Nghiệp Là Gì? Nghiệp Quả Từ Góc Nhìn Chiêm Tinh Học

--- Bài mới hơn ---

  • Chiêm Tinh Học Nội Môn
  • Nền Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Hội Nghị Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Lực Là Gì, Lực Tiếng Anh Nghĩa?
  • Tư Duy Tuyến Tính Là Gì? Hỗ Trợ Học Ielts Tốt Hơn
  • Có thể hiểu rõ hơn thì Nghiệp chính là những hệ quả nhận được thông qua những hành vi, nhận thức, lời nói, suy nghĩ mà con người đã gieo ở quá khứ. Tùy vào “nhân” được gieo trước đó mà con người có thể được định nghiệp tốt hoặc xấu.

    Vì thế mà có thể khẳng định con người là chủ nhân của nghiệp quả, là yếu tố quyết định nên nghiệp quả, việc nhận nghiệp tốt hay nghiệp xấu là do mỗi con người chúng ta quyết định.

    2. Nguồn gốc của Nghiệp

    Ắt hẳn khi nhắc đến thuật ngữ này, người ta sẽ nghĩ ngay nguồn gốc xuất từ Phật Giáo hay đến từ Ấn Độ. Nhưng thực sự Nghiệp đã xuất hiện từ rất lâu, có thể là từ thuở sơ khai của Trái Đất và tồn tại cho đến bây giờ.

    Nghiệp có từ rất lâu đời trước đó, trước cả khi đất nước Ấn Độ hay Phật Giáo ra đời. Chỉ là xét trên thế giới giữa các dân tộc với nhau thì người Ấn Độ có phần nghiên cứu sâu hơn về Nghiệp. Vì thế mà Ấn Độ được xem là một đất nước có chứa rất nhiều tài liệu cũng như những sự hiểu biết về nghiệp thông qua các cuốn sách của Ấn Độ Giáo, Kinh Vệ Đà hay Phật Giáo.

    Ta vẫn nên phân biệt chữ “Giáo” và chữ “Đạo”. “Đạo” chính là “Giáo” nhưng “Giáo” chưa chắc đã là “Đạo” mà nó có thể hiểu như phong cách sống hay những hệ tư tưởng của Ấn Độ được du nhập và hình thành trong nhiều nền văn hóa khác nhau. Hơn hết, nó có “giáo” có nguồn gốc từ nền văn minh Lưỡng Hà và thung lũng Indus thuộc Ấn Độ trong khoảng thời gian từ 4000 cho đến 1500 TCN.

    Vì thế mà những nền văn minh cổ đại như Ai Cập đã rất phát triển về xã hội và ứng dụng Nghiệp để duy trì sự công bằng, luật lệ, đạo đức và trật tự xã hội. Hơn hết, Nghiệp còn được người cổ đại ứng dụng trong khoa học kỹ thuật lúc bấy giờ.

    Một trong những “Thủy tổ của Chiêm Tinh Học” là người Sumarian đã có những hiểu biết về vấn đề này thông qua bầu trời và chiêm tinh. Với họ, nghiệp là “mu”, là quyền lực tối thượng nhất mà chỉ có người đứng đầu mới có và được sử dụng, ban phát cho người dân.

    Ngay tại Ai Cập cổ đại, Nghiệp được gọi là “Maat”, hiện thân là một vị nữ thần rất quyền lực trong văn hóa người Ai Cập cổ, là vị thần tượng trưng cho công lý, trật tự và sự bảo hộ.

    Như cách nói của người hiện đại ngày nay thường nói rằng “Coi chừng bị nghiệp quật” thì người Ai cập cổ đại xưa sẽ có lối nói rằng “Thần Maat sẽ bỏ rơi mày”. Điều đó cũng thể hiện rằng, nghiệp về bản chất nó đã có từ rất lâu đời với mầm mống từ thời cổ đại, mặc dù tên gọi của nghiệp giữa các thời kỳ hay các nền văn hóa là khác nhau nhưng bản chất của nó thì như một. Có một sự thú vị đó là người Hy Lạp gọi thần “Maat” của Ai Cập là “Ka Maat” phát âm giống với “Karma” (Nghiệp) trong tiếng Anh hiện nay.

    Ở Trung Quốc thời cổ đại, trước thời Khổng Tử vài trăm năm thì có Lão Tử (老子, 601 – 500 TCN) đã có những nhân định về nghiệp trong cuốn sách Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (太上感应篇)của ông. Đọc cuốn sách của Lão Tử có thể thấy quan điểm về nghiệp của ông cũng có nét tương đồng với Ấn Độ giáo hay Phật giáo nhưng khác ở chỗ là không có những quan điểm về tiền kiếp hay luân hồi.

    Với Kỳ Na Giáo thì họ định nghĩa về nghiệp rất khác so với Ấn Độ, Phật giáo hoặc thậm chí là khác với văn hóa phương Tây, họ xem nó như là “những hạt bụi lang thang khắp vũ trụ” và chúng ta là những linh hồn, nếu làm điều xấu thì sẽ bị chúng bám vào làm ảnh hưởng đến cuộc đời chúng ta. Vì thế mà dân gian cũng thường nói người tu hành thường “không vướng bụi trần”.

    Đối với văn hóa phương Tây, nó cũng được xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh như Matthew, 26, câu 52; Galatians, 6, câu 7,8. Tuy vậy mà một số nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nghiệp đang dần bị loại bỏ ra khỏi Kinh Thánh từ những thế kỷ đầu sau Công Nguyên.

    3. Nghiệp từ góc nhìn Chiêm Tinh học

    3.1 Chiêm Tinh học là gì?

    Carl Jung đã từng nói rằng “Ta được sinh ra trong một thời điểm nhất định, ở một nơi nhất định, và như những thùng rượu nho được ủ qua hàng năm trời, chúng ta thấm đẫm những đặc tính của năm tháng và mùa ta sinh ra, Chiêm Tinh học không bàn gì khác ngoài việc ấy cả.”.

    Từ thử khai thiên lập địa, con người như những thực thể cô đơn giữa vũ trụ bao la và rộng lớn này. Cũng vì thế mà những người cổ đại thường hay nhìn lên bầu trời, ngắm các vì sao tỏa sáng trong màn đêm, từ đó mà họ cũng có được câu trả lời hay những sự chỉ dẫn của các vì sao.

    Chiêm tinh học là một công trình chuyên nghiên cứu về sự dịch chuyển của các hành tinh trong hệ mặt trời cũng như các chòm sao, thiên thể có trên bầu trời. Từ đó mà tìm ra được mối liên hệ giữa các hành tinh ấy có tác động như thế nào đến con người trên trái đất này. Vậy, trong Chiêm Tinh Học có thể hiện “Nghiệp” hay không?

    Với một nhà nghiên cứu Chiêm Tinh Học có lẽ sẽ rất quen thuộc với trục La Hầu và Kế Độ (Long Thủ/ Vĩ Thủ theo cách gọi phương Đông). Và đây chính là sự thể hiện của Nghiệp trong Chiêm Tinh.

    3.2 Các loại nghiệp quả

    Theo như những nghiên cứu về rất nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới. Theo tôi, quan niệm về ” nghiệp trong Phật giáo là quan niệm hợp lý và đầy đủ nhất. Vì thế, xin trích dẫn từ khái niệm “nghiệp” của Phật giáo để giúp ta nhận định rõ hơn về lá số chiêm tinh cũng như ảnh hưởng của nghiệp đến với lá số ấy.

    Theo Phật giáo, mỗi con người chúng ta có 3 loại nghiệp đó là:

    – Nghiệp Tích Trữ (Sanchita Karma, tiếng Phạn là सञ्चित): Đây là loại tổng hợp, kết hợp giữa 2 loại nghiệp đó là Nghiệp Thụ Hưởng và Nghiệp Tạo Ra hay cũng là sự tích tụ qua nhiều kiếp sống.

    – Nghiệp Thụ Hưởng (Prarabdha Karma, tiếng Phạn là प्रारब्धकर्मन्): Loại nghiệp này là 1 phần của Nghiệp Tích Trữ để tạo ra được sự hiện diện và thực tại bản thân ta trên cõi đời này. Có thể hiểu như là bạn được sinh ra với một ông bố, bà mẹ như thế, trên quê hương đó, vì thế là tùy vào nghiệp của bạn ở các kiếp sống trước mà sẽ quyết định kiếp sống ở kiếp này.

    – Nghiệp Tạo Ra (Kriyamana Karma, tiếng Phạn là क्रियमाणकर्म): Đây là loại nghiệp dựa trên những hành động, suy nghĩ, lời nói của chúng ta mà tạo nên những là những “nghiệp trong cuộc sống hiện tại.

    Nghiệp Thụ Hưởng được xem như cố định và không thể thay đổi còn 2 loại nghiệp còn lại là linh hoạt, có thể thay đổi thông qua mỗi người.

    – Lá số chiêm tinh của con người trong Chiêm Tinh Học chính là một dạng để có thể thấy được Nghiệp Thụ Hưởng. Vì thế mà những lá số của chúng ta dựa trên sự chuyển động của các hành tinh khi chúng ta sinh ra là sự thể hiện của Nghiệp Thụ Hưởng ở cuộc đời này.

    – Nghiệp Tạo Ra là loại nghiệp dễ thay đổi nhất. Còn Nghiệp Tích Trữ thì chỉ có thể khi một người nào đó qua đời và phải dựa vào những người còn sống để có thể thay đổi giúp họ. Chẳng hạn như một người vừa qua đời, chúng ta làm ma chay, cúng kiếng đầy đủ rồi mời thấy tế lễ, các sư thầy về tụng kinh cầu siêu để nghiệp của người chết nhanh chóng được hóa giải và đi siêu thoát.

    – Có nhiều người thường nhầm lẫn giữa Nghiệp Thụ Hưởng và Nghiệp Tạo ra. Vì thế mà cho rằng “Định mệnh” là điều có thể dễ thay đổi, từ đó ỷ lại, ngạo mạn và luôn cho rằng ta vẫn luôn có thể thay đổi số phận. Nhưng không, những thứ đã là thuộc về “Định mệnh” thì dù cho có thay đổi như thế nào cũng sẽ vô ích.

    3.3 Ví dụ thực tiễn

    Bạn được bố mẹ chiều chuộng, cho tiền tiêu (Nghiệp thụ hưởng). Nhưng bạn lại tiêu xài phung phí dẫn đến không những hết tiền mà còn nợ người khác (Nghiệp tạo ra)

    Bạn không thể tránh được một vụ tai nạn đụng xe (Nghiệp thụ hưởng), nhưng bạn vẫn có thể lựa chọn cách phản ứng đối với tai nạn đó (Nghiệp tạo ra)

    Bạn có người thân qua đời (Nghiệp thụ hưởng của bạn và họ), nhưng thái độ bạn đối xử lúc họ còn sống hay cách bạn tổ chức tang lễ cho người đó sẽ quyết định bạn là người như thế nào, có hậu hay vô hậu (Nghiệp tạo ra)

    Bạn làm từ thiện (Nghiệp tạo ra), người khác nhận được sự giúp đỡ của bạn (Nghiệp thụ hưởng của họ)

    Hai người yêu nhau rồi cưới nhau (Nghiệp thụ hưởng của cả 2). Nhưng tình cảm có bền lâu và hạnh phúc hay không (Nghiệp tạo ra của 2 người)

    Hai người gặp nhau, yêu nhau rồi cưới nhau (Nghiệp Thụ Hưởng của 2 người), nhưng giữ được quan hệ đó lâu bền hay không thì đó là “Nghiệp Tạo Ra” của 2 người.

    Một người mang thai (Nghiệp thụ hưởng) nhưng sinh ra hay phá thai (Nghiệp tạo ra + Nghiệp thụ hưởng của đứa bé ấy)

    Qua đó, có thể thấy, Nghiệp là một quan niệm đã có từ rất lâu đời, xuất hiện từ thuở xa xưa. Và đối với Chiêm Tinh Học nói riêng hay các bộ môn “Tử vi lá số” khác nói chung thì Nghiệp luôn tồn tại có tính biện chứng để lý giải về số phận hay định mệnh của một con người, nhất là trong lĩnh vực tiên tri, bói toán như đã kể ở trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Quyển Sách Chiêm Tinh Học Hay Dễ Ứng Dụng Vào Cuộc Sống
  • Tự Học Chiêm Tinh Cơ Bản
  • Giáo Trình Học Tiếng Latinh
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Dựa Vào Gốc Tiếng Latin.
  • Học Tiếng Trung Cơ Bản Với Bảng Chữ Cái Tiếng Trung
  • Chiêm Tinh Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Môn Khoa Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Khoa Học Máy Tính Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tĩnh Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Thủy Lực Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Bảng Thuật Ngữ Y Tế Quan Trọng
  • Ông cho xây dựng thành phố Heliopolis và dạy những người Ai Cập về khoa học chiêm tinh.

    He built the city of Heliopolis and taught the Egyptians astrology.

    WikiMatrix

    Ai khởi xướng thuật chiêm tinh?

    The Source of Astrology

    jw2019

    7 Vua lớn tiếng triệu tập các đồng bóng, người Canh-đê* và các nhà chiêm tinh.

    7 The king called out loudly to summon the conjurers, the Chal·deʹans,* and the astrologers.

    jw2019

    Tuy nhiên, “tài liệu về tôn giáo, bói điềm và chiêm tinh… đóng một vai trò quan trọng”.

    However, “associated religious texts, both omina [omens] and astrology . . . , played a large part.”

    jw2019

    Tức là nhóm người chuyên về bói toán và thuật chiêm tinh.

    That is, a group skilled in pination and astrology.

    jw2019

    Họ không phải là các vua mà đúng hơn là các nhà chiêm tinh.

    Rather than being kings, they are more accurately identified as astrologers.

    jw2019

    Người Ai Cập cũng thực hành khoa bói toán và chiêm tinh.

    The Egyptians also practiced pination and astrology.

    jw2019

    Thực hành chiêm tinh và bói toán hàm ý rằng tương lai chúng ta đã được định trước.

    The practice of astrology and fortune-telling implies that our future is pdetermined.

    jw2019

    Chúng tôi là những nhà chiêm tinh.

    We are astrologers.

    OpenSubtitles2018.v3

    Đức Chúa Trời nghĩ gì về việc dân Ngài thực hành thuật chiêm tinh?

    How did God view the practice of astrology among the Israelites?

    jw2019

    Phù hợp với sự hiểu biết này, nhiều bản Kinh Thánh dịch maʹgoi là “nhà chiêm tinh”.

    In harmony with this understanding, many Bible translations render maʹgoi “astrologers.”

    jw2019

    Tại sao nên tránh thuật chiêm tinh?

    Why You Should Avoid It

    jw2019

    Những nhà chiêm tinh đến từ châu Âu và Mỹ.

    The astrologers came from Europe and the United States.

    WikiMatrix

    Gọi pháp sư, phù thủy, hay các chiêm tinh gia?

    The enchanters, the sorcerers, or the astrologers?

    OpenSubtitles2018.v3

    Lịch chiêm tinh của người Ba-by-lôn, thiên niên kỷ thứ nhất TCN

    A Babylonian astrological calendar, first millennium B.C.E.

    jw2019

    “Ngôi sao” bèn dẫn các nhà chiêm tinh đến nơi Giô-sép và Ma-ri đang ở.

    The “star” then led the astrologers to Joseph and Mary.

    jw2019

    CẠM BẪY CỦA THUẬT CHIÊM TINH

    THE SNARE OF ASTROLOGY

    jw2019

    Tết Nguyên Đán cũng liên hệ chặt chẽ với thuật chiêm tinh.

    The Lunar New Year is also closely linked to astrology.

    jw2019

    Mọi người bảo rằng, ồ, làm như vậy. Nhà chiêm tinh bảo tôi làm gì đó

    An astrologer tells me to do something.

    ted2019

    10 Trong những năm gần đây, nhiều người đã quay về thuật chiêm tinh để được hướng dẫn.

    10 In recent years, great numbers of people have turned to astrology for guidance.

    jw2019

    Anh có một bà mụ giỏi, một nhà chiêm tinh, một bác sĩ.

    I have an excellent midwife, an astrologer, a doctor.

    OpenSubtitles2018.v3

    Các chiêm tinh gia có tặng quà sinh nhật cho Chúa Giê-su không?

    Did the astrologers psent birthday gifts to Jesus?

    jw2019

    Cũng có thể là “Những kẻ phân chia bầu trời; Các chiêm tinh gia”.

    Or possibly, “Those who pide the heavens; The astrologers.”

    jw2019

    24, 25. (a) Tại sao thuật chiêm tinh phi lý, nhưng tại sao nhiều người tin?

    24, 25. (a) Why is astrology illogical, yet why do many turn to it?

    jw2019

    Tại sao ngành chiêm tinh học vẫn còn được nhiều người ưa thích đến thế?

    Why is astrology still so fashionable?

    jw2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiêm Tinh Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nguồn Gốc Của Tiếng Latin – Tại Sao Nên Học Tiếng Latin?
  • Chuyện Du Học Sinh Lào Học Tiếng Việt
  • Kinh Nghiệm Học Tiếng Trung Cho Người Mới Bắt Đầu Ở Trung Tâm Đào Tạo Hán Ngữ Lào Cai
  • Các Phương Pháp Để Học Tiếng Lào Hiệu Quả.
  • Chiêm Tinh Học Nội Môn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Hội Nghị Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Lực Là Gì, Lực Tiếng Anh Nghĩa?
  • Tư Duy Tuyến Tính Là Gì? Hỗ Trợ Học Ielts Tốt Hơn
  • Chú Trọng Phát Triển Năng Lực Giao Tiếp Tiếng Anh Của Học Sinh
  • Đây là bài viết về các khái niệm chiêm tinh học nội môn để giải thích phần luận giải các Huấn Thị Cá Nhân của FCD. Lúc đầu, chúng tôi định gói gọn trong một bài viết giải thích các thuật ngữ chiêm tinh học mà GS Michael D. Robbins dùng, nhưng sau khi cân nhắc, chúng tôi thấy cần viết thành một loạt bài về chiêm tinh học nội môn. Cũng xin nói trước, chúng tôi không phải là những nhà nghiên cứu chiêm tinh chuyên nghiệp hoặc thành thạo chiêm tinh, và chúng tôi chỉ trong quá trình tìm hiểu học hỏi môn học còn mới lạ. Do đó, loạt bài này là đúc kết những gì chúng tôi tìm hiểu về chiêm tinh học nói chung, và chiêm tinh học nội môn theo giáo lý của đức DK. Chiêm tinh học là một môn khoa học phức tạp, nghiên cứu về tương tác của các lực vũ trụ lên con người, và như đức DK đã nói, ” chiêm tinh học về mặt bản chất là cách trình bày thuần khiết nhất của chân lý huyền môn trên thế gian vào lúc này, bởi vì nó là khoa học bàn đến các năng lượng và các lực đang chi phối và cai quản, chúng tác động qua và trên toàn thể lĩnh vực không gian và tất cả những gì nằm trong lĩnh vực đó.”

    ******************

    GIỚI THIỆU

    Carl Jung, nhà tâm lý học nổi tiếng, là một người ngưỡng mộ chiêm tinh. Ông cũng đã có một kinh nghiệm cận tử sau một cơn đau tim, trong đó ông thấy mình thoát ra khỏi cơ thể khoảng một ngàn hai trăm dặm trên mặt đất. Ông thường nói rằng người ta có thể nghe được nhiều điều bất thường, ngay cả từ những nhân vật có thẩm quyền nhất, nhưng chỉ khi nào chính bạn trải nghiệm hiện tượng (ý ông muốn nói là tâm linh) khi đó bạn mới thực sự chấp nhận chúng là có giá trị.

    Các nhà chiêm tinh đều biết rằng chỉ thị chiêm tinh chính của các sự kiện lặp đi lặp lại là sự di chuyển hoặc tiến trình của mặt trăng xung quanh lá số. Mặt trăng thực hiện một tiến trình như vậy khoảng mỗi 28 năm, và có thể kích hoạt các sự kiện tái diễn.

    Năm 1941, tôi ở trong quân đội Anh tại Abysinnia. Một ngày nọ, trong một trận bão lớn, tôi trú bên cạnh một chiếc xe quân đội. Một tia sét loé lên và ngay lập tức tôi bị hất ra khỏi chiếc xe tải mà tôi đang tựa vào. Tôi không bị thương tích gì cả nhưng tôi không một chút nghi ngờ gì tôi đã rất may mắn khi thoát khỏi tai nạn. Tôi có thể đã không bao giờ nhớ lại sự kiện này nếu thực tế là gần 29 năm sau, vào năm 1970, tôi đang nhìn một trận bão điện đang tiến gần từ một sườn núi gần nhà tôi. Cứ vài giây bầu trời bốc lên và một tiếng sét đánh sập xuống khu vực. Cơn bão tiến gần và một người bạn ở bên tôi đã nhận xét rằng nó có thể dễ dàng tấn công ngôi nhà. Và nó đã làm điều đó. Một tia chớp loé lên và tiếng nổ làm tôi điếc tai trong vài phút khi căn phòng mà chúng tôi đang đứng bị sét đánh. Thực ra thì vật thu hút sét là một chiếc ghế kim loại dùng cho điều trị bên cạnh cửa sổ mà chúng tôi đứng nhìn cơn bão. Rèm cửa bị cháy, đường dây điện thoại cũng bị cháy gần trăm feet, và đồ gỗ xung quanh cửa sổ đã vở vụng từng mảnh.

    Đây là hai sự kiện có tính chất đáng tiếc đã được lặp lại 29 năm sau, khi mặt trăng tiến trình đi qua cùng một khía cạnh trong lá số chiêm tinh của tôi. Hai vụ việc năm 1941, tức là bị bắt giữ và sét đánh, một năm sau lại bị tiếp theo bằng ba giai đoạn, mỗi giai đoạn cách nhau vài tháng, trong mỗi giai đoạn đó tôi bị thương, hai lần rất nghiêm trọng … thương tích mà tôi chưa bao giờ thực sự hoàn toàn hồi phục. Ý nghĩ rằng mô hình sắp được lặp lại khiến tôi cảnh giác. Tôi lập tức tìm kiếm lời khuyên từ các nhà chiêm tinh. Tôi bắt đầu thực hiện những gì mà tôi coi là biện pháp phòng ngừa cần thiết. Rốt cuộc, sự hiểu biết về các lực bí ẩn của tự nhiên có ý nghĩa gì nếu bạn không sử dụng kiến ​​thức đó vào cuộc sống hàng ngày của bạn?

    Tôi tìm kiếm sự bảo đảm nhưng đã được hỏi tôi muốn tự bảo vệ mình như thế nào. Tai nạn à? … Tai nạn nào? … Ở nước ngoài? … nước nào? Và như thế. Sau đó, tôi tìm kiếm một nhà chiêm tinh giỏi. Tôi tiếp cận một số nhà chiêm tinh nổi tiếng nhất ở phương Tây. Không ai có thể đưa ra lời khuyên nào cho dù thời gian sinh của tôi được biết chính xác.

    Khi các sự kiện phát triển, mặc dù tôi gặp lại gần như chính xác xu hướng của công việc trong hai mươi chín năm trước, không có thương tích nghiêm trọng xảy ra. Có kẻ thù bí mật, ở nước ngoài … nhưng họ đã không gây hiệu quả. Tôi đã có xu hướng nghĩ rằng chiêm tinh học mà tôi đã bảo vệ trong nhiều năm đã làm tôi thất vọng. Thực tế, đã có sự thay đổi hoàn cảnh trong cuộc đời tôi khiến cho chiêm tinh học của ba mươi năm đầu tiên không thích hợp để giải thích ba mươi năm tiếp của tôi. Tôi đã thay đổi! Bởi vì tôi đã thay đổi, cũng như tất cả mọi người cuối cùng phải thay đổi, lá số của tôi cần những chủ tinh mới. Đây là cơ sở để truyền bá các giáo lý của chiêm tinh học nội môn. Khi người ta đi theo Con Đường Của Sự Khai Mở Tinh Thần, những thay đổi xảy ra trong phạm vi tâm thức và các thể tế vi khác nhau của họ rộng lớn đến mức các chủ tinh cũ (chủ tinh ngoại môn) không còn tác dụng nữa, ngoại trừ trong những lãnh vực phàm ngã thay đổi ít nhất! Sự tăng trưởng tinh thần, ngay cả ở mức độ trí tuệ, có thể rất sâu rộng dù chỉ trong một năm. Giờ đây, từ những quan sát cẩn thận, tôi biết rằng trong giai đoạn 1969 đến 1973 ảnh hưởng của mặt trăng trong lá số của tôi suy yếu đáng kể và gần như tương ứng với mức độ mà tôi đã cống hiến bản thân mình cho công việc của Con Đường Tinh Thần mà tôi đang theo. Ở cấp độ trí tuệ và tình cảm, mặt trăng không còn là một yếu tố nguy hiểm trong lá số của tôi, và ngay cả ở mức độ thể chất ảnh hưởng của nó đã giảm đi đáng kể. Thay vào đó, các hành tinh Uranus (Thiên Vương Tinh), Vulcan, và Saturn (Thổ Tinh) đã đảm nhận vai trò của mặt trăng đối với tôi.

    Tôi đã học chiêm tinh với một người rất thông thái và tài năng, đã mất từ lâu, người đã được huy chương vàng do Margaret Hone, tác giả của quyển The Modern Text Book of Astrology trao tặng. Tôi đã học được nhiều, và cũng học để bỏ đi nhiều. Đối với tôi, dường như ngay những năm đầu của thập niên 50 đã có nhiều sai lầm với chiêm tinh học khi nó được phổ biến. Người phụ nữ tốt bụng đã dạy cho tôi chiêm tinh học có những loé sáng nổi bật, nhưng điều đó đan xen với những điều vô nghĩa. Bà là một tín đồ của một nhà chiêm tinh lục địa nổi tiếng thời kỳ đó là Troinski. Troinski đã đoan chắc rằng sẽ có một cuộc chiến tranh ở châu Âu vào đầu những năm 1960. Nó sẽ là một cuộc tàn sát tàn phá tất cả. Tôi đã xem xét các khía cạnh khác nhau và không thấy dấu hiệu nào cho cuộc chiến như vậy, và tôi đã nói như thế. Thay vào đó, tôi bắt đầu sử dụng một số phương pháp bí truyền để tính toán một vấn đề sắp xảy ra, một loạt các thảm hoạ không khí chưa từng thấy kéo dài trong một tuần. Tôi công bố kết luận của tôi tại một bài giảng công cộng được đưa ra hai tuần trước khi những tai nạn đáng kinh ngạc bắt đầu. Dự báo được đưa ra trong tuần san cuối tuần lớn nhất trong nước. Thầy giáo chiêm tinh của tôi tức giận. Bà tuyên bố, “bất kể ông dùng cái gì, đó không phải là chiêm tinh học”. Tôi đã sử dụng chiêm tinh học, nhưng tôi sử dụng các chủ tinh nội môn.

    Bí truyền cũng đề cập đến những vấn đề quá sâu sắc đến mức không thể thấu hiểu trừ phi có kiến thức đặc biệt. Có những yếu tố của chiêm tinh bí truyền rất trừu tượng và mơ hồ thực sự, và đòi hỏi phương pháp giải thích đặc biệt. Tôi đề cập đến ở đây việc sử dụng thượng trí hoặc trí trừu tượng để thấu đạt được những đỉnh cao của cái trí khi ý nghĩa sâu xa được phổ biến. Nếu không có các chìa khoá thích hợp, ta không thể mở cửa vào nhận thức nội tại và một số vấn đề vẫn còn che giấu và ẩn khuất.

    Lá số chiêm tinh

    Những giáo lý của Minh triết Cổ Truyền cho chúng ta biết rằng hệ mặt trời của chúng ta là hiện thân của đức Thái dương Thượng đế. Mọi thứ tồn tại trong hệ mặt trời là một phần của cơ thể và tâm thức của Ngài. Đến phiên mình, Thái dương Thượng đế sống trong cơ thể của một thực thể thậm chí còn lớn hơn bao gồm các khu vực khác của thiên hà, và cứ như thế lên đến toàn thể vũ trụ. Đấng Thái dương Thượng đế cũng được biết đến như là “Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại” và đang biểu lộ thông qua một xoáy năng lượng hoặc luân xa tương ứng với trái tim bên trong một Thực thể lớn hơn. Do đó, hình dạng của hệ mặt trời có thể được xem như một bánh xe hoặc đĩa quay. Nó bao gồm một trung tâm là mặt trời, xung quanh là các hành tinh quay quanh các quỹ đạo hình ellipse trên một mặt phẳng, và theo cách có thể được mô tả như là ngược chiều kim đồng hồ, khi nhìn từ phương Bắc thiên văn.

    * Vulcan không phải là một hành tinh theo nghĩa bình thường. Nó không được khám phá bởi khoa học vì cấu trúc phân mảnh và gần như là ” giống lượng tử ” của hình thể vật lý của nó. Trong khi phần lớn các mảnh của Vulcan nằm giữa Thủy Tinh và Mặt trời, các bộ phận khác mở rộng ra ngoài vào hệ mặt trời. Để biết thêm xem Tự Điển Chiêm tinh của tác giả Vol. I, trang xxii.

    Mặt trời, mặt trăng và hành tinh được biểu diễn bằng các ký hiệu hoặc ký hiệu như sau:

    Mô hình Địa tâm và Vòng Hoàng Đạo

    Vì sống trên trái đất, chúng ta phải xem xét hệ mặt trời từ góc nhìn của chúng ta. Do đó, chúng ta làm việc với vị trí trung tâm hoặc địa tâm của các hành tinh trong lá số chiêm tinh. Nói một cách nghiêm ngặt thì mặt trời và mặt trăng không phải là các hành tinh theo nghĩa thiên văn, nhưng đôi khi chúng ta đề cập đến chúng như vậy trong chiêm tinh học để thuận tiện. Từ “hành tinh” có nghĩa là “kẻ lang thang” trong tiếng Hy Lạp, và người xưa đã áp dụng từ này cho bất kỳ thực thể nào dường như di chuyển qua các tầng trời, khác với các vì sao tương đối cố định. Dĩ nhiên, trong mô hình địa tâm, mặt trời và mặt trăng luôn đi lang thang. Từ trái đất, chúng ta thấy Mặt trời có chuyển động rõ ràng trên nền của các chòm sao các ngôi sao cố định. Nó dường như chuyển động trên một đường tròn gọi là hoàng đạo, hoàn thành một vòng khép kín trong một năm. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng chúng ta là những người di chuyển chứ không phải là Mặt trời tương đối yên lặng. Mặt khác, Mặt trăng thực sự quay quanh Trái đất, trong cùng một mặt phẳng tương tự Mặt Trời, khoảng mười hai lần mỗi năm. Điều này cho chúng ta tháng âm lịch mà từ đó phát sinh ra mười hai tháng dương lịch dài hơn .

    Trái đất nghiêng một góc 23,5 độ so với đường thẳng đứng. Nếu chúng ta phóng đường xích đạo của trái đất vào bầu trời (đường xích đạo trời) nó không trùng với vòng hoàng đạo mà cắt nó ở hai điểm. Sự bất thường này tạo ra các mùa thay đổi. Khi mặt trời đến vị trí giao nhau này trên hoàng đạo, nó đánh dấu bắt đầu của mùa xuân và mùa thu (các điểm xuân phân và thu phân). Đó là lúc ngày và đêm dài bằng nhau vì độ nghiêng của trái đất không hướng về phía Mặt trời và cũng không xa khỏi Mặt Trời, nhưng đi ngang. Hai điểm mà đường hoàng đạo và xích đạo trời xa nhất đánh dấu giữa mùa hè và mùa đông, khi ngày dài nhất hoặc ngắn nhất.

    Vòng Hoàng đạo

    Khi chúng ta quan sát chuyển động của các hành tinh, chúng nằm trong một dải hẹp của bầu trời, không bao giờ di chuyển xa khỏi hoàng đạo. Dãy này được đặt tên là vòng ‘hoàng đạo’, mở rộng ra 8 độ ở cả hai bên của đường hoàng đạo, chứa các nhóm sao, hoặc chòm sao, từ đó phát sinh tên của các dấu hiệu (cung) chiêm tinh học. Tuy nhiên, dấu hiệu (cung) không giống như các chòm sao. Vòng Hoàng đạo bắt đầu với 0 độ của Bạch Dương vào điểm xuân phân, được gọi là điểm vernal hoặc điểm đầu tiên của Bạch Dương. Các dấu hiệu tiếp tục theo mười hai phần bằng nhau, 30 độ của dải 360 độ. Theo thứ tự, các dấu hiệu hoặc cung là Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Bò Cạp, Nhân Mã, Ma Kết, Bảo Bình, Song Ngư. Chúng đại diện cho các phẩm chất khác nhau của mười hai giai đoạn trong chu kỳ hàng năm khi Mặt Trời xoay xung quanh vòng Hoàng đạo và quay trở lại điểm xuất phát của nó.

    Các ký hiệu của mười hai dấu hiệu của hoàng đạo và tên Latin của chúng như sau:

    Các ký hiệu hoàng đạo này và các ký hiệu của các hành tinh nên được thuộc lòng ngay từ đầu vì chúng là bảng chữ cái chiêm tinh mà nếu không có chúng ta không thể bắt đầu học ngôn ngữ của nó được. Như tôi đã đề cập ở trên, điều quan trọng là các sinh viên đang theo học sẽ tạo ra những kí hiệu theo những cách này để có được những ý nghĩa hình thái từ hình dạng của chúng. Hình dạng của các ký hiệu cho thấy một cái gì đó của những phẩm chất của các hành tinh.

    Hàng ngàn năm trước, trong quá trình xây dựng khái niệm hoàng đạo, các nhà chiêm tinh học thời ấy đã phóng chiếu phẩm tính của các dấu hiệu lên các chòm sao trùng với chúng. Các chòm sao là một cách thuận tiện để chia bầu trời thành các phần. Điều này cho phép họ định vị các dấu hiệu trên bầu trời bằng cách đề cập đến nền của các ngôi sao. Họ cho các chòm sao tên của các con vật thần thoại, con người, hoặc vật thể tượng trưng cho các phẩm chất của hoàng đạo. Nhưng mãi cho đến thế kỷ thứ 3 và thứ 2 trước Công nguyên người Hy Lạp mới phát triển hoàng đạo gồm mười hai dấu hiệu như chúng ta biết ngày nay: Bạch Dương, Con Cừu; Kim Ngưu, Con Bò; Song Tử, cặp Song Sinh; Cự Giải, Con Cua; Leo, Sư tử; Xử Nữ, Trinh Nữ; Thiên Bình, Cân bằng; Hổ Cáp, Bọ Cạp; Nhân Mã, Cung thủ; Ma Kết, Dê; Bảo Bình, Người Mang Nước; Song Ngư, Cá. Chữ zodiac có nghĩa là ‘vòng tròn động vật’ bằng tiếng Hy Lạp.

    Sư dịch chuyển của các Điểm Phân

    Mười hai chòm sao không phân chia vòng tròn hoàng đạo thành các phần bằng nhau, và vài trong số chúng thậm chí còn không giống với con vật mà chúng được đặt tên. Hơn nữa, một số nhà thiên văn học tin (một cách sai lầm) rằng họ đã bác bỏ chiêm tinh học bằng cách chỉ ra sự tồn tại của một chòm sao thứ mười ba, Ophiuchus, Người chữa lành. Cũng có những tuyên bố được đưa ra nhân danh Arachne Con Nhện, và Cetus Cá Voi. Thật không may, do hiện tượng được gọi là ‘sự tuế sai’ của các Điểm Phân, các dấu hiệu truyền thống của vòng hoàng đạo không còn phù hợp với các chòm sao mà nó mang tên. Tuy nhiên, sự sắp xếp này vẫn hoạt động và đúng theo kinh nghiệm, như tác giả đã khám phá từ nghiên cứu của chính mình. Giải thích như sau:

    Trái đất không chỉ nghiêng về một bên khi nó quay quanh mặt trời; Nó cũng xoay chuyển rất chậm giống như một đầu con vụ đang bắt đầu chậm lại và lung lay. Hướng mà nó nghiêng dần dần thay đổi, làm cho trục Trái đất vẽ một vòng tròn trong hàng ngàn năm. Kết quả là, vị trí của điểm xuân phân liên tục di chuyển ngược trở lại qua các chòm sao. Khi lần đầu tiên được phát hiện bởi nhà thiên văn học người Hy Lạp Hipparchus cách đây khoảng 2000 năm, thời điểm xuân ở chòm sao Bạch Dương, trùng với dấu hiệu cùng tên. Kể từ đó nó đã di chuyển qua chòm sao Song Ngư, khiến cho có tên Thời Đại Song Ngư. Khi chúng ta bước vào thế kỷ 21, điểm xuân phân đang di chuyển ra khỏi chòm sao Song Ngư và đi vào Bảo Bình. Đây là những gì hàm ý của câu nói ‘bình minh của thời đại Bảo Bình’. Các điểm phân đi qua một chòm sao trong khoảng 2.100 năm, và hoàn thành toàn bộ vòng tròn trong khoảng 25.800 năm.

    May mắn là chúng ta không phải đợi cho đến khi các dấu hiệu hoàng đạo và các chòm sao trùng khớp một lần nữa để thực hành chiêm tinh chính xác hoặc để trả lời những lời phê phán về nó. Có hai zodiacs, vốn khá riêng biệt và khác biệt. Các nhà thiên văn học và các nhà chiêm tinh phương Đông dùng vòng hoàng đạo thiên thể (sidereal zodiac), dựa trên vị trí thực tế của các ngôi sao, và được cố định trên bầu trời. Tuy nhiên, các nhà chiêm tinh học phương Tây sử dụng hoàng đạo chí tuyến (tropical zodiac), liên kết với điểm xuân phân, và điểm này di chuyển theo sự thay đổi từ từ của trục Trái đất qua thời gian dài. Vòng Hoàng đạo chí tuyến này thích hợp nhất cho con người ở mức độ tiến hóa hiện tại, nó tạo thành một phần của ảo ảnh vĩ đại mà con người đang phải chịu. Hiện tượng này tương tự như sự biến dạng của ánh sáng khi đi qua một môi trường khúc xạ, để khi chúng ta nhìn, ví dụ một cây bút chì trong ly nước, nó có vẻ bị bẻ cong và ở trong một vị trí ảo khác với thực tế của nó. Người ta nói rằng trong giai đoạn tiến hóa cao trong tương lai của chúng ta, chúng ta sẽ đáp ứng trực tiếp hơn với những thực thể vĩ đại thể hiện qua các chòm sao, và sẽ phải chịu chi phối bởi một hoàng đạo cao hơn.

    Điểm xuân phân, vào khoảng ngày 21 tháng 3, luôn là điểm bắt đầu của năm chiêm tinh và đánh dấu vị trí bắt đầu của vòng hoàng đạo chí tuyến ở 0° Bạch Dương. Mười hai dấu hiệu của chiêm tinh theo sau trong phân chia bình đẳng của chu kỳ hàng năm. Ví dụ, khi nhà chiêm tinh nói đến một người có mặt trời ở Sagittarius, họ muốn nói người đó sinh ra trong khoảng thời gian từ 23 tháng 11 đến 21 tháng 12, khi mặt trời nằm ở đoạn thứ chín của hoàng đạo chí tuyến, nghĩa là dấu hiệu Nhân Mã. Họ không nói rằng Mặt Trời ở trong chòm sao có cùng tên. Cung Mặt trời chỉ ra tính cách của một cá nhân, nó sẽ có những đặc tính của giai đoạn mặt trời tương ứng với dấu hiệu.

    Chúng tôi đã mô tả hoàng đạo như là một dải tưởng tượng của không gian xung quanh Trái đất, được chia thành mười hai phần bằng nhau được gọi là các dấu hiệu hay cung. Từ quan điểm của chúng ta, mặt trời, mặt trăng và các hành tinh di chuyển dọc theo đường tròn này ngược chiều kim đồng hồ trong chu kỳ quỹ đạo, từ một tháng đối với Mặt trăng đến 248 năm đối với Diêm Vương Tinh.

    Cùng với chuyển động của Mặt trời, mặt trăng và các hành tinh qua hoàng đạo là chuyển động ngày đêm. Tất cả các thiên thể và các dấu hiệu của hoàng đạo dường như di chuyển qua bầu trời của chúng ta mỗi ngày do chuyển động quay của Trái đất.

    Hoàng đạo quay từ hướng đông sang tây (theo chiều kim đồng hồ) quanh Trái đất với tốc độ bốn phút một độ. Chuyển động ngày đêm nhanh hơn nhiều so với sự dịch chuyển tương đối chậm của các hành tinh qua vòng hoàng đạo. Trong 24 giờ, tất cả mười hai dấu hiệu sẽ đi qua bầu trời của chúng ta giống như Mặt Trời. Do đó, chúng ta có thể thấy một dấu hiệu mới xuất hiện phía trên đường chân trời phía đông mỗi hai giờ. Đây là dấu hiệu của hoàng đạo được gọi là một cách thích hợp là Cung Mọc và nó phần lớn chịu trách nhiệm xác định mục đích của linh hồn của một cá nhân. Dấu hiệu mọc là dấu hiệu quan trọng nhất trong Khoa Chiêm tinh bí truyền, cũng như là một trong những tính năng thay đổi nhanh nhất của khoa chiêm tinh. Độ chính xác của giờ sinh rất quan trọng. Nó phải được biết đến trong vòng 10 phút. Nếu thời gian sinh không biết chính xác thì mục đích của Linh hồn không thể được đánh giá bằng các phương pháp chiêm tinh học bình thường; Nhưng khi đó, nó có thể là nghiệp quả của một người không biết mục đích đó. Tuy nhiên, có những phương pháp huyền bí để xác định cung mọc, có sẵn cho các nhà chiêm tinh có giữ nhật ký tâm linh. (Xem Nhật Ký Tâm Linh của tác giả).

    Lá số sinh

    Giống như bất kỳ sơ đồ nào, một lá số chiêm tinh là một sự trừu tượng hóa một tình huống thực tế. Trên đó, thể hiện tất cả các yếu tố thiên văn cho đến nay được xem xét-đó là bản đồ của hệ mặt trời như được thấy ở một thời điểm cụ thể và từ một nơi cụ thể trên trái đất. Điều này cung cấp cho nhà chiêm tinh đủ thông tin để xác định những ảnh hưởng chiêm tinh hiện diện tại một sự kiện cụ thể. Lá số chiêm tinh có thể được lập cho bất kỳ sự kiện nào, chẳng hạn như việc hạ thủy một con tàu, khai trương một doanh nghiệp, một trận động đất, hoặc thậm chí sự ra đời của một ý tưởng, nhưng chúng thường được sử dụng cho sự sinh ra của con người. Thường được gọi là biểu đồ sinh hoặc lá số sinh, nó được lập vào thời điểm mà đứa trẻ hít thở lần đầu và bắt đầu cuộc sống như một con người độc lập về mặt sinh lý. Các vị trí địa tâm của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh tại thời điểm đó được vẽ trên vòng tròn hoàng đạo. Vì vậy, người ta có thể đề cập đến Mặt trăng như là ở mười tám độ Chòm Song Ngư hoặc mô tả ai đó có sao Mộc của mình ở mười tám độ Bạch Dương, v.v…

    * Cần biết những giờ nào trong ngày được thể hiện trong các nhà như một phương tiện để kiểm tra tính chính xác của lá số chiêm tinh. Ví dụ, biểu đồ mẫu dành cho một người được sinh ra lúc 9 giờ 45 phút, đặt Mặt Trời vào trong nhà nơi mà thời gian đó được thể hiện, tức là ở nhà thứ 11, còn tại thời điểm khác trong ngày, ví dụ 3 giờ chiều, mặt trời sẽ ở một nhà khác, trong trường hợp đó là nhà thứ 8. Do đó, dễ dàng đánh giá gần đúng nhà mà người đó có mặt trời ở nếu bạn biết thời điểm sinh.

    Cũng như tính địa tâm, lá số chiêm tinh cũng có tính địa tĩnh. Các nhà được xem như một cấu trúc cố định, được thể hiện bởi một bánh xe có các nan hoa. Các dấu hiệu của hoàng đạo được hiển thị trong một dải bên ngoài và dường như xoay theo chiều kim đồng hồ khi Trái đất quay trên trục của nó. Các hành tinh đi ngược chiều kim đồng hồ qua các dấu hiệu ở tốc độ chậm hơn nhiều, và hiệu ứng chung là các hành tinh dường như di chuyển cùng với các dấu hiệu từ nhà sang nhà khác theo chiều kim đồng hồ, sao cho tất cả các dấu hiệu và các hành tinh quay một vòng hoàn chỉnh của bầu trời trong 24 giờ. Bản đồ cơ bản của lá số chiêm tinh khi đó bao gồm: (a) mười hai nhà ở vị trí tĩnh của chúng: (b) mười hai dấu hiệu quay theo chiều kim đồng hồ qua các nhà, một dấu hiệu cứ mỗi 2 giờ và (c) mười hai hành tinh di chuyển ngược chiều kim đồng hồ qua các dấu hiệu ở tốc độ khác nhau.

    Tại thời điểm cụ thể lúc sinh, biểu đồ giống như ‘khung hình đóng băng’ của một hình ảnh động, một cái nhìn thoáng qua về mô hình luôn luôn thay đổi của trời, với các dấu hiệu và hành tinh nằm trong phân đoạn (hay nhà) này hay khác. Như vậy, trong biểu đồ mẫu ở trên, Cung Mọc Ascendant (đỉnh của nhà đầu tiên) là 9 độ Bảo Bình. Điều này có nghĩa là Bảo Bình nằm ở nhà thứ 12 và thứ nhất: 9 độ Bảo Bình nằm trong nhà thứ 12 và 21 độ của dấu hiệu Bảo Bình nằm trong nhà thứ nhất (mỗi dấu hiệu có tổng cộng 30 độ). Ngoài ra còn có 10 độ Song Ngư trong nhà thứ nhất. Tiếp theo, có 20 độ Song Ngư và 12 độ Bạch Dương trong nhà thứ 2, 18 độ Bạch Dương và 14 độ Kim Ngưu trong nhà thứ 3, và như thế tiếp tục các nhà khác. Lưu ý rằng các dấu hiệu ngược lại có cùng góc độ trong các nhà đối diện, ví dụ: Nadir (đỉnh của nhà thứ 4) ở 14 độ Kim Ngưu trực tiếp đối điện với Thiên Đỉnh Midheaven (đỉnh của nhà thứ 10) ở 14 độ Bò Cạp. Tương tự như vậy, Cung Lặn (đỉnh của nhà thứ 7) ở 9 độ Sư Tử đối diện với Cung Mọc 9 độ.

    Chúng ta cũng có thể đề cập đến Mặt trăng ở trong nhà thứ hai, hoặc sao Mộc trong nhà thứ ba, v.v… Mỗi hành tinh nằm trong nhà có chứa góc độ và dấu hiệu của hoàng đạo (hiển thị ở bên trong của ký kiệu hành tinh). Kết hợp cả cung và vị trí nhà của các hành tinh chúng ta có: Mặt trăng ở cung Song Ngư trong nhà thứ hai, sao Mộc ở cung Bạch Dương ở nhà thứ ba, vv

    Vulcan và Trái đất

    Hai hành tinh này không phải lúc nào cũng xuất hiện trên các lá số chiêm tinh được tạo ra bởi máy tính, nhưng chúng là những yếu tố ảnh hưởng quan trọng trong Chiêm tinh học Nội môn. Một cách rất đơn giản, Vulcan được đặt cách Thuỷ tinh 3 độ về phía mặt trời, cón Trái đất nằm đối diệnvới Mặt trời. Về các lý do của các vị trí này, xin xem Từ Điển Chiêm Tinh Học của tác giả, Vol. I, trang xx, xxii). Mặc dù biểu đồ là địa tâm, Trái đất được thể hiện theo nhật tâm, nghĩa là, như nó được nhìn thấy từ vị trí của Mặt Trời.

    Các Lực của Chiêm tinh

    Thực hành chiêm tinh học dựa vào Luật tương ứng, được diễn tả rất súc tích bởi nhà huyền thuật người Ai Cập Hermes Trismegistos: “Trên sao, Dưới vậy.” Nói cách khác, sự thay đổi trên bầu trời được phản ánh trong các sự kiện trên trái đất. Tuy nhiên, chiêm tinh học không nhất thiết phụ thuộc vào niềm tin rằng các hành tinh gây ra các sự kiện. Nhiều nhà chiêm tinh coi các thiên thể chuyển động của bầu trời là một loại ‘đồng hồ’, xác định thời gian lặp lại chu kỳ phức tạp của các sự kiện trên trái đất. Vì vậy, một nhà chiêm tinh nhờ tham khảo cẩn thận hồ sơ quá khứ, có thể dự đoán các sự kiện có thể xảy ra. Chiêm tinh học nội môn sử dụng quan điểm này nhưng đi xa hơn và đề nghị rằng cuộc sống trên hành tinh này bị ảnh hưởng và định hướng đến một mức độ lớn bởi các thiên thể đang di chuyển xung quanh chúng ta, theo một Kế hoạch Thiêng liêng. Nói cách khác, tác động chiêm tinh học là viễn cảnh – nó kích thích đời sống để đạt đến tiềm năng tiến hoá của nó. Tuy nhiên, các nhà khoa học sẽ không bao giờ tìm thấy một cơ chế thỏa đáng cho ảnh hưởng chiêm tinh trong vật chất vật lý mà thôi. Chín phần mười vật chất trong vũ trụ mà họ gọi là Vật Chất đen, và khoa huyền môn từ hàng thế kỷ gọi là vật chất vi tế, sẽ phải được nghiên cứu về các tính chất kết nối các ngôi sao, hành tinh và cư dân của chúng. Tuy nhiên, có một lực vật lý liên kết chặt chẽ với lực tế vi, được gọi là “năng lượng được yêu thích của các vị thần”. Tất nhiên nó là từ tính.

    Các Nhà

    Cho đến giờ, chúng ta đã trình bày một kế hoạch của vũ trụ bên ngoài của con người trên trái đất dưới dạng một vòng tròn hoàng đạo của các chòm sao / dấu hiệu di chuyển theo chiều kim đồng hồ đối với anh ta, và bao quanh là các hành tinh di chuyển ngược chiều kim đồng hồ. Nhưng vẫn còn một vũ trụ nhỏ chính là con người. Nó được chỉ định như là một hệ thống mười hai nhà, may mắn thay, vẫn giữ cố định trong hai vòng tròn khác của hoàng đạo và hành tinh, mà chúng ta đã mô tả và minh họa trước đó trong chương này. Chúng ta hãy sử dụng sự tương tự và minh hoạ để mô tả mô hình thu nhỏ này, đó là con người và hệ thống nhà.

    Một giọt nước tinh khiết có thể ghi lại trên bề mặt của nó toàn bộ vũ trụ. Mọi thứ xung quanh nó, con người, nhà cửa, cánh đồng, bầu trời, biển, ô tô đi qua được phản ảnh trong hình dạng gần như hình cầu của giọt nước. Tương tự vậy, hoặcmột cách tương đồng, bộ não con người hoạt động như một nơi tiếp nhận của hàng triệu hình ảnh và ấn tượng được chiếu lên bề mặt của nó từ thế giới bên ngoài, qua đó tạo ra các đối xứng nội bộ của mọi hiện tượng khách quan. Mỗi ‘externa’ có một vị trí trong vỏ não hoặc chất xám của não mà bản thân nó, như là cơ quan ý thức của chúng ta, có hình dạng không khác giọt nước. Và những ngoại bào xung quanh này cũng phải được tính đến như là một phần của các lực đa số đã đề cập trước đây bao quanh chúng ta.

    Trong chiêm tinh bí truyền, chúng ta phải tính đến hoàn cảnh của con người cũng như thế giới cánh chung của chúng ta, hoạt động của Chân ngã, những kiếp đã qua, trải nghiệm ngoài thân xác, những giấc mơ, thiền định, sự phát triển tinh thần, mục đích và nghiệp quả của linh hồn. Để tạo thuận lợi cho việc ghi nhận và thể hiện tất cả những thành phần có thể có trong tính cách và hành vi của chúng ta, chúng ta lấy hình cầu lớn hay ‘vùng bao quanh’ và xem nó như một đĩa phẳng, chia thành mười hai đoạn mà chúng ta đã mô tả trước đây là ‘các nhà’ của lá số chiêm tinh. Mỗi kinh nghiệm đi ra hoặc đi vào phù hợp với mười hai đoạn này, với ý thức đặt ở trung tâm của nó. Các nhà là những tính năng hữu hình và hướng hình thể nhất định của lá số chiêm tinh, và hàng nghìn hàng nghìn yếu tố ngoại tại ảnh hưởng đến tâm thức của chúng ta được chia ra giữa chúng, như mô tả trong phần sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiệp Là Gì? Nghiệp Quả Từ Góc Nhìn Chiêm Tinh Học
  • 9 Quyển Sách Chiêm Tinh Học Hay Dễ Ứng Dụng Vào Cuộc Sống
  • Tự Học Chiêm Tinh Cơ Bản
  • Giáo Trình Học Tiếng Latinh
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Dựa Vào Gốc Tiếng Latin.
  • Sách Chiêm Tinh Khuyên Đọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Ký Hiệu Và Biểu Tượng Trong “chiêm Tinh Học” (Phần 1/2)
  • 4 Phương Pháp Dạy Trẻ Lớp 1 Tập Đọc Khoa Học Và Hiệu Quả
  • Giáo Án Hướng Dẫn Học Tin Học Lớp 5
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa)
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 1 Tuần 3 Câu 1, 2, 3, 4 Trang 11, 12
  • Nếu bạn có khả năng đọc tiếng Anh tốt và muốn tự học Chiêm Tinh, đề cử của tôi là nên bắt đầu với sách của Stephen Arroyo, Bil Tierney hoặc Isabel M. Hickey. Tiếp đó, sách của Donna Cunningham, lý do, những sách cho người mới bắt đầu của 3 tác giả này có thể dễ dàng tìm được nguồn free trên mạng, và viết rất tốt. Khi đã có kiến thức hòm hòm về các hành tinh, 12 cung địa bàn và 12 cung thiên bàn (hoàng đạo) và các góc chiếu, lý thuyết về vận hạn, bạn có thể đọc thử sách của Evangeline Adams và Barbara Hand Clow. Sau giai đoạn này, bạn đã có thể khá tự tin khi đọc các blog Chiêm Tinh tiếng Anh mà không sợ bị loạn vì đã tự có khả năng đánh giá và lọc lựa kiến thức. Trong tất cả các giai đoạn, lời khuyên thiết yếu nhất của tôi là hãy thực hành trên thật nhiều lá số, nhất là những người có nét đặc sắc tiêu biểu trong cá tính, công việc, hành xử. Tin tôi đi, nếu bạn chưa tiêu hóa xong 3 tác giả đầu tiên mà nhảy ngay vào sách của Evangeline Adams, cầm chắc bạn sẽ không tiếp thu được gì hết.

    Nếu bạn đủ phong lưu để đầu tư vào đọc sách có bản quyền Chiêm Tinh. Stephen Arroyo, Bil Tierney, Richard Idemon và Donna Cunningham vẫn là 2 đề cử hàng đầu của tôi. Họ còn nhiều sách khác không có bản lậu, và chất lượng còn cao hơn các bản trôi nổi nhiều, vì được viết gần đây hơn, có sự cập nhật các kinh nghiệm mới nhất. Ngoài ra, nếu bạn thích cả bài Tarot thì không nên bỏ qua cái tên Liz Greene. Công bằng mà nói sách Chiêm Tinh của bà này hơi lan man nhưng giàu tính biểu tượng, đọc để có kiến thức hệ thống thì dở, nhưng đọc chỉ để cảm nhận các biểu tượng thì tuyệt.

    Khi tham vọng về Chiêm Tinh học của bạn cao hơn chút nữa, lúc đó bạn nên biết tới những cái tên như Alan Leo, Charles E.O. Carter, Edmund Marc Jones, Dane Rudhyar, Stephen Forest, Robert Hand, Robert P. Blaschke, Michael R. Meyer…

    Sách của Alan Leo, Michael R. Meyer và Dane Rudhyar hiện nay khá dễ tìm bản free trên mạng. Các tác giả khác đều cần sự đầu tư tương đối vì… bác nào cũng nhiều sách đến muốn chết ngất được, mà toàn sách bản quyền. Trong những cái tên kể trên, Edmund Marc Jones được xưng tụng là người thầy của tất cả các Chiêm Tinh Gia Mỹ hiện đại, còn Dane Rudhyar được coi là Chiêm Tinh Gia có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Rất nên đọc để hiểu sự uyên bác và đồ sộ trong khối lượng kiến thức Chiêm Tinh mà họ đã đóng góp cho thế giới. Robert P. Blaschke có cách viết ngắn gọn, súc tích và nặng chiều sâu, rất kén người đọc, không cần phải cố quá với bác này nếu không muốn thành …quá cố. Còn sách của C.E.O Carter chỉ có 1 nhược điểm duy nhất, được viết vào thời kì Neptune và Pluto chưa được nghiên cứu đầy đủ, chưa có Chiron và bộ 360 biểu tượng Sabian. Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề tuyệt vời của ông khiến những cuốn sách ấy vẫn là kinh điển cho tới tận bây giờ.

    Nếu bạn hứng thú với đề tài nghiệp trên lá số, đừng quên nhân vật tiên phong trong lĩnh vực này là Jeffrey Wolf Green, nhiều chiêm tinh gia khác đều ít nhiều đóng góp ở đó, như Steven Forrest, Stephen Arroyo, Noel Tyl… Lưu ý là lĩnh vực này hiện rất sơ khai và nhiểu cuốn sách viết về nó có tính chất kêu gọi thêm người cùng nghiên cứu, thử nghiệm và bổ sung số case luận đoán thực. Hơn nữa, nó là phần khó kiểm chứng nhất trong chiêm tinh nên cần 1 thái độ thận trọng khi áp dụng.

    Tất cả các đề cử trên đều là dành cho những bạn muốn nghiên cứu Chiêm Tinh nghiêm túc, có chiều sâu, có thời gian chiêm nghiệm dành cho nó. Còn về dạng sách Chiêm Tinh Mì Ăn Liền (tiếng Anh gọi là cook_books, vầng, công thức nấu ăn) Thì thú thực, tôi lờ lớ lơ nó lâu lắm rồi nên chả biết tên tuổi nào lừng lẫy cả ngoài cái tên Linda Goodman (Và bí quyết để đọc hiểu cuốn Sun Sign của Linda Goodman là hãy coi mỗi bài về 1 sun sign như 1 bài viết nâng bi dành cho người có cung mọc trùng với cái sun sign đó). Bạn có thể xem một số đề mục bên trang Chiêm Tinh Mì Ăn Liền trên blog là hiểu ngay thế nào là Mì Ăn Liền. Có một luật bất thành văn ngày nay là trừ sách của Stephen Arroyo và Liz Greene, tất cả sách Chiêm Tinh đang còn lưu hành mà bán được trên 100 000 bản đều là Mì ăn liền. Tại sao lại có cái luật này thì chắc phải hỏi bản thân độc giả phương Tây. Về 2 ngoại lệ, do sách của Stephen Arroyo viết quá tốt nên rất nhiều người dạy Chiêm Tinh chuyên nghiệp có máu lười đã dùng luôn sách của ông làm giáo trình. Còn Liz Greene thì làm thị trường cực tốt.

    Mì Ăn Liền có cái hay của Mì Ăn Liền, và không nên áp quan điểm của 1 kẻ thích đọc sách của những vị, cả đời chỉ bán được vài ngàn bản in mỗi đầu sách bất chấp danh tiếng ngất trời, như tôi lên thiên hạ. Các bạn đang dịch và bán sách hãy cứ dịch và cứ bán, vì mì ăn liền phù hợp thị trường và thị hiếu hơn. Chỉ là, nếu ai đó muốn thực sự hướng tới những ứng dụng của Chiêm Tinh như một công cụ hữu hiệu cho cuộc sống hàng ngày thì đừng nên trông cậy nhiều vào sách Mì ăn liền. Tiêu chuẩn duy nhất để chọn sách Mì ăn liền theo tôi là giở ra đọc thử vài trang, thường là phần mô tả về mình trước, nếu thấy hay hay, đúng đúng, văn phong dễ chịu, đọc dễ vào thì mua.

    (Người xem 4.344 lượt, 830 lượt / ngày)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lớp Học Tiếng Việt Và Tiếng Lào Cho Người Việt Tại Thủ Đô Vientiane
  • Khai Giảng Lớp Học Tiếng Việt Và Tiếng Lào Cho Bà Con Tại Vientiane
  • Tuyển Cộng Tác Viên Phiên Dịch Tiếng Trung Tại Lào Cai
  • Học Chính Quy Chứng Chỉ Tiếng Trung Tại Lào Cai
  • Học Tiếng Hàn Ở Đâu Tại Đà Nẵng Hiệu Quả Nhất
  • Chiêm Tinh Học Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiêm Tinh Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Môn Khoa Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Khoa Học Máy Tính Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tĩnh Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Thủy Lực Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tại sao ngành chiêm tinh học vẫn còn được nhiều người ưa thích đến thế?

    Why is astrology still so fashionable?

    jw2019

    Trong chiêm tinh học của người Hindu, có chín đối tượng chiêm tinh, gọi là Navagraha.

    In Hindu astrology, there are nine astrological objects, known as Navagrahas.

    WikiMatrix

    Ông đã sử dụng chiêm tinh học để xác định ngày tổ chức Human Be-In vào năm 1967.

    He used astrology to determine the date to hold the Human Be-In in 1967.

    WikiMatrix

    Malkiel đã so sánh phân tích kỹ thuật với “chiêm tinh học“.

    Malkiel has compared technical analysis to “astrology“.

    WikiMatrix

    Sự khám phá này giáng một đòn chí tử vào ngành chiêm tinh học.

    That discovery dealt astrology its deathblow as a science.

    jw2019

    Khi còn trẻ, ông đã trở thành quan tâm đến chiêm tinh học sau khi nhìn thấy nhật thực.

    As a youth, he became interested in astrology after seeing a solar eclipse.

    WikiMatrix

    Trong Chiêm tinh học phương Tây, đó là một chòm sao được quyết định bởi ngày sinh của bạn.

    In Western astrology, it’s a constellation determined by when your birthday falls in the calendar.

    ted2019

    Ptolemy không chịu trách nhiệm cho nguồn gốc những kỹ thuật chiêm tinh học ông giới thiệu trong Tetrabiblos.

    Ptolemy was not responsible for originating the astrological techniques he psented in the Tetrabiblos.

    WikiMatrix

    Lẽ thật đã giải thoát tôi khỏi triết học của loài người, thuyết thần bí, và chiêm tinh học.

    The truth had freed me from human philosophy, mysticism, and astrology.

    jw2019

    Tại Anh quốc cũng có rất đông nhà chiêm tinh và có nhiều trường dạy môn chiêm tinh học.

    They are also numerous in Great Britain, where they have their own schools.

    jw2019

    Ví dụ như chiêm tinh học: cũng như những người duy lý khác, tôi thuộc chòm sao song ngư.

    Astrology, for instance: like many rationalists, I’m a Pisces.

    ted2019

    Một nguyệt san về chiêm tinh học và huyền bí học (tờ Prediction), được lưu hành tới 32.000 cuốn mỗi số”.

    Prediction, the monthly magazine for astrology and the occult, has a circulation of 32,000.”

    jw2019

    Đặc biệt, niềm tin chiêm tinh học rất khoa học là 26% trong khi đó chỉ số này với tử vi là 7%.

    In particular, belief that astrology was very scientific was 26% while that of horoscopes was 7%.

    WikiMatrix

    Ông cũng là một sử gia có hiểu biết, một nhà văn tốt và là nhà chiêm tinh học đại tài.

    He was also an informed historian, a good writer and familiar with astrology.

    WikiMatrix

    Các nhà chiêm tinh học Babylon cũng là những người đặt nền tảng cho sự hình thành chiêm tinh học phương Tây.

    The Babylonian astrologers also laid the foundations of what would eventually become Western astrology.

    WikiMatrix

    Trong cuộc thăm dò, từ “astrology” (chiêm tinh học) đã được sử dụng, mặt khác từ “horoscope” (tử vi) cũng xuất hiện.

    In half of the polls, the word “astrology” was used, while in the other the word “horoscope” was used.

    WikiMatrix

    Georges Charpak và Henri Broch xử lý các kết luận từ chiêm tinh học Phương Tây trong cuốn sách mang tên Debunked!

    Georges Charpak and Henri Broch dealt with claims from western astrology in the book Debunked!

    WikiMatrix

    Thay vào đó, họ thường đề cập tới động vật, hoa, dấu hiệu chiêm tinh học và một vài tên cá nhân.

    Instead, they generally refer to animals, flowers, astrological signs, and a few personal names.

    WikiMatrix

    (Đa 7:4) Thành ấy nổi tiếng về sự phồn vinh, thương mại và sự phát triển của tôn giáo và chiêm tinh học.

    (Da 7:4) The city was well-known for its wealth, trade, and development of religion and astrology.

    jw2019

    Cộng đồng khoa học phủ nhận chiêm tinh học vì không có khả năng giải thích trong việc mô tả vũ trụ.

    Astrology has been rejected by the scientific community as having no explanatory power for describing the universe.

    WikiMatrix

    Năm 650 BC, người Babylon tiên đoán thời tiết dựa vào hình dạng của các đám mây cũng như dựa vào chiêm tinh học.

    In 650 BC, the Babylonians pdicted the weather from cloud patterns as well as astrology.

    WikiMatrix

    Tòa nhà cũng chứa thư viện cũ của họ với nhiều sách hữu ích về văn hóa dân gian và chiêm tinh học.

    The building also contains their old library which holds many useful books on folklore and astrology.

    WikiMatrix

    Những thí nghiệm nổi tiếng nhất do Shawn Carlson chỉ đạo cùng với hội đồng các nhà khoa họcchiêm tinh học.

    The most famous test was headed by Shawn Carlson and included a committee of scientists and a committee of astrologers.

    WikiMatrix

    Đồng thời với những nỗ lực này, Dee đắm mình trong thế giới của phép thuật, chiêm tinh học, và triết lý học.

    Simultaneously with these enormous efforts, Dee immersed himself in the worlds of sorcery, astrology and Hermetic philosophy.

    WikiMatrix

    Các nền tảng của chiêm tinh học dường như có xu hướng bất đồng với đa số nguyên tắc khoa học cơ bản.

    The underpinnings of astrology tend to disagree with numerous basic facts from scientific disciplines.

    WikiMatrix

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Tiếng Latin – Tại Sao Nên Học Tiếng Latin?
  • Chuyện Du Học Sinh Lào Học Tiếng Việt
  • Kinh Nghiệm Học Tiếng Trung Cho Người Mới Bắt Đầu Ở Trung Tâm Đào Tạo Hán Ngữ Lào Cai
  • Các Phương Pháp Để Học Tiếng Lào Hiệu Quả.
  • Tổng Hợp Tài Liệu Học Tiếng Lào Cơ Bản
  • Tự Học Chiêm Tinh Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Quyển Sách Chiêm Tinh Học Hay Dễ Ứng Dụng Vào Cuộc Sống
  • Nghiệp Là Gì? Nghiệp Quả Từ Góc Nhìn Chiêm Tinh Học
  • Chiêm Tinh Học Nội Môn
  • Nền Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Hội Nghị Khoa Học Tiếng Anh Là Gì ?
  • Vào đây để tự lập bản đồ sao cá nhân

    Để sử dụng một công cụ thì trước tiên ta phải tìm hiểu các thành phần thuộc công cụ đó, chúng gọi tên là gì, có chức năng gì và hoạt động như thế nào. Ở phần này, các bạn nên ghi nhớ các thành tố trong một bản đồ sao, giúp việc học tập diễn ra thuận lợi hơn.

    Bất kì lĩnh vực nào cũng đều có những thuật ngữ chuyên môn nhằm mô tả chính xác ý nghĩa mà mỗi yếu tố truyền tải. Việc tìm hiểu, ghi nhớ và sử dụng đúng thuật ngữ sẽ giúp bạn thuận lợi hơn trong quá trình học hỏi.

    Bài viết về 12 cung hoàng đạo này được trích dẫn từ cuốn sách Từ Điển Chiêm Tinh do nhà xuất bản Asbook phát hành, tác giả là Bil Tierney. Hiện nay, với vốn hiểu biết của mình, mình chưa tìm được tài liệu nào phân tích rõ ràng và giàu hình tượng bằng tác giả này. Vì thế nó rất phù hợp với các bạn mới nhập môn.

    Bài viết chi tiết về mỗi cung địa bàn được người chị là đồng môn của mình dịch từ bài viết của tác giả đáng kính Dane Rudhyar. Chị ấy cực kì siêng chia sẻ những hiểu biết của bản thân thông qua học vấn và tự tìm tòi kiến thức. Loạt bài dịch này của chị vô cùng chi tiết và kì công, mình rất thích nên muốn chia sẻ lại với mọi người.

    Trong chiêm tinh học, mục đích cuộc sống của bạn được mã hóa qua hai giao điểm của mặt trăng là North Node (La Hầu) và South Node (Kế Đô). Các giao điểm này đối đỉnh nhau trong bản đồ sao. Chúng không phải là các hành tinh, mà là các điểm toán học trên bản đồ rơi vào hai cung hoàng đạo đối đỉnh. Ví dụ, nếu La Hầu ở Ma Kết, Kế Đô sẽ ở cung đối đỉnh là Cự Giải, vân vân

    Nghĩa bóng: La Hầu đại diện cho nghiệp và những bài học cần phải học – hay ngôn ngữ chúng ta đang học nói. Kế Đô cho thấy những thách thức và món quà có được từ kiếp trước.

    Kế Đô: Cho thấy các kiếp trước, năng lực bẩm sinh

    Kế Đô tiết lộ món quà bạn mang đến kiếp này, điểm mạnh, vùng an toàn của bạn. Bạn bẩm sinh đã giỏi giang trong những lĩnh vực này, và có thể bắt đầu giai đoạn đầu đời dựa trên những gì đã học từ Kế Đô. Tuy điều này có thể khiến bạn thỏa mãn, nhưng chưa chắc nó đã nâng tầm bạn lên. Có một cảm giác “đã ở đó, đã làm thế” trong phạm vi những hoạt động của Kế Đô. Và chắc chắn bạn đã ở đó và làm thế ở nhiều kiếp trước. Chìa khóa nằm ở việc dùng Kế Đô làm bàn đạp hướng đến vận mệnh ở La Hầu, cũng như một người phải sống ở nước ngoài sẽ luôn cảm thấy thoải mái khi nói tiếng mẹ đẻ tuy đã sống ở đất nước mới nhiều năm. Kế Đô là “quê nhà” của bạn trên lá số, có lẽ không phải là nơi bạn muốn trú ngụ vĩnh viễn, mà là một nơi ấm cúng khi bạn cần cảm thấy có chốn dành cho mình hoặc mình thuộc về một nơi nào đó.

    La Hầu: Vận mệnh đang gọi bạn

    La Hầu nằm ở cung hoàng đạo đối đỉnh với Kế Đô. Nó chiếu sáng vùng đất đang kêu gọi bạn, nhưng để trèo lên được đỉnh này cũng giống như leo núi Everest. Bạn sẽ phải mang hành lý ít thôi, và tuyển một người Sherpa bản địa đưa bạn lên. Đó là con đường quanh co bạn phải học. Các hoạt động ở La Hầu yêu cầu phải mở rộng vùng an toàn của bạn. Một khi đã làm vậy, bạn sẽ kinh ngạc trước việc mình cảm thấy đủ đầy đến thế nào. Nó giống như khởi đầu cho nhiệm vụ cuộc đời của bạn. Càng sắp xếp bản thân sớm cho con đường này bao nhiêu, cuộc đời bạn càng rõ ràng mục đích bấy nhiêu. Tuy nhiên, bạn sẽ thường quay lại với Kế Đô như một con át chủ bài – giống như quay về nhà để biết được cội nguồn, cho dù bạn đã đi khắp thế giới.

    La Hầu ở Bạch Dương hoặc Thiên Bình

    La Hầu ở Kim Ngưu hoặc Bò Cạp

    La Hầu ở Song Tử hoặc Nhân Mã

    La Hầu ở Cự Giải hoặc Ma Kết

    La Hầu ở Sư Tử hoặc Bảo Bình

    La Hầu ở Xử Nữ hoặc Song Ngư

    10. Tìm hiểu về khái niệm chủ tinh

    (Đang cập nhật)

    Đang cập nhật bài viết chi tiết cho từng góc chiếu.

    Cung mọc là điểm quan trọng trong việc luận giải cơ bản, khái quát và toàn diện nhất bản đồ sao cá nhân của một người. Vì nó cho thấy được năng lượng các chòm sao phân bổ khắp vòng tròn bản đồ.

    Ví dụ: Khi bạn nói cung mọc của bạn là Song Tử, người ta sẽ biết ngay cung 2 của bạn là Cự Giải, cung 4 của bạn là Xử Nữ, hay cung 11 của bạn là Bạch Dương. Từ đó, chúng ta có thể đoán biết khái quát nhất về cách bạn đối mặt với mỗi khía cạnh trong cuộc sống như thế nào.

    Trục này là nơi chúng ta thường xuôi theo bản năng, vì thế ngoài cung mọc, thì hai điểm này có thể cho thấy xu hướng hành vi vô thức của một người. Nếu một người chưa có kế hoạch phát triển bản thân, khắc phục điểm yếu, thì việc luận giải theo trục này khá chính xác và gợi mở nhiều tiềm năng phát triển.

    Ví dụ: Khi bạn nói bạn có la hầu Bò Cạp, một chiêm tinh gia sẽ biết ngay kế đô của bạn là Kim Ngưu, họ sẽ hiểu là xu hướng hành vi của bạn trong cuộc sống có vẻ chuộng tiện nghi và an toàn, dù lý tưởng của bạn là nhìn nhận và đối mặt với những khó khăn, sai sót để cuộc sống tốt hơn, nhưng vì bản năng sống êm đềm khiến bạn khó lòng thực hiện lý tưởng đấy. Có khi, cả cuộc đời bạn thường cảm thấy khổ sở vì nhìn thấy nhiều tồn đọng sai trái trong cuộc sống cá nhân mà chưa bao giờ cố sức chịu khổ để giải quyết triệt để.

    Vị trí của một hành tinh trong một cung hoàng đạo hay một chòm sao sẽ cho bạn biết cách thức mà nó hoạt động. Bước đầu bạn cứ luận giải riêng rẽ từng vị trí, ví dụ như Sao Thủy cung 12 sẽ hoạt động thế nào, Sao Thủy Song Tử sẽ hoạt động thế nào. Sau đó gộp chung lại để luận rằng Sao Thủy Song Tử cung 12 sẽ có hành vi ra sao.

    Tiếp đó, bước nâng cao hơn, bạn sẽ xem xét tương quan vị trí của từng cặp đôi hành tinh với nhau. Ví dụ Sao Thủy của bạn vuông góc với Sao Hỏa sẽ cho thấy xu hướng làm mà không nghĩ hoặc nghĩ mà không làm. Sau cùng, bạn cần xem xét tương quan toàn diện của tất cả hành tinh với nhau để rút ra kết luận cuối cùng, bởi vì một hành tinh khi đứng riêng rẽ sẽ có năng lượng trọn vẹn, nhưng khi chịu ảnh hưởng của các năng lượng xung khắc khác thì sẽ có xu hướng gia giảm/tăng cao hơn.

    Có một điều bạn cần nhớ rằng, mỗi vị trí trong lá số đại diện cho một khía cạnh và lĩnh vực riêng. Nếu bạn muốn luận giải cơ bản, toàn diện lá số một cách khái quát, thì hãy xét cung mọc. Nếu bạn muốn giải quyết những sai sót lớn nhất của bản thân, hãy xét trục La Hầu – Kế Đô. Nếu bạn muốn quan sát bộ não của bạn hoạt động thế nào, hãy nhìn nhận Sao Thủy. Nếu bạn muốn hiểu rõ cách vận động và năng lượng hành động của bản thân, hãy nhìn sang Sao Hỏa… Việc ghi nhớ bản chất, chức năng và đặc trưng của mỗi vị trí sẽ giúp bạn có cái nhìn rõ ràng, rành mạch trong việc luận giải.

    Ngoài những tựa sách được giới thiệu ở link bên trên, các bạn có thể tham khảo các fanpage FB tiếng Việt rất siêng cập nhật kiến thức tự nghiệm là Chiêm Tinh? và và website siêu chất lượng của sư phụ mình là cô Hương Kiều – website của cô là nguồn cảm hứng vô cùng tận cho mọi hoạt động về lĩnh vực này của mình, và mình cảm thấy rất may mắn khi được sinh ra cùng một dân tộc, cùng một ngôn ngữ với cô để được cảm thụ trọn vẹn những gì cô chia sẻ. Tuy nhiên, bài viết của cô thâm sâu và chứa đầy ẩn dụ, vì thế cần ở bạn hiểu biết phong phú về từ ngữ, điển tích điển cố và những sự kiện trong cuộc sống.

    (Người xem 76.813 lượt, 31.825 lượt / ngày)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Học Tiếng Latinh
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Anh Dựa Vào Gốc Tiếng Latin.
  • Học Tiếng Trung Cơ Bản Với Bảng Chữ Cái Tiếng Trung
  • Học Bảng Chữ Cái Tiếng Trung Dễ Như Ăn Kẹo
  • Nguồn Gốc Của Tiếng Latin
  • Chiêm Tinh Lá Số Miễn Phí

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Học Nhỏ Về Chiêm Tinh: Phần 1
  • Khoa Học Máy Tính Là Gì?
  • Ngành Khoa Học Máy Tính: Học Gì Và Làm Gì?
  • Khoa Học Máy Tính Là Gì? Chưa Bao Giờ Hạn Chế Cơ Hội Việc Làm!
  • Điểm Khác Nhau Giữa Khoa Học Máy Tính Và Kỹ Thuật Máy Tính
  • Đối với chiêm tinh, con người không chỉ ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và môi trường, mà còn bởi những trạng thái năng lượng của hệ thống mặt trời tại thời điểm và vị trí mà họ sinh ra. Các hành tinh được xem là năng lượng cơ bản của cuộc sống, các hành tinh này tạo rất nhiều hình thức khác nhau, liên kết, xung, hợp lẫn nhau hay dựa vào các vị trí của chúng trên các cung hoàng đạo.

    Bằng cách tìm hiểu về vai trò của các hành tinh này, cũng như những đặc thù của chúng (các nhân tố, các cung nhà, cung hoàng đạo), chiêm tinh giúp chúng ta có một bức tranh hoàn chỉnh và toàn diện cũng như những tiềm năng của con người. Khi sử dụng dịch vụ chiêm tinh lá số này, các bạn sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc đọc các bản báo cáo được tự động tạo ra dựa vào ngày giờ tháng năm sinh do chính bạn cung cấp. Bạn không cần phải biết bất cứ các thuật ngữ khoa học nào để tìm hiểu về lá số của mình.

    Ở đây, để sử dụng dịch vụ của trang web, bạn cần nắm rõ ngày tháng năm nhất là giờ sinh của mình, cũng như nơi sinh. Với các thông tin này, chúng tôi sẽ tạo biểu đồ chiêm tinh hay bản đồ sao (natal chart hay birth chart). Biểu đồ này sẽ chứa vị trí của các hành tinh như Mặt Trời, Mặt Trăng, Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh, Diêm Vương Tinh, cùng các cung Mọc và Thiên Đỉnh. Những vị trí này được tính toán dựa trên vị trí và thời điểm nhất định, ở đây đó là lúc bạn được sinh ra. Ý nghĩa của từng hành tinh hay các cung nhà và các yếu tố khác sẽ được chúng tôi giải thích chi tiết trong lá số của bạn.

    (Bổ sung 2022)

    • Bổ sung phần các góc chiếu của các hành tinh Mặt trăng, Kim Tinh, Thủy Tinh, Thổ Tinh
    • Bổ sung phần các hành tinh nghịch hành như Thổ Tinh nghịch hành, Diêm vương tinh nghịch hành
    • Bổ sung phần các mẫu góc hợp như Grand Trine, T Square, Stellium, Yod, Mystic Rectangle, Grand Square, Kite

    (Bổ Sung 2022)

    • Bổ sung các tiểu hành tinh: Juno, Ceres, Pallas, Vesta (trong phần Hành Tinh & Nhà)
    • Bổ sung lời giải thích cho Part of Fortune
    • Bổ sung phần Đỉnh nhà và các chủ quản
    • Bổ sung các pha của Mặt Trăng: Trăng non, trăng tròn, trăng lưỡi liềm, trăng bán nguyệt, trăng khuyết, trăng tàn (trong phần Hành Tinh Chính – Mặt Trăng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Và Tầm Quan Trọng Của Chiêm Tinh Học
  • Danh Sách Trường Đại Học Cao Đẳng Đào Tạo Ngoại Ngữ Tốt Nhất Việt Nam
  • Top 5 Trường Đại Học Đào Tạo Tiếng Anh Chuẩn Nhất Hà Nội
  • Top 10 Trường Đại Học Đào Tạo Ngoại Ngữ Ở Việt Nam Tốt Nhất Hiện Nay
  • Bài Viết Top 10 Trường Đại Học Đào Tạo Ngoại Ngữ Tốt Nhất Việt Nam
  • Khóa Học Nhỏ Về Chiêm Tinh: Phần 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Máy Tính Là Gì?
  • Ngành Khoa Học Máy Tính: Học Gì Và Làm Gì?
  • Khoa Học Máy Tính Là Gì? Chưa Bao Giờ Hạn Chế Cơ Hội Việc Làm!
  • Điểm Khác Nhau Giữa Khoa Học Máy Tính Và Kỹ Thuật Máy Tính
  • Chuyên Viên Tiếng Anh Là Gì? Cách Dùng Từ “chuyên Viên” Trong Tiếng Anh Thế Nào Cho Đúng?
  • LỜI NÓI ĐẦU

    Để bắt đầu nghiên cứu về chiêm tinh tài chính (financial astrology), cần thiết phải tìm hiểu một số khái niệm cơ bản của chiêm tinh học (astrology). Chiêm tinh tài chính vận dụng các ký hiệu chiêm tinh và các nguyên tắc trong chiêm tinh học để giao dịch trên thị trường tài chính. Đừng lo lắng nếu bạn chưa từng biết đến chiêm tinh học. Ai cũng có điểm khởi đầu và tôi sẽ giúp bạn điều đó. Khóa học nhỏ này sẽ bao gồm nhiều số khác nhau.

    Hiện nay, chiêm tinh học còn rất lạ lẫm tại Việt Nam. Điều này là do sự khác biệt về văn hóa. Kịch Dịch ở phương Đông và Chiêm Tinh ở Phương Tây. Hơn nữa, lịch sử phát triển của Chiêm Tinh (và kể cả kinh dịch) đều mang phải tiếng xấu vì ngành khoa học này bị các thế lực cầm quyền sử dụng cho các mục đích chính trị. Tâm lý kỳ thị, thiếu tinh tưởng (cho là mê tín, dị đoan) vào ngành khoa học này sẽ là một cản trở lớn để du nhập ngành chiêm tinh và chiêm tinh tài chính vào Việt Nam. Tôi hy vọng trong tương lai, công chúng sẽ có cách nhìn rộng mở hơn với ngành khoa học này.

    LỊCH THIÊN VĂN

    Lịch thiên văn đơn giản là một lịch hành tinh xác định vị trí của các hành tinh lớn tại các cung cho từng ngày trong mỗi năm. Vị trí các hành tinh được tính theo độ, phút và giây khi quan sát từ Trái Đất hoặc Mặt trời. Nó có thể được so sánh với biểu đồ các vì sao. Có hai góc quan sát thiên văn: địa tâm (geocentric) tức lấy trái đất làm trung tâm quan sát và Nhật Tâm (Helio) khi lấy Mặt trời làm trung tâm quan sát. Trong khóa học này, tôi sẽ giới thiệu lịch thiên văn địa tâm.

    Độc giả không cần phải lo lắng làm như thế nào để sở hữu các lịch thiên văn. Hiện nay có rất nhiều phần mềm về lịch thiên văn giúp chúng ta dễ dàng truy cập. Trong các bài học sau, tôi sẽ hướng dẫn cho các bạn sử dụng một số phần mềm để quan sát hiện tượng chiêm tinh.

    CÁC HÀNH TINH

    Một hành tinh được phân loại như một thiên thể xoay vòng quanh mặt trời. Có 9 hành tinh chính trong thái dương hệ. Đó là Thủy Tinh (Mercury); Kim Tinh (Venus); Trái Đất (Earth); Sao hỏa (Mars), Mộc Tinh (Jupiter); Thổ Tinh (Saturn), Thiên Vương Tinh (Uranus); Hải Vương Tinh (Neptune) và Diêm Vương Tinh (Pluto). Phần lớn tên của các hành tinh được đặt theo tên của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Mặt trăng và mặt trời không được phân loại như các hành tinh mà các thể sáng (luninary). Tuy nhiên, trong chiêm tinh, cả hai đều được xem như là các hành tinh. Vào năm 2006, Pluto không được xếp vào hành tinh theo tiêu chuẩn phân loại mới nhưng trong chiêm tinh, chúng tôi vẫn xem đây là một hành tinh.

    Thủy Tinh (Mercury); Kim Tinh (Venus); Trái Đất (Earth); Sao hỏa (Mars ) được gọi là các hành tinh bên trong. Mộc Tinh (Jupiter); Thổ Tinh (Saturn), Thiên Vương Tinh (Uranus); Hải Vương Tinh (Neptune) và Diêm Vương Tinh (Pluto) được goi là các hành tinh bên ngoài.Vì quỹ đạo của Thủy Tinh và Kim Tinh nằm trong quỹ đạo trái đất nên được gọi là “các hành tinh cấp dưới-inferior planets”. Các hành tinh bên ngoài bao gồm cả Hỏa Tinh được gọi là “các hành tinh cấp cao- superior planets”. Tất cả các hành tinh chuyển động theo chiều ngược kim đồng hồ quanh mặt trời. Một số hành tinh có quỹ đạo nhiều vòng hơn so với các hành tinh khác.

    Đêm và ngày được hình thành vì cứ 24 giờ trái đất lại hoàn tất vòng quay 360 độ của nó (gọi là hoàn tất một vòng quay). Độ nghiêng của mỗi hành tinh là khác nhau. Có những hành tinh nghiêng 3 độ, trong đó Diêm Vương Tinh là có độ nghiêng lớn nhất 17 độ và Thủy Tinh là 7 độ. Mặt trăng là một vệ tinh của Trái Đất. Đây là thực thể quan trọng đối với con người và chúng ta sẽ bàn sâu về nó. Con đường được tạo ra bởi các hành tinh được gọi là “đường hoàng đạo-ecliptic.

    Tất cả các hành tinh đều chuyển động theo các vận tốc khác nhau, các hành tinh gần mặt trời sẽ chuyển động nhanh hơn so với các hành tinh xa mặt trời. Vì có nhiều sự thay đổi trong tốc độ dịch chuyển, các hành tinh sẽ có vị trí tại các vị trí khác tại các thời gian khác nhau.Các hành tinh bên ngoài như Thủy Tinh và Kim tinh sẽ là đi nhiều vòng hơn và có những thời điểm bắt kịp các hành chuyển động chậm. Các hành tinh chuyển động chậm hơn có thể phải mất nhiều năm để hoàn tất một quỹ đạo. Trong chiêm tinh học, chúng ta sẽ quan tâm đến vị trí của hành tinh so với các hành tinh khác và so với trái đất.

    VÒNG XOAY CỦA CÁC HÀNH TINH QUANH MẶT TRỜI

    THEO THỜI GIAN THIÊN VĂN (Sidereal)

    Ngày thiên văn (sidereal day) là 23 giờ, 56 phút với so với ngày thái dương (solar day) là 24 giờ. Một vòng hoàn tất của trái đất (quanh trục của nó) so với một hành tinh cố định mất 23 giờ 56 phút. Tuy nhiên, một vòng hoàn tất được tính từ một ngôi sao cố định từ mặt trời là từ trưa này đến trưa khác trong một ngày mất 24 giờ và được gọi là giờ thái dương (solar time). Có sự khác nhau giữa hai ngày này là vì có sự thực rằng khi quan sát từ trái đất (địa tâm), mặt trời cũng di chuyển quanh chúng ta 1 độ mỗi ngày, và do đó chúng ta phải mất thêm 4 phút để bắt kịp mỗi ngày.

    QUẢ CẦU THIÊN VĂN (THE CELESTIAL SPHERE)

    Khi chúng ta đứng ở trái đất và quan sát bầu trời đêm, tất cả các ngôi sao và các thiên thể khác có vẻ như đang được gắn vào một mặt phẳng bên trong của một cái đĩa hình cầu rộng lớn. Đứng ở trên trái đất, có vẻ như chúng ta đang ở trung tâm của bề mặt phẳng mở rộng đến chân trời với các ngôi sao ở phía trên. Dưới chân chúng ta và ngoài tầm nhìn là một nửa khác của đĩa hình cầu. Quả cầu to lớn này được gọi là “quả cầu thiên văn- the celestical sphere”.

    Nhìn tại trái đất nơi chúng ta đứng và nhìn vào phía bầu trời đêm, các ngôi sao dịch chuyển từ từ theo hướng từ đông sang tây trong khi vẫn duy trì vị trí tương đối so với các ngôi sao khác, được biết đến là “các chòm sao- constellations”.

    Toàn bộ quả cầu thiên văn này, khi chúng ta quan sát các chòm sao sẽ thấy chúng giống như đang xoay chầm chậm. Tất nhiên, không có quả cầu thiên văn nào trong thực tế khi chúng ta đang nhìn những hành tinh và các ngôi sao khác đang ở rất xa trái đất. Cái chúng ta thực sự nhìn thấy là một ảo ảnh thị giác khi nhìn khi chúng ta ngồi xuống trong một nhà mô hình vũ trụ và quan sát các ngôi sao được chiếu lên mặt phẳng bên trong của quả cầu.

    Mặc dù khái niệm quả cầu thiên văn là tưởng tượng nhưng chúng ta đã thấy được nó rất hữu ích khi dùng để mô tả vị trí tất cả các thiên thể. Trái đất đang xoay theo hướng từ tây sang đông (ngược kim đồng hồ) quanh trục của nó khiến nó có vẻ như bầu trời đầy sao đang mọc ở đằng đông và lặn ở đằng tây.

    Tại các điểm kết thúc của trục trái đất là các cực bắc và cực nam. Khi được chiếu vào quả cầu thiên văn chúng sẽ giao với quả cầu mà chúng ta gọi là cực bắc thiên văn và cực nam thiên văn (north and south celestial poles). Đường xích đạo chia trái đất thành hai nữa, bán cầu bắc và bán cầu nam. Khi đường xích đạo của trái đất được chiếu vào trong quả cầu thiên văn, được gọi là “đường xích đạo thiên văn- celestial equator”.

    Sự phức tạp tăng dần vì trục của trái đất bị nghiêng một góc 23 ½ đọ so với mặt phẳng quỹ đạo trái đất quanh mặt trời (gọi là đường hoàng đạo-ecliptic). Con đường này mất một năm (365 ¼ ngày) đối với trái đất để hoàn tất một vòng hoàn thiện quanh mặt trời. Giống như khi trái đất xoay quanh mặt trời có vẻ như đang dịch chuyển theo hướng từ tây sang đông ngược hướng với vị trí của một ngôi sao cố định. Chuyển động này, khi nhìn từ trái đất là gần 1 độ mỗi ngày. Con đường của mặt trời khi nó dịch chuyển quanh trái đất (dưới góc nhìn địa tâm) có thể được vẽ trên quả cầu thiên văn và được gọi là “đường hoàng đạo- the ecliptic”. Con đường này bị nghiêng so với đường xích đạo bầu trời 23 ½ độ và do đó nó giao với mặt phẳng của đường xích đạo bầu trời tại hai điểm trong hành trình của mình. Các điểm này được gọi là “điểm phân- equinoxes”. Vì trọng lực kéo mặt trăng và mặt trời, các điểm phân di chuyển chậm quanh đường hoàng đạo trong chiều hướng phía tây (ngược kim đồng hồ). Sự chuyển động này được gọi là “sự thay đổi của điểm phân- the procession of the equinoxes”.

    Vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3 của mỗi năm, mặt trời đang ở nơi mà chúng ta có thể gọi là điểm xuân phân (Vernal equinox). Đây là điểm mà ở đó mặt trời vượt qua đường xích đạo từ phía nam lên phía bắc.

    Vào ngày 21 tháng 6, mặt trời ở giữa con đường trên đường hoàng đạo giữa hai điểm xuân phân và nó có độ nghiêng tối đa là 23 ½ độ bắc so với đường xích đạo thiên văn. Do đó, nó là điểm cao nhất trên bầu trời tính theo kinh độ (bán cầu bắc).

    Từ ngày 21 tháng 6, mặt trời di chuyển chậm theo đường hoàng đạo của nó nhưng độ nghiêng của mặt trời bắt đầu giảm dần khi nó di chuyển. Khoảng vào ngày 22 tháng 9 (điểm thu phân – Autumnal equinox) mặt trời di chuyển trên con đường hoàng đạo và đạt đến đường xích đạo thiên văn (0 độ) và đã vượt qua giao điểm này để đi xuống phía nam.

    Vào ngày 22 tháng 12, mặt trời đạt đến độ nghiêng lớn nhất ở phía nam so với đường xích đạo thiên văn (23-1/2 độ S) và nó ở giữa hai điểm phân.

    Từ ngày 21 tháng 12, độ nghiêng của mặt trời giảm dần và cho đến khi nó ở ngày 21 tháng 3, khi nó sẽ vượt đường xích đạo và đi về phía Bắc và chu kỳ một năm lại bắt đầu lần nữa.

    Chúng ta còn làm quen với hai khái niệm khác là Right Ascension và Declination (độ nghiêng). Right Ascension đo lường khoảng cách từ điểm xuân phân đến vị trí tương ứng của ngôi sao trên đường xích đạo thiên văn (celestial equator). Right Ascension đi kèm với Declination. Declination cho biết vị trí của một ngôi sao nằm ở phía Bắc hoặc phía Nam so với đường xích đạo thiên văn (celestial equator). Chú ý, không nên nhầm lẫn với Latitude (vĩ độ) cho biết vị trí của một ngôi sao nằm ở phía Bắc hay phía Nam so với đường hoàng đạo (Ecliptic).

    Để giúp bạn độc hiểu vị trí các hành tinh ở đâu, thay vì viết tên của chúng ta, chúng tôi sử dụng các ký hiệu. Những ký hiệu này nhất thiết phải đọc và phải nhớ nếu như bạn muốn sử dụng lịch thiên văn.

    Ký hiệu các hành tinh

    HOÀNG ĐẠO (THE ZODIAC)

    Định nghĩa này được mô tả trong từ điển của Doubleday như sau: “Một dây thắt lưng tưởng tượng vây quanh bầu trời và kéo dài khoảng 8 độ mỗi phía của đường hoàng đạo, chứa trong đó là quỹ đạo của mặt trăng, mặt trời và các hành tinh lớn khác. Hoàng đạo cũng chia thành 12 phần được gọi là các cung hoàng đạo, tương ứng với 12 chòm sao”

    BẢN ĐỒ HOÀNG ĐẠO (THE ZODIAC MAP)

    Giống như tổ tiên chúng ta cần một số biển chỉ dẫn trên bầu trời để xác định vị trí của các hành tinh, tổ tiên chúng ta đã nhìn các hành tinh và tìm thấy các hành tinh cố định là những hành tinh không di chuyển.Những ngôi sao cố định hoặc các chòm sao này xuất hiện dưới hình dạng các con vật và được đặt tên là con cừu đực, con cá, con sư tử…

    Chúng ta mô tả 12 cung. Ngày hôm nay, chúng tôi nghĩ về dãi băng này như “hoàng đạo”, được chia thành 12 phần và mỗi phần là 30 độ. Với 12 phần này, các nhà thiên văn học đã đánh dấu vị trí các hành tinh trên một hoặc nhiều cung. Mỗi phần 30 độ được gọi là “một cung”. Mỗi cung có một tên riêng và các ảnh hưởng cụ thể.

    Trái đất quay quanh mặt trời một lần một năm và đi hết 12 cung hoàng đạo và cuối cùng trở lại vị trí 0 ban đầu. Cung bạch dương (Aries) là được các nhà thiên văn đánh dấu là điểm bắt đầu. Cung bạch dương là ngày 21 tháng 3 và bắt đầu ở phần phía bên trái. Vui lòng quan sát biểu đồ Standard Astrological Symbols. Đối với người mới bắt đầu chúng tôi đề nghị vẽ vòng tròn 12 phần. Thực hành ghi chú các cung như trong hình dưới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiêm Tinh Lá Số Miễn Phí
  • Lịch Sử Và Tầm Quan Trọng Của Chiêm Tinh Học
  • Danh Sách Trường Đại Học Cao Đẳng Đào Tạo Ngoại Ngữ Tốt Nhất Việt Nam
  • Top 5 Trường Đại Học Đào Tạo Tiếng Anh Chuẩn Nhất Hà Nội
  • Top 10 Trường Đại Học Đào Tạo Ngoại Ngữ Ở Việt Nam Tốt Nhất Hiện Nay
  • Tinh Bột Sắn Tiếng Anh Là Gì? Tinh Bột Sắn Dùng Để Làm Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bột Sắn Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Củ Sắn Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Thầy Giáo Nguyễn Thái Dương Từ Bỏ Tấm Bằng Thủ Khoa Và Ngã Rẽ Mới
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học”
  • Hội Thảo Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1, Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Củ sắn thì quá quen thuộc với bạn rồi đúng không một loại củ ăn vừa ngon lại còn có chất dinh dưỡng. Thế nhưng bạn đã biết đến tinh bột sắn chưa đấy là là tinh bột được chiết xuất từ ​​củ sắn. 

    Tinh bột sắn tiếng Anh là gì?

    Tinh bột sắn tiếng anh là Tapioca

    a starchy substance in the form of hard white grains, obtained from cassava and used in cooking for puddings and other dishes. 

    (một chất tinh bột ở dạng hạt trắng cứng, thu được từ sắn và được sử dụng để nấu ăn cho bánh pudding và các món ăn khác.)

    Tinh bột sắn dùng để làm gì?

    • Bánh mì không chứa gluten và ngũ cốc: Bột sắn dây có thể được sử dụng trong các công thức làm bánh mì , mặc dù nó thường được kết hợp với các loại bột khác. 

    • Bánh mì phẳng: Nó thường được sử dụng để làm bánh mì dẹt ở các nước đang phát triển. Với các lớp trên bề mặt khác nhau, nó có thể được sử dụng như bữa sáng, bữa tối hoặc món tráng miệng.

    • Bánh pudding và món tráng miệng: Ngọc trai của nó được dùng để làm bánh pudding, món tráng miệng, đồ ăn nhẹ hoặc trà bong bóng.

    • Chất làm đặc: Nó có thể được sử dụng làm chất làm đặc cho súp, nước sốt và nước thịt. Nó rẻ, có hương vị trung tính và khả năng làm đặc tuyệt vời.

    • Chất kết dính: Nó được thêm vào bánh mì kẹp thịt, cốm và bột nhào để cải thiện kết cấu và độ ẩm, giữ độ ẩm ở dạng gel và ngăn ngừa sự sũng nước.

    Xem nhanh: Bánh Gạo Tiếng Anh Là Gì? Các Loại Bánh Gạo Phổ Biến Hiện Nay

    Lợi ích sức khỏe của tinh bột sắn

    Nó phù hợp với chế độ ăn kiêng hạn chế

    Nhiều người bị dị ứng hoặc không dung nạp với lúa mì , ngũ cốc và gluten Để kiểm soát các triệu chứng, họ cần tuân theo một chế độ ăn kiêng hạn chế.

    Vì bột sắn tự nhiên không chứa ngũ cốc và gluten, nên nó có thể là sự thay thế thích hợp cho các sản phẩm làm từ lúa mì hoặc ngô.

    Ví dụ, nó có thể được sử dụng làm bột trong nướng và nấu ăn hoặc làm chất làm đặc trong súp hoặc nước sốt. 

    Tuy nhiên, bạn có thể muốn kết hợp nó với các loại bột khác, chẳng hạn như bột hạnh nhân hoặc bột dừa , để tăng lượng chất dinh dưỡng.

    Nó có thể chứa tinh bột kháng

    Khoai mì là một nguồn tinh bột kháng tự nhiên .

    Như tên của nó, tinh bột kháng có khả năng chống tiêu hóa và hoạt động giống như chất xơ trong hệ tiêu hóa.

    Nó nuôi các vi khuẩn thân thiện trong đường ruột, do đó làm giảm viêm và số lượng vi khuẩn có hại 

    Nó cũng có thể làm giảm lượng đường trong máu sau bữa ăn, cải thiện chuyển hóa glucose và insulin và tăng cảm giác no 

    Đây là tất cả các yếu tố góp phần vào sức khỏe trao đổi chất tốt hơn.

    Tuy nhiên, do hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, có lẽ tốt hơn là bạn nên lấy tinh bột kháng từ các loại thực phẩm khác. Điều này bao gồm khoai tây nấu chín và để nguội hoặc cơm, các loại đậu và chuối xanh. 

    Một số từ vựng về thực vật dành cho bạn

    VOCABULARY

    MEANING

    agriculture

    angiosperm

    apical meristem

    axillary bud

    biennial

    bromeliad

    bulb

    calyx

    embryo

    germinate

    hastate

    ivy

    juniper

    kelp

    kudzu

    leaf

    meristem

    needle

    palmate

    perennial

    petiole

    photosynthesis

    pith

    pollen

    pulse

    reticulate

    succulents

    tubervenation

    nông nghiệp

    cây hạt kín

    mô phân sinh đỉnh

    chồi nách

    hai năm

    bromeliad

    bóng đèn tròn

    đài hoa

    phôi thai

    nảy mầm

    vội vàng

    cây thường xuân

    cây bách xù

    tảo bẹ

    sắn dây

    Lá cây

    mô phân sinh

    cây kim

    bạn thân

    lâu năm

    cuống lá

    quang hợp

    cốt lõi

    phấn hoa

    mạch đập

    xếp lại

    xương rồng

    củ

    sự che chở

     

    Nguồn: https://phunulaphaidep.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Soi Dạ Dày Là Gì? Các Phương Pháp Nội Soi Dạ Dày Hiện Nay
  • 7 Ngày Để Có Vốn Từ Tiếng Anh Y Khoa Căn Bản: Hệ Tiêu Hóa The Basics Of Medical Terminology (Gastrointestinal
  • Nội Soi Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Giáo Trình Tiếng Trung Nào Học Hiệu Quả Nhất?
  • Dạy Tiếng Trung Giao Tiếp Tại Học Tiếng Trung Heng
  • Tinh Dầu Trong Tiếng Anh Là Gì? Tên Các Loại Tinh Dầu Bằng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Các Dụng Cụ Thí Nghiệm Bằng Tiếng Anh
  • Lý Thuyết Hóa 10: Bài 36. Tốc Độ Phản Ứng Hóa Học
  • Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 11 Bài 4
  • Giải Bài Tập Hóa 10 Bài 36: Tốc Độ Phản Ứng Hóa Học
  • Bản Tường Trình Bài 14: Bài Thực Hành 3 Dấu Hiệu Của Hiện Tượng Và Phản Ứng Hóa Học
  • A. Tinh dầu là gì? Tên tiếng anh của tinh dầu là gì?

    1. Tinh dầu là gì?

    Tinh dầu có tên tiếng anh Essential Oil, ở dạng chất lỏng tập hợp các chất dễ bay hơi và có mùi hương. Tinh dầu thường được chiết xuất từ những bộ phận như: Hoa, lá, cành, rễ, thân… của các loại cây cỏ, thảo mộc. Bằng công nghệ chưng cất hơi nước, ép lạnh hoặc C02.

    2. Tên tiếng anh của tinh dầu là gì?

    Ngoài Essential Oil tinh dầu còn một số tên tiếng anh thông dụng như:

    • Essential Oil (Từ được sử dụng phổ biến nhất)
    • Volatile Oils
    • Ethereal Oils
    • Aetherolea
    • Oil of the plant

    Tinh dầu nguyên chất là tên gọi chung của hầu hết các loại tinh dầu được chiết xuất từ thiên nhiên. Tinh dầu nguyên chất có tên tiếng anh là Essential Oil.

    Vậy để tạo ra tên tiếng anh của các loại tinh dầu họ thường sử dụng theo công thức:

    ” Tên tiếng anh của loài thực vật đó + Essential Oil”

    Tinh Dầu Sả Chanh

    Lemongrass Essential Oil

    Tinh Dầu Sả Java

    Citronella Essential Oil

    Tinh Dầu Cam Ngọt

    Sweet Orange Essential Oil

    Tinh Dầu Chanh Sần

    Lemon Lime Essential Oil

    Tinh Dầu Chanh Tươi

    Lemon Essential Oil

    Tinh Dầu Tắc

    Citrus Microcarpa Kumquat Essential Oil

    Tinh Dầu Thông

    Pine Essential Oil

    Tinh Dầu Tràm Gió

    Cajeput Essential Oil

    Tinh Dầu Tràm Trà

    Tea Tree Essential Oil

    Tinh Dầu Oải Hương

    Lavender Essential Oil

    Tinh Dầu Phong Lữ

    Geranium Essential Oil

    Tinh dầu Bạc Hà

    Peppermint Essential Oil

    Tinh dầu Bạc Hà Lục

    Spearmint Essential Oil

    Tinh Dầu Vỏ Bưởi Cao Cấp

    Grapefruite Essential Oil

    Tinh dầu Vỏ Bưởi

    Pomelo Essential Oil

    Tinh Dầu Ngọc Lan Tây

    Ylang-Ylang Essential Oil

    Tinh Dầu Vỏ Quế

    Cinamon Essential Oil

    Tinh Dầu Vỏ Quýt -Trần Bì

    Manradin Essential Oil

    Tinh Dầu Hoa Cam

    Neroli Essential Oil

    Tinh Dầu Hoa Hồng

    Rose Essential Oil

    Tinh Dầu Hoa Lài

    Jasmine Essential Oil

    Tinh Dầu Hoắc Hương

    Patchouli Essential Oil

    Tinh Dầu Hương Thảo

    Rosemary Essential Oil

    Tinh Dầu Khuynh diệp

    Eucalyptus Globulus Essential Oil

    Tinh Dầu Bạch Đàn Chanh

    Eucalyptus Citriodora Essential Oil

    Tinh Dầu Đỗ Tùng

    Juniper Berry Essential Oil

    Tinh Dầu Cam Hương

    Bergamot Essential Oil

    Tinh Dầu Cỏ Gừng

    Ginger Grass Essential Oil

    Tinh Dầu Cúc La Mã (Trắng) (*)

    Chamomile Essential Oil

    Tinh Dầu Đàn Hương

    Sandalwood Essential Oil

    Tinh Dầu Đinh Hương

    Clove Essential Oil

    Tinh Dầu Đơn Sâm (Xô Thơm)

    Clary Sage Essential Oil

    Tinh Dầu Gỗ Hồng

    Rosewood Essential Oil

    Tinh Dầu Gừng

    Ginger Essential Oil

    Tinh Dầu Hoàng Đàn

    Cedarwood Essential Oil

    Tinh Dầu Hương Trầm

    Frankincense Essential Oil

    Tinh Dầu Kinh Giới

    Oregano Essential Oil

    Tinh Dầu Long Não

    Comphor essential Oil

    Tinh Dầu Màng Tang

    Membrane Essential

    Tinh Dầu Nghệ

    Curcuma Longa Essential Oil

    Tinh Dầu Ngò Gai

    Eryngium Foetidium (*) Eryngium Foetidium Essential Oil

    Tinh Dầu Hồi

    Star Anise Essential Oil

    Tinh Dầu Húng Chanh (Tần)

    Coleus Leaf Essential Oil

    Tinh Dầu Húng Quế

    Basil Essential Oil

    Tinh Dầu Hương Lau

    Vetiver Essential Oil

    Tinh Dầu Hương Nhu Trắng

    Ocimum Gratissimum Essential Oil

    Tinh Dầu Hương Nhu tía (*)

    Ocimum Sanxctum Essential Oil

    Tinh Dầu Nguyệt Quế

    Bay Leaf Esential Oil

    Tinh Dầu Nhựa Thơm

    Myrrh Esential Oil

    Tinh Dầu Nhục Đậu Khấu

    Nutmeg Essential Oil

    Tinh Dầu Pơmu

    Hinoki Essential Oil

    Tinh Dầu Rau Diếp Cá

    Houttuynia cordata (*)

    Tinh Dầu Rau Om

    Limnophila Aromatica (*) Limnophila Aromatica Oil

    Tinh Dầu Rau Răm

    Rersicaria Odordata (*) Coriander Essential Oil

    Tinh Dầu Sả Hoa Hồng

    Palmarosa Essential Oil

    Tinh Dầu Thảo Quả

    Cardamom Essential Oil

    Tinh Dầu Thì Là

    Anethum Graveolens Dill Essential Oil

    Tinh Dầu Tía Tô Đất

    Melissa Essential Oil

    Tinh Dầu Tía Tô

    Perilla Frutescens (*) Perilla Essential Oil

    Tinh Dầu Tiêu Đen

    Pepper Black Essential Oil

    Tinh dầu Tỏi

    Garlic Essential Oil

    Tinh Dầu Trà Xanh

    GreenTea Essential Oil

    Tinh Dầu Trắc Bách Diệp

    Cypss Essential Oil

    Tinh Dầu Trầu Không

    Piper Betel Leaf Essential Oil

    Tinh Dầu Xạ Hương

    Thyme Essential Oil

    Tinh Dầu Riềng

    Alpinia Officinarump Galangal Essential Oil

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tinh Dầu Trong Tiếng Anh Là Gì? 70+ Tên Các Loại Tinh Dầu Bằng Tiếng Anh
  • Hoá Học 9 Bài 40 Dầu Mỏ Và Khí Thiên Nhiên
  • Tiếng Anh Chuyên Ngành Dầu Khí
  • Joc: Tạp Chí Hóa Học Hữu Cơ
  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Hóa Lớp 9 Phần Hữu Cơ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100