp dạy tiếng Việt bằng hình ảnh theo trình độ người học

Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thông qua hình ảnh cần được áp dụng theo đúng trình độ của học viên và không thể tách rời các giáo trình. Ở mỗi trình độ, giáo viên cần chọn loại hình phù hợp kết hợp với các bài luyện tập để mang lại hiệu quả cao nhất.

a. Trình độ cơ sở

* Dạy từ vựng:

Ở trình độ này, học viên bắt đầu làm quen với các từ vựng và các mẫu câu từ đó luyện tập và ghi nhớ để có thể giao tiếp thông thường được. Sau khi kết thúc trình độ cơ sở, học viên có được khoảng hơn 500 – 1000 từ cơ bản. Trong đa số các từ này, giáo viên có thể vận dụng loại hình ảnh 1 – hình ảnh tĩnh, không cần chú thích để giải thích. Vì chỉ cần nhìn vào hình ảnh, học viên cũng có thể hiểu và viết lại được bằng ngôn ngữ của mình. Sau khi được giáo viên luyện phát âm từ mới đó, học viên dễ dàng ghi nhớ.

Tiến trình dạy như sau:

Chẳng hạn như trong bài học về quốc tịch. Thay vì chỉ đưa ra tên nước bằng tiếng Việt hoặc đưa hình ảnh quốc kì của các nước như một số giáo trình (Thực hành tiếng Việt – Nguyễn Việt Hương, Tiếng Việt trình độ A – Viện Việt Nam học do Đoàn Thiện Thuật (chủ biên); Tiếng Việt cơ sở – Mai Ngọc Chừ, Trịnh Cẩm Lan), chúng ta sử dụng hình ảnh một địa danh nào đó hay một chuỗi vài địa danh, nhân vật nổi tiếng, trang phục truyền thống,… của nước cần học. Nhất là với những tên nước phiên âm tiếng Việt, hình ảnh loại này rất hữu ích:

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể áp dụng kiểu hình ảnh và dạng bài tập này đối với các bài học về loại từ, địa điểm, thời gian, phương tiện giao thông,…Còn với các bài học khó hơn của trình độ cơ sở như bệnh tật, bộ phận cơ thể giáo viên nên áp dụng hình ảnh 2 – hình ảnh tĩnh, có chú thích.

Song ở trình độ này, học viên đã có thể phát triển, lắp ghép các từ, mẫu câu đơn giản đã học ở trình độ cơ sở thành những câu phức, sau đó liên kết các câu thành đoạn văn có nghĩa và cũng có thể xem – nghe các bản tin thời sự ngắn, các đoạn phim,…

Lúc này, việc áp dụng loại hình ảnh 2 – hình ảnh tĩnh có chú thích; hình ảnh 3 – hình ảnh tĩnh, theo tiến trình và hình ảnh 4 – hình ảnh động, kèm âm thanh trở nên có hiệu quả cao.

Ví dụ 1: Sử dụng loại hình ảnh 3

Áp dụng trong bài học “Sự tích Hồ Gươm” (bài 4, trình độ C Viện VNH)

Với các bài học giới thiệu về nghệ thuật truyền thống Việt Nam, các video, clip – hình ảnh 4, hình ảnh động có âm thanh giúp học viên hiểu sâu sắc hơn. Giáo viên có thể thực hiện dạy theo tiến trình một bài nghe và kết hợp rèn luyện các kỹ năng nghe – nói.

3. Một số lưu ý khi lựa chọn và sử dụng hình ảnh

Khi tìm kiếm và lựa chọn hình ảnh phục vụ cho việc giải thích và giảng dạy, giáo viên cần lưu ý:

– Về mặt hình thức: Để không bị “vỡ” hình ảnh khi dãn ảnh hay khi trình chiếu cho học viên xem, giáo viên cần chú ý đến dung lượng hình ảnh, dung lượng càng lớn, hình ảnh càng rõ nét, có chất lượng cao. Đối với các video, clip cần xem xét đến không chỉ chất lượng hình ảnh mà cả chất lượng âm thanh.

– Về mặt nội dung: Khi tìm kiếm trên các website, đa số sẽ có rất nhiều kết quả, cần lựa chọn hình ảnh nào dễ hình dung và liên tưởng đến sự vật, sự việc nhất, tránh gây hiểu nhầm dẫn đến hiểu sai nghĩa của từ; hình ảnh phải phản ánh đúng nội dung và có tính bao quát. Trong nhiều trường hợp, nhất là bài đọc là các truyện cổ tích, truyền thuyết, không thể tìm thấy trên mạng Internet, giáo viên có thể sưu tập các truyện tranh, sau đó scan và cắt dán cho phù hợp với nội dung bài học.

Trong khi áp dụng phương pháp sử dụng hình ảnh để giảng dạy, giáo viên cần in mầu hình ảnh ra khổ lớn hoặc trình chiếu qua Power Point, không nên in thông thường (đen, trắng) hay nghe qua đài vì nó giảm tính sinh động của hình ảnh và có thể gây hiểu lầm.

III. Kết luận

Phương pháp học tiếng Việt hiệu quả là sử dụng hình ảnh trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài mang lại nhiều ưu điểm vì đây là phương pháp “trực quan, sinh động” làm cho tiết học trở nên thú vị, sôi nổi, thu hút sự tập trung chú ý của học viên. Bên cạnh đó còn làm cho việc tiếp nhận từ mới và các mẫu câu cơ bản trở nên đơn giản, nhanh chóng; đồng thời rèn luyện khả năng tư duy logic và tính sáng tạo, khả năng diễn đạt của học viên. Tuy nhiên, nó đòi hỏi giáo viên cần phải chuẩn bị công phu và giờ giảng phải phụ thuộc vào yếu tố khách quan như các phương tiện máy tính, máy chiếu,…

Đây là phương pháp mang tính ứng dụng cao, bổ trợ hữu ích cho việc dạy tiếng. Không những thế, với chủ trương đẩy mạnh phương pháp giảng dạy tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài giảng cùng với việc được trang bị đầy đủ màn hình, máy chiếu các phòng học của Trung tâm 123 Vietnamese thì việc tìm tòi và áp dụng phương pháp này vào mỗi tiết dạy là cần thiết và hữu ích đối với những giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Trần Thị Lan, Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo phương pháp giao tiếp, Ngữ học trẻ, năm 2005.
  2. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1997.
  3. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Một số vấn đề về nội dung và phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005.
  4. Bùi Khánh Thế, Đi tìm mô hình thỏa đáng để dạy – học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, Tạp chí Ngôn ngữ số 12/2003.


【#5】Chị Bán Hoa Quả Và Câu Chuyện Dạy Con Học Giỏi Tiếng Anh Nhờ Bí Quyết Ít Ai Ngờ Tới

Thấy con có năng khiếu học tiếng Anh mà điều kiện ở quê không thích hợp, bố mẹ bé Ly đã chấp nhận sống xa nhau để một người mang con lên Hà Nội đi học.

Cô bé Võ Thị Khánh Ly (SN 2008, Tân Kỳ, Nghệ An) là con gái duy nhất của vợ chồng anh Võ Tá Hoàng và chị Nguyễn Thị Hiền (Tân Kỳ, Nghệ An). Cả hai anh chị đều là giáo viên. Anh Hoàng giáo viên môn Tin học ở Tân Kỳ, còn chị Hiền sau khi tốt nghiệp Trường CĐ Sư phạm Đà Nẵng đã về quê dạy hợp đồng với mức lương 1,5 triệu đồng/tháng.

Nhiều năm trước, thấy không thể bám trụ với nghề, chị nghỉ dạy, làm nghề buôn bán tự do để lo kinh tế cho gia đình. Cuộc sống nhiều khó khăn nên chị quyết chỉ sinh một con để có điều kiện đầu tư cho con được học tập đầy đủ với mong ước thay đổi tương lai.

Từ lúc còn nhỏ, Khánh Ly đã được bố mẹ cho tiếp xúc với tiếng Anh. Vì hoàn cảnh gia đình không có điều kiện nên chủ yếu cô bé tự mày mò, học ngoại ngữ qua các clip ngắn trên Youtube.

“Khi con khoảng 4 tuổi, vợ chồng tôi đã cho con xem các video chọn lọc bằng tiếng Anh trên YouTube. Đó là các đoạn hội thoại ngắn, bài hát phù hợp lứa tuổi và dễ hiểu”, anh nói.

Sau đó, vợ chồng anh cho con xuống TP Vinh theo học tại trung tâm tiếng Anh. Thời gian này, em vẫn được bố mẹ hướng dẫn xem các video ngắn tại nhà.

Dành nhiều thời gian xem các clip dạy học của người bản ngữ nên khả năng nghe và phát âm của Ly rất tốt.

Nhận thấy con gái yêu thích và có năng khiếu về ngôn ngữ nhưng môi trường ở quê không được tiếp xúc, thực hành tiếng Anh với người nước ngoài, anh chị quyết định đưa con ra Hà Nội theo học.

“Quê mình là vùng miền núi, kinh tế khó khăn lại không có môi trường để con giao tiếp tiếng Anh. Vợ chồng mình nghĩ, nếu không tiếp tục rèn giũa, sớm muộn vốn tiếng Anh của con sẽ dần mai một”, anh Hoàng chia sẻ.

Mỗi tháng gia đình họ chỉ đoàn tụ một lần trong căn trọ nhỏ này. Ảnh: Trí thức trẻ

Sau đó, anh Hoàng tiếp tục theo đuổi việc dạy học ở quê, còn vợ anh – chị Hiền, gác lại tất cả mọi việc, theo con lên Hà Nội trọ học. Ở đây, chị làm nghề buôn bán hoa quả. Mỗi sáng, chị phải dậy từ 3h sáng để nhập hàng hóa trên chợ đầu mối Long Biên và làm việc mải miết đến 5-6h tối mới nghỉ.

Thời gian đầu lên Hà Nội, chị còn cho con đi học tiếng Anh ở một trung tâm lớn nhưng sau thấy mất nhiều thời gian đi lại, cộng với việc bé Ly có khả năng tự học rất tốt nên chị cho cháu nghỉ.

Công việc vất vả như vậy nhưng một mình chị vẫn phải cáng đáng thêm việc chăm sóc, đưa đón bé Ly đi học. Ở thành phố, mọi sinh hoạt phí đều đắt đỏ, tốn kém hơn ở quê nên với sức lao động của 2 vợ chồng, đôi khi vẫn chật vật mới đủ nuôi Ly ăn học.

Không chỉ môn tiếng Anh, Khánh Ly còn học tốt các môn học khác. Hiện, em đang theo học chương trình song bằng Cambride tại trường THCS Trưng Vương (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Học kỳ 1 vừa qua, em đạt kết quả giỏi.

“Thấy con học tốt, vợ chồng mình cũng rất vui và tự hào. Có điều, con học trên này, bố mẹ vất vả hơn nhiều, gia đình cũng phải xa cách, mỗi tháng đoàn tụ 1 lần vào 2 ngày cuối tuần”, chị Hiền chia sẻ.

Thời gian đầu mới lên Hà Nội, Ly được mẹ đưa đến Trung tâm dạy tiếng Anh theo học. Tuy nhiên, vì kinh tế eo hẹp nên hiện tại, Ly chỉ học ở trường và cuối tuần cô bé tự mình học tiếng Anh bằng cách trò chuyện với du khách nước ngoài ở hồ Hoàn Kiếm.

“Người nước ngoài dạy con nhiều về từ vựng, cách phát âm nên con rất thích trò chuyện với họ. Con cũng thích dạy tiếng Việt cho họ vì họ rất thích học tiếng Việt, giống con thích học tiếng Anh. Mỗi lần nói chuyện với họ, con chỉ ước mình hiểu biết nhiều hơn, có thể nói chuyện lâu hơn với các cô chú”, bé Ly kể.

Du khách Việt Nam lẫn nước ngoài đều trầm trồ trước khả năng nói tiếng Anh của cô bé. Ảnh: Trí thức trẻ

Cô bé còn tự quay hoặc nhờ mẹ quay clip em hướng dẫn các bạn nhỏ ở xóm trọ học môn tiếng Anh để up lên YouTube.

Chia sẻ về kinh nghiệm cho con học qua internet, anh Hoàng nói: “Quan trọng là con có đam mê ngoại ngữ, đam mê việc học nên sử dụng mạng internet sẽ có hiệu quả. Nếu con không đam mê học, sẽ dễ sa đà vào các nguy cơ khác”.

Bố của Khánh Ly cũng chia sẻ thêm, anh chị có nguyên tắc và các quy định dành cho con khi sử dụng mạng.

‘Chúng tôi giám sát con bằng việc xem lại lịch sử trình duyệt web để biết con đã sử dụng mạng internet cho việc học hay không.

Ngoài ra, chúng tôi cũng lắp camera để có thể giám sát con qua điện thoại nhằm đảm bảo an toàn cho con khi tham gia mạng. Chúng tôi cũng thường xuyên theo sát các kết quả học của con’, anh chia sẻ thêm.

Để đầu tư cho con gái, đến nay, gia đình anh chị vẫn phải sống ly tán người ra Hà Nội, người ở Nghệ An. Vài tháng, gia đình mới có cơ hội đoàn tụ một lần.

Minh Khôi (T/h)

Nguồn: Đời sống pháp luật (https://www.doisongphapluat.com/doi-song/gia-dinh-tinh-yeu/chi-ban-hoa-qua-va-cau-chuyen-day-con-hoc-gioi-tieng-anh-nho-bi-quyet-it-ai-ngo-toi-a319586.html)


【#6】Dạy Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi Theo Phương Pháp Talk Max Tại Anh Ngữ Quốc Tế Cali

Tìm hiểu trung tâm dạy tiếng Anh cho bé 4 tuổi tại Sài Gòn, chị Diệp Anh (nhân viên văn phòng tại Quận 3) nghe nhiều mẹ khác truyền tai nhau rằng: “Ở Anh ngữ Quốc tế Cali có phương pháp dạy độc đáo lắm, giúp bé nói tiếng Anh, chuẩn giọng Mỹ luôn đó”.

Thực hư phương pháp học này như thế nào? Edu2Review sẽ giúp các mẹ tìm hiểu ngay!

Phương pháp Talk Max có gì đặc biệt?

Được mệnh danh là một trong 10 top trung tâm Anh ngữ “rẻ mà chất” tại TP. HCM, với hơn 10 năm hoạt động tại Việt Nam, hệ thống trường Anh ngữ Quốc tế Cali không ngừng phát triển với hàng chục chi nhánh tại TP. HCM và TP. Biên Hòa.

Anh ngữ Quốc tế Cali có thế mạnh là các khóa học Anh văn cho trẻ em, đặc biệt là phương pháp dạy học “Talk Max” độc quyền từ Mỹ, bao gồm các cam kết như: nói tiếng Anh chuẩn giọng Mỹ, phát triển kỹ năng nghe – nói đến mức tối đa…

Theo đó, phương pháp này được áp dụng với các bé ở bậc mầm non cho đến đối tượng sinh viên, văn phòng.

Qua tìm hiểu, Edu2Review được biết, phương pháp Talk Max là lấy người học làm trung tâm, giáo viên sẽ là người hướng dẫn.

Giáo viên áp dụng phương pháp giảng dạy đặc biệt thông qua các hình ảnh, trò chơi, vật dụng… thực tế để các bé vừa có thể tận hưởng trọn vẹn những giây phút tuyệt vời của tuổi thơ mà vẫn học được nhiều điều thú vị của ngôn ngữ mới.

Sử dụng tài liệu chuyên biệt

Các bé ở lứa tuổi từ 3 – 5 sẽ được học theo tài liệu FIRST FRIEND và tài liệu được biên soạn bởi Cali. Trong suốt khóa học (trong khoảng 48 tuần), các bé được học phản xạ nghe nói, nhận diện, hát và game… để mỗi buổi học là một ngày vui và giúp trẻ tiếp thu tiếng Anh một cách tự nhiên nhất.

Tất cả từ vựng và mẫu câu sẽ dùng hình ảnh và đồ vật đi kèm để các bé nhận diện tốt nhất và thực hành đạt kết quả cao.

Ví dụ: Giáo viên sẽ không bao giờ hỏi bé “quả táo” tiếng Anh là gì? Mà giáo viên sẽ cầm quả táo và hỏi: “What is this?”

Giáo viên tại Cali dạy bé học tiếng Anh từ những điều thực tế nhất

Chú trọng phát âm cho bé

Có khoảng 70% học sinh, sinh viên Việt Nam thường gặp lỗi phát âm, gây nên những tình huống bối rối khi giao tiếp với người nước ngoài, dẫn đến việc tự ti trong giao tiếp.

Do đó, phương pháp Talk Max tại Anh ngữ Cali chú trọng vào việc hướng dẫn và chỉnh sửa cách phát âm cho các bé ngay từ ngày đầu tiếp xúc với tiếng Anh, để các bé hình thành thói quen phát âm như người bản xứ.

Anh ngữ Cali tối ưu hóa các chương trình và bài giảng bằng việc phát triển kỹ năng nghe nói đến mức tối đa, đảm bảo cho học viên có 1 môi trường học Anh ngữ hiệu quả và năng động.

Trẻ được học trong môi trường năng động, phát triển kỹ năng nghe tiếng Anh tốt

Thường xuyên kiểm tra mini test

Hàng tháng các bé được kiểm tra mini test với giáo viên nước ngoài. Kết thúc khóa học ở cấp độ Pre-starters bé sẽ tự tin giao tiếp cùng người bản địa, ca hát tiếng Anh, phản xạ tốt với từ đơn được học. Đặc biệt hơn, học viên nhí có thể xây dựng kế hoạch tự học bằng tiếng Anh.

Qua những thông tin hữu ích của Edu2Review, chắc hẳn các mẹ đã hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học Talk Max rồi nhỉ?

Tại Cali còn sở hữu nhiều điểm cộng khác mà các mẹ có thể xem xét như: đội ngũ giảng viên yêu trẻ và am hiểu tâm lý của từng lứa tuổi, hỗ trợ trẻ tối đa trong quá trình học tập; mức học phí hợp lý, chỉ khoảng 500,000 VNĐ/tháng; cơ sở vật chất hiện đại….

Lê Mai Tổng hợp

Nguồn hình + clip: Anh ngữ Quốc tế Cali


【#7】Một Số Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Tiểu Học Hiệu Quả Bố Mẹ Nhất Định Phải Biết

Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung của xã hội. Vì thế, các em thiếu nhi đã được phụ huynh cho tiếp cận với tiếng Anh ngay từ bé. Vấn đề đặt ra là, ở bậc tiểu học, thầy cô giáo hay các bậc phụ huynh có thể tạo hứng thú cho các bé trong việc học tiếng Anh bằng cách nào là tốt nhất?

Trong bài viết này, Language Link Academic sẽ giới thiệu một số phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học hiệu quả nhất, đặc biệt là cách dạy học tiếng Anh tiểu học lớp 4 đến các bạn.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học hiệu quả

I. Phương pháp thứ nhất: Làm cho lớp học trở nên vui nhộn bằng trò chơi:

Trẻ nhỏ luôn thích chơi trò chơi thay vì ngồi ngay ngắn học từng chữ một. Hiểu được tâm lí của trẻ nhỏ, các thầy cô giáo hay bậc phụ huynh hoặc bất kì ai đang phải dạy dỗ con em, học trò của mình thì nên áp dụng những phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học vui nhộn, năng động cho các em.

Chúng ta có đầy đủ mọi phương tiện hiện đại để tìm hiểu, áp dụng các trò chơi đơn giản nhưng có ích trong việc học tiếng Anh cho các em. Điển hình là các trò chơi sau đây:

Đây là trò chơi rất dễ chơi và phổ biến trong các lớp học hiện nay. Thầy cô giáo hay phụ huynh có thể áp dụng trò chơi này để dạy các em từ vựng mới về các bộ phận cơ thể người (body parts) hay nắm bắt rành rọt nghĩa của các giới từ (ppositions)

* Luật chơi:

– Thầy cô (phụ huynh) sẽ là người nói câu “Simon says” đầu tiên.

– Các em học sinh sẽ hỏi lại:

– Sau đó thầy cô trả lời theo cấu trúc: “Simon says…….”

Ví dụ: thầy cô (phụ huynh) muốn các em học từ vựng về bộ phận cơ thể người thì sẽ nói “Simon says touch your nose” .

Lúc này, các em học sinh sẽ phải xác định từ có nghĩa gì và bắt đầu chạm vào như vậy chúng ta có thể thông qua trò chơi để dạy từ vựng mới cho các em.

Để học một cấu trúc ngữ pháp mới, thầy cô giáo có thể áp dụng phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học thông qua trò chơi “ghi nhớ”.

thầy cô sẽ bắt đầu bằng việc nói một câu mẫu, sau đó lần lượt theo thứ tự chỗ ngồi hoặc tên trong danh sách, các em sẽ phải lặp lại câu nói của người nói trước rồi mới đến lượt nói câu của các em. Độ khó của trò chơi này sẽ tăng dần theo số lượng học sinh.

Trò này vừa giúp các em tăng khả năng ghi nhớ, vừa giúp các em ghi nhớ lâu hơn một cấu trúc ngữ pháp mới.

– Thầy cô nói: Yesterday, I went to supermarket with my mother.

– Học sinh sẽ phải lặp lại câu của giáo viên rồi mới nói câu của các em theo cấu trúc Yesterday, I….

Yesterday, I went to supermarket with my mother Yesterday, I did homework with my classmate.

– Và cứ thế, em học sinh tiếp theo sẽ lặp lại 2 câu trên rồi mới nói câu của mình.

Sau khi kết thúc trò chơi, giáo viên sẽ hỏi các em những điểm đặc biệt trong cấu trúc câu nãy giờ các em nói, việc lặp lại nhiều sẽ giúp các em nhận ra được sự khác biệt trong cách dùng thì của động từ bây giờ không còn nguyên mẫu nữa mà ở dạng quá khứ,…

Trò chơi này có thể không phù hợp với các em lớp nhỏ : lớp 1, lớp 2 nhưng đối với việc học tiếng Anh tiểu học lớp 4 hay lớp 5, giáo viên và phụ huynh nên áp dụng trò chơi này để rèn luyện khả năng ghi nhớ của các em cũng như giúp các em nhớ cấu trúc ngữ pháp lâu hơn và nhanh hơn.

II. Phương pháp thứ hai: Sáng tạo trong việc xây dựng bài học và dạy học:

Để có phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học tốt, phần nội dung bài học phải được chăm chút thật kĩ và cách dạy học nên thay đổi thường xuyên để không gây sự nhàm chán cho các em học sinh.

Cung cấp thêm hình ảnh, video clip để tăng sự sinh động trong bài học cho trẻ

Về cách dạy học, thầy cô nên linh hoạt trong việc xây dựng các bài tập có làm việc đồng đội, theo cặp hoặc theo nhóm 3 em, 5 em. Thay đổi chỗ ngồi định kì cũng sẽ giúp cho các em có được sự hứng thú mới trong việc học tiếng Anh

III. Phương pháp thứ ba: Không nên gây áp lực cho các em

Các em đều là học sinh nhỏ tuổi, vẫn còn rất ham chơi nên hãy cố gắng để việc học của các em trở nên nhẹ nhàng. Đừng gây bất kì áp lực nào cho các em trong việc học hành nhất là học tiếng Anh vì đây là ngôn ngữ mới, rất cần thời gian để các em làm quen và tiếp thu.

Tải xuống MIỄN PHÍ ngay

Bộ tài liệu học tốt tiếng Anh độc quyền của Language Link Academic (cập nhật 2021)!

Kiểm tra tiếng Anh miễn phí ngay cùng chuyên gia khảo thí đến từ Anh Quốc

& nhận những phần quà hấp dẫn!

Đón xem series phim hoạt hình học tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo và tiểu học,

tham gia trả lời các câu hỏi đơn giản, giành ngay những phần quà giá trị!


【#8】Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Nhật Hiệu Quả Tại Sofl

Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả tại SOFL

Thứ ba – 23/01/2018 16:26

Tại Nhật ngữ SOFL các phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả luôn được trung tâm chú trọng và luôn phát triển để đem đến cho học viên của mình những kiến thức tốt nhất, học nhanh nhất, hiệu quả nhất.

Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả tại SOFL

Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả – ĐẶC TRƯNG CỦA SOFL.

– Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả, toàn diện, các bạn học viên không chỉ học tiếng mà còn được tìm hiểu thêm về văn hóa, cuộc sống, con người… Đặc biệt các bạn học viên sẽ được hướng dẫn các kĩ năng xin việc, phỏng vấn, làm việc trong công ty Nhật Bản;

– Giờ giảng sinh động với nhiều trò chơi thú vị giúp học viên nhanh chóng nhớ từ vựng, ngữ pháp;

– Hệ thống giáo trình được biên soạn, tổng hợp một cách khoa học với đủ các phần nghe, nói, đọc, viết giúp học viên nắm chắc bài học và phát triển đều các kĩ năng;

– Giáo trình Kanji (chữ Hán) được thiết kế bài bản, phương pháp học chữ hán đặc biệt giúp học viên “HIỂU SÂU – NHỚ LÂU”;

– Hệ thống bài tập, bài kiểm tra phong phú giúp học viên bổ sung những khuyết điểm, đánh giá được khả năng, trình độ qua mỗi bài học.

Các khóa đào tạo tiếng Nhật tại SOFL.

– Tiếng Nhật sơ cấp

– Luyện thi JLPT

– Tiếng Nhật du học

– Tiếng Nhật online

– Tiếng Nhật giao tiếp

– Tiếng Nhật Doanh nghiệp

Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả.

Chương trình đào tạo tiếng Nhật được thiết kế phù hợp cho những người muốn đi du học, làm việc ở Nhật Bản.

– Học viên được hướng dẫn thực hành kỹ năng nghe, nói và phát âm theo phương pháp phản xạ nhằm giúp học viên nói lưu loát và tự tin.

– Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả, bài giảng chuyên nghiệp về ngữ pháp, từ vựng và phương pháp học Kanji hiệu quả.

– Luyện kỹ năng nghe thông qua các video, clip …

– Nâng cao khả năng đọc hiểu với các bài luyện đọc.

– Theo dõi sự tiến bộ của học viên thông qua các bài kiểm tra viết, bài kiểm tra vấn đáp hàng tuần, hàng tháng.

Rất nhiều học viên đã chọn SOFL

Phương châm giảng dạy tại SOFL.

Sử dụng tối đa tiếng Nhật trong giờ học giúp tăng khả năng nghe hiểu và phản xạ tiếng Nhật.

Tập trung đào tạo GIAO TIẾP – HÁN TỰ: chìa khóa tạo nên thành công trong việc học tiếng Nhật.

Như các bạn đã biết, việc học ngoại ngữ nói chung không chỉ là từ mới, ngữ pháp… mà quan trọng hơn cả đó là việc “sử dụng ngôn ngữ”. Phương pháp giảng dạy tại các trường đại học, trung tâm ngoại ngữ… hầu hết đều chú trọng việc luyện ngữ pháp, luyện thi… mà ít coi trọng khả năng giao tiếp khiến học viên khó phát huy hết khả năng của mình.

Từ thực tế đó, Trung tâm Nhật ngữ SOFL nhận thấy sự cần thiết của việc nâng cao khả năng giao tiếp, hội thoại khi sử dụng ngoại ngữ. Với phương pháp giảng dạy “Hiểu và suy nghĩ bằng tiếng Nhật” học viên sẽ được làm quen với phương pháp học phản xạ nhanh mà không phải qua dịch Nhật-Việt, Việt-Nhật.

Bên cạnh GIAO TIẾP, Trung tâm cũng đưa ra những phương pháp học HÁN TỰ đặc biệt. “Tập trung vào việc nhớ các bộ, các âm Hán – Việt” để khi nhìn bất cứ từ nào các bạn cũng thể hiểu hết nghĩa cũng là một trong những phương pháp học hiệu quả đó. Với nguồn tài liệu Hán tự phong phú, dễ học, dễ hiểu, Hán tự sẽ không còn làm khó được các bạn học viên.

Với những phương pháp giảng dạy tiếng Nhật hiệu quả của Trung tâm tiếng Nhật SOFL, các bạn sẽ không phải lo lắng bất kì điều gì cản trở bạn để chinh phục tiếng Nhật.


Bạn đang xem chủ đề Clip Dạy Ngữ Pháp Tiếng Anh trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!