Xem Nhiều 1/2023 #️ Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Học Thuật Và Tiếng Anh Giao Tiếp # Top 1 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Học Thuật Và Tiếng Anh Giao Tiếp # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Học Thuật Và Tiếng Anh Giao Tiếp mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chia sẻ của Lê Hoàng Hoa, tốt nghiệp khoa Tài chính Ngân hàng Đại học Newscatle, Anh quốc)

Tiếng Anh học thuật là một dạng tiếng Anh riêng biệt, được sử dụng trong học tập và nghiên cứu, có yêu cầu cao hơn và phức tạp hơn so với tiếng Anh giao tiếp thông dụng. Tiếng Anh học thuật cũng là nền tảng cơ bản tất yếu bạn cần có để bước vào giảng đường đại học nước ngoài. Vậy điểm khác biệt giữa tiếng Anh thông thường và tiếng Anh học thuật là gì và tại sao chúng ta nên học tiếng Anh học thuật?

Khi viết tiểu luận

Chắc chắn những bài tiểu luận, báo cáo là một dạng bài tập quan trọng thường chiếm một số phần trăm nhất định trong kết quả tổng kết của bạn. Khi đã là một sinh viên tại đại học nước ngoài, những bài tiểu luận không còn đơn giản là những bài văn cho phép các bạn thỏa sức sáng tạo nữa. Tại đại học nước ngoài, những bài tiểu luận, báo cáo cần phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt một cách chặt chẽ từ cách trình bày đến nội dung từng câu chữ.

Một bài tiểu luận cần được trình bày có hệ thống và trình tự logic, có tiêu đề, có chia các mục lớn nhỏ và có đủ các phần như tóm tắt, mở kết, tài liệu tham khảo. Về mặt ngôn ngữ, những bài tiểu luận học thuật thường sử dụng những cấu trúc ngữ pháp đơn giản nhưng cấu trúc câu lại dài, phức tạp, nhiều bộ phận chính phụ. Bên cạnh đó, có nhiều những lưu ý áp dụng như những tiểu luận học thuật nên dùng câu ở dạng bị động; diễn đạt nên tránh sự khẳng định chủ quan và tránh như các cụm động từ, từ ghép. Có thể thấy rằng những tiểu luận báo cáo học thuật hoàn toàn khác biệt so với những bài văn thông thường, đòi hỏi bạn phải được học và có vốn tiếng Anh học thuật nhất định.

Khi trích dẫn tài liệu tham khảo

Sở dĩ quy tắc trích dẫn được đánh giá rất quan trọng bởi với tiếng Anh ở trình độ học thuật mỗi câu từ viết ra đều phải có cơ sở cụ thể nhất định, tuyệt đối tránh những câu văn chung chung với những kiến thức đại trà. Mỗi bài luận tại đại học đều có một đề tài cụ thể và yêu cầu một lượng kiến thức chuyên môn nghiên cứu. Vì vậy sinh viên cần thành thạo cách tìm và tham khảo tài liệu nghiên cứu, sách vở, trích dẫn và dựa vào đó xây dựng bài tiểu luận của mình; tất cả đều sử dụng tiếng Anh học thuật.

Hiện có những hệ thống chuẩn mực cho việc trích dẫn, tham khảo tài liệu được các trường đại học áp dụng như Havard referencing hay APA style bao gồm những quy tắc, mẫu trình bày từ khoảng cách quy định, thứ tự trong trích dẫn, kiểu chữ trong tiểu luận và báo cáo giúp cho bài làm của sinh viên mạch lạc, rõ ràng, dễ theo dõi. Ngoài ra khi sử dụng thông tin trong những tài liệu, sách vở, kỹ năng thay thế từ để tránh lỗi sao chép là vô cùng quan trọng bởi sao chép từ tài liệu có sẵn vốn là một lỗi rất nặng tại các trường đại học.

Khi học tiếng Anh giao tiếp thông thường trước đây, bạn có những hoạt động như đứng lên trước lớp kể một câu chuyện bằng tiếng Anh, kể về một ai đó, miêu tả một bức tranh nào đó bằng tiếng Anh trước lớp; hay đôi khi là diễn một vở kịch vui bằng những từ vựng quen thuộc, gần gũi hàng ngày, với phong cách thoải mái vui vẻ. Nhưng một bài thuyết trình tại đại học nước ngoài cần được dùng hoàn toàn kiến thức và kỹ năng của tiếng Anh học thuật. Bài thuyết trình của bạn cần có một cấu trúc rõ ràng, với những từ nối chuyển đoạn mạch lạc, những mẫu câu trình bày, bày tỏ quan điểm, cung cấp thông tin có định hướng và những từ vựng chuyên ngành.

Tiếng Anh học thuật đương nhiên đòi hỏi một sự đầu tư không nhỏ về cả thời gian và tài chính. Nhưng sự đầu tư đó là nền tảng đồng hành với bạn trong suốt những năm đại học và cả sự nghiệp sau này. Ngoài việc tự học, bạn cần tìm đến những khóa học chuyên sâu với những giáo viên có  kinh nghiệm tại những trung tâm uy tín. Bởi lượng kiến thức và kỹ năng trong tiếng Anh học thuật là khá lớn và phức tạp; sẽ thật khó để bạn có thể nắm vững nếu không được hướng dẫn bài bản, đầy đủ và có hệ thống. Và theo mình, sự chuẩn bị tốt nền tảng tiếng Anh học thuật ngay từ quê nhà sẽ không chỉ giúp bạn tiết kiệm chi phí mà còn giúp bạn tự tin hơn, thành công hơn khi đi du học.

Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Mỹ Và Anh Anh

Mặc dù có nhiều loại tiếng Anh khác nhau, tiếng Anh Mỹ và Anh Anh là hai loại được dạy trong hầu hết các chương trình ESL / EFL. Nói chung, người ta đồng ý rằng không có phiên bản nào là “chính xác” tuy nhiên, có chắc là sở thích trong sử dụng. Ba sự khác biệt chính giữa tiếng Anh Mỹ và Anh Anh là:

Phát âm – sự khác biệt trong cả nguyên âm và phụ âm, cũng như căng thẳng và ngữ điệu

Từ vựng – sự khác biệt trong danh từ và động từ, đặc biệt là cách sử dụng động từ và tên của các công cụ hoặc mục cụ thể

Chính tả – sự khác biệt thường được tìm thấy trong các tiền tố và hậu tố nhất định

Nguyên tắc quan trọng nhất là cố gắng nhất quán trong cách sử dụng của bạn. Nếu bạn quyết định muốn sử dụng cách viết tiếng Anh của Mỹ thì hãy nhất quán trong cách đánh vần của bạn (nghĩa là màu cam cũng là hương vị của nó – màu sắc là chính tả của người Mỹ và hương vị của người Anh), điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng hoặc có thể. Hướng dẫn sau đây nhằm chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa hai loại tiếng Anh này.

Khác biệt nhỏ trong ngữ pháp

Có rất ít sự khác biệt về ngữ pháp giữa tiếng Anh Mỹ và Anh. Chắc chắn, những từ chúng tôi chọn có thể khác nhau vào những thời điểm. Tuy nhiên, nói chung, chúng tôi tuân theo cùng một quy tắc ngữ pháp. Với điều đó, có một vài khác biệt.

Sử dụng hiện tại hoàn hảo

Trong tiếng Anh Anh, sự hoàn hảo hiện tại được sử dụng để diễn tả một hành động đã xảy ra trong quá khứ gần đây có ảnh hưởng đến thời điểm hiện tại.

Ví dụ:

Tôi đã mất chìa khóa của tôi. Bạn có thể giúp tôi tìm nó?

Trong tiếng Anh Mỹ, những điều sau đây cũng có thể xảy ra:

Tôi bị mất chìa khoá. Bạn có thể giúp tôi tìm nó

Tiếng anh của người Anh:

Tôi đã ăn trưa rồi

Tôi đã từng xem bộ phim này

Bạn đã hoàn thành bài tập chưa?

Tiếng Anh – Mỹ:

Tôi chỉ ăn trưa HO ORC tôi vừa ăn trưa

tôi đã thấy bộ phim HO ORC tôi đã thấy bộ phim đó rồi.

Bạn đã làm xong bài tập về nhà chưa? HO ORC Bạn đã hoàn thành bài tập chưa?

Chiếm hữu

Có hai hình thức thể hiện sở hữu bằng tiếng Anh. Có hoặc đã có

Bạn có xe hơi không?

Bạn có xe ô tô không?

Anh ấy không có bạn bè.

Anh ấy không có bạn bè.

Cô ấy có một ngôi nhà đẹp mới.

Cô ấy có một ngôi nhà mới xinh đẹp.

Mặc dù cả hai dạng đều chính xác (và được chấp nhận bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Anh), nói chung là hình thức ưa thích trong tiếng Anh của người Anh, trong khi đa số người nói tiếng Anh Mỹ đều sử dụng ngôn ngữ này bạn có, anh ta không có vv

Các động từ Get

Phân từ quá khứ của động từ get get an American English.

Tiếng Anh Mỹ: Anh ấy chơi tennis tốt hơn nhiều.

Tiếng Anh Anh: Anh ấy chơi tennis tốt hơn nhiều.

‘Đã có’ được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh Anh để chỉ “có” theo nghĩa sở hữu. Kỳ lạ, dạng này cũng được sử dụng ở Hoa Kỳ với phân từ Anh ‘got’, hơn là ‘gotten’! Người Mỹ cũng sẽ sử dụng ‘phải làm’ theo nghĩa ‘phải làm’ cho trách nhiệm.

Tôi phải đi làm vào ngày mai.

Tôi có ba người bạn ở Dallas.

Từ vựng

Sự khác biệt lớn nhất giữa tiếng Anh Anh và Mỹ nằm ở sự lựa chọn từ vựng . Một số từ có nghĩa là những thứ khác nhau trong hai loại ví dụ:

Trung bình: (Tiếng Anh Mỹ – giận dữ, xấu hổ, Anh Anh – không hào phóng, nắm chặt)

Tiếng Anh Mỹ: Không nên có ý nghĩa với em gái của bạn!

Tiếng Anh Anh: Cô ấy có nghĩa là cô ấy sẽ không trả tiền cho một tách trà.

Có nhiều ví dụ khác (quá nhiều cho tôi để liệt kê ở đây). Nếu có sự khác biệt trong cách sử dụng, từ điển của bạn sẽ lưu ý các ý nghĩa khác nhau trong định nghĩa của thuật ngữ. Nhiều từ vựng cũng được sử dụng ở một dạng và không có trong từ kia. Một trong những ví dụ điển hình nhất về điều này là thuật ngữ sử dụng cho xe ô tô.

Tiếng Anh Mỹ – hood

Tiếng Anh – bonnet

Tiếng Anh Mỹ – trunk

Anh Anh – boot

Tiếng Anh Mỹ – xe tải

Anh Anh – xe tải

Một lần nữa, từ điển của bạn sẽ liệt kê xem cụm từ này có được sử dụng trong tiếng Anh Anh hay tiếng Anh Mỹ hay không .

Để có một danh sách đầy đủ hơn về sự khác biệt từ vựng giữa tiếng Anh Anh và tiếng Anh, hãy sử dụng công cụ Từ vựng tiếng Anh Anh và Anh ngữ Hoa Kỳ.

Những từ kết thúc bằng màu, màu sắc, hài hước, hài hước, hương vị, hương vị … hoặc từ ngữ kết thúc bằng -ize (Mỹ) nhận biết, bảo trợ, bảo trợ, vv

Cách tốt nhất để đảm bảo rằng bạn đang nhất quán trong việc đánh vần là sử dụng kiểm tra chính tả trên bộ xử lý văn bản của bạn (nếu bạn đang sử dụng máy tính của khóa học) và chọn bạn muốn. Như bạn thấy, có rất ít sự khác biệt giữa tiếng Anh tiếng Anh Mỹ và tiếng anh Anh Anh chuẩn . Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất có lẽ là sự lựa chọn từ vựng và cách phát âm.

sách tiếng anh lớp 7 sách tiếng anh lớp 8 sách tiếng anh lớp 9

Sự Khác Biệt Giữa Trường Đại Học Và Senmon Ở Nhật Bản

Sau khi tốt nghiệp trường tiếng Nhật trong 2 năm đầu, du học sinh sẽ quyết định chọn học tiếp lên trường Đại học hoặc Senmon. Vậy bạn có biết tỷ lệ tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp là bao nhiêu % không?

Cùng JAPANDUHOC tìm hiểu sự khác biệt giữa trường Đại học và Senmon ở Nhật thôi nào.

A.Sự khác biệt giữa Đại Học và Senmon

1.Trường đại học

Nội dung học tập ở Đại học sẽ nhấn mạnh về lý thuyết hơn là thực hành, vì vậy số lượng tiết học cho việc thực hành sẽ ít hơn so với trường Senmon.

Cùng là “tốt nghiệp” nhưng cụm từ “tốt nghiệp Đại học” sẽ mang lại nhiều ấn tượng hơn trong mắt nhà tuyển dụng khó tính.

2.Trường Senmon

Trường Senmon (専門), hay còn gọi là trường dạy nghề / cao đẳng nghề sẽ gói gọn chương trình học bằng cách nội dung thực tế và thiết thực nhất.

Nội dung học tập chủ yếu ở Senmon là khoảng 80% kiến thức chuyên môn và thực hành, ngoài ra có thêm tiếng Nhật chuyên ngành.

Vì mục tiêu của trường Senmon là những học viên sau khi tốt nghiệp có việc làm luôn, nên việc học để áp dụng vào thực tế là quan trọng nhất.

Sinh viên Senmon thường không có nhiều sự lựa chọn, việc tổ chức khóa biểu và kiến thức sẽ do trường học tổ chức.

B.Tỷ lệ việc làm và mức lương

Dựa trên kết quả khảo sát trong năm 2020 của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản các nguồn báo chí lớn như Yahoo!:

Tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp Đại học: 98% (tính đến tháng 4/2020)

Tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp Senmon: 100% (cao hơn 0,4% so với 2019)

Lợi thế của trường Senmon là kinh nghiệm thực tế, kiến thức chuyên môn, sự liên kết với các công ty.

Không chỉ với mức lương khởi điểm cao, sinh viên tốt nghiệp Đại học về lâu dài sẽ dễ dàng thành công hơn trong công việc.

C.Nên học Đại học hay Senmon

Trong phần này, mình sẽ chưa đề cập đến học phí vì nó có thể sẽ làm mất đi nhiều giá trị khách quan.

1.Trường Đại học

Nếu bạn nằm trong các trường hợp sau đây, có lẽ trường Đại học sẽ hợp với bạn:

Những người muốn dành nhiều thời gian cho những sở thích

Chưa có kế hoạch rõ ràng

Những người muốn làm việc tại các công có yêu cầu cao

Những người muốn tận hưởng cuộc sống sinh viên

Đại học là môi trường tự lập, nếu bạn không thực sự học thì rất lãng phí.

2.Trường Senmon

Các trường hợp sau sẽ hợp với việc học tại trường Senmon hơn:

Người muốn có kiến thức rõ ràng và kỹ năng cần thiết cho công việc

Người thực sự muốn làm việc

Người muốn một bằng cấp có ích cho công việc

Trường Senmon là nơi nuôi dưỡng nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho tương lai. Do đó, việc học kiến thức và kỹ năng thực tế là ưu tiên hàng đầu.

Và điều quan trọng nhất khi học Senmon là luôn luôn có công việc chờ đợi bạn sau khi tốt nghiệp.

D.Cuối cùng

Mỗi trường Đại học và Senmon đều có những điểm đặc trưng riêng, những thuận lợi và bất lợi. Bạn nên suy nghĩ chắc chắn trước khi quyết định.

Mình chưa đề cập đến học phí, tuy nhiên đừng quên mất nó. Điều quan trọng nhất đối với du học sinh vẫn là thu nhập.

Nếu một trường học có học phí vượt quá khả năng của bạn, hãy cân nhắc bỏ qua nó. Bởi vì thời gian đi làm có thể sẽ nuốt mất thời gian học tập và việc học ở một môi trường rộng lớn lúc này là vô tác dụng.

11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt

Từ cuối thế kỷ 19, cùng sự xâm lược của Thực dân Pháp, hệ chữ La-tinh đã được du nhập vào Việt Nam và dần dần trở thành chữ viết chính thức được sử dụng. Tuy nhiên tiếng Việt đã có cả một lịch sử chịu ảnh hưởng từ tiếng Trung Quốc nên cả về mặt phát âm lẫn ngữ pháp đều có sự khác biệt lớn so với những ngôn ngữ dựa trên chữ La-tinh khác.

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm.

Ngôn ngữ đơn âm có nghĩa là mỗi một từ tiếng Việt là một âm tiết, một tiếng, một khối hoàn chỉnh trong phát âm.

Ví dụ:

Sẽ được đọc rõ ràng từng từ là ” Tôi” “là” “một” “giáo” “viên ”

Trong khi đó, tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm. Điều này có nghĩa, nhiều từ trong tiếng Anh không được cấu tạo từ 1 âm tiết, mà từ nhiều âm tiết.

Hai câu ví dụ trên đều có cùng ý nghĩa nhưng ở câu tiếng Việt mỗi từ là một âm tiết tách rời, cả danh từ “giáo viên” cũng được đọc tách ra thành 2 từ hoàn toàn riêng biệt là “giáo” và “viên”. Ở ví dụ tiếng Anh, ” teacher” là một từ duy nhất và được đọc thành 2 âm tiết ˈtiːʧə không tách rời mà nối với nhau.

Nhiều người có thói quen đọc tiếng Anh như đọc tiếng Việt, tức là đối với các từ tiếng Anh có nhiều âm tiết cũng bị chia nhỏ thành từng tiếng tách rời, đều bắt nguồn từ sự khác biệt này.

Do tính chất đơn âm của tiếng Việt nên khi đọc các từ sẽ được đọc rõ và đồng đều, thường không nhấn trọng âm.

Như trong câu ví dụ “Tôi là một giáo viên” mỗi từ được đọc rõ ràng như nhau: Tôi = là = một = giáo = viên.

Ngược lại, trong tiếng Anh, những từ đa âm tiết thường có một hoặc vài trọng âm. Việc đọc đúng trọng âm sẽ quyết định khả năng người khác có nghe hiểu đúng hay không.

Có rất nhiều từ trong tiếng Anh chỉ cần đọc sai trọng âm thì người nghe sẽ hiểu ra một nghĩa khác.

Nếu nhấn mạnh vào âm tiết đầu sẽ được đọc là / ˈpre/ là danh từ mang nghĩa là món quà, hiện tại

Nếu nhấn mạnh vào âm tiết sau sẽ được đọc là / zent/ là động từ mang nghĩa là giới thiệu, thuyết trình…

Việc nắm được trọng âm của từ là vô cùng quan trọng. Vì thói quen nói tiếng Việt mà chúng ta nhiều khi bỏ qua việc nhấn trọng âm này.

Ví dụ:

La – Là – Lá – Lạ – Lả – Lã có nghĩa hoàn toàn khác nhau

Việc có dấu hay có thanh cũng khiến cho tiếng Việt được cho là có giai điệu “như hát” theo lời nhận xét của rất nhiều người nước ngoài.

Tiếng Anh không có dấu nhưng có trọng âm và ngữ điệu ( intonation ). Có một số quy tắc về ngữ điệu trong tiếng Anh ( Luyện nói tiếng Anh tự nhiên với ngữ điệu ) nhưng nhìn chung, việc thay đổi ngữ điệu và thay đổi trọng tâm của câu giúp thể hiện thái độ và ý định của người nói.

Ví dụ:

You don’t like her!

Trong tiếng Việt, mỗi chữ cái chỉ có một cách phát âm. Do vậy, khi viết được từ thì chúng ta có thể biết được cách đọc của từ đó.

Ngược lại, trong tiếng Anh các chữ cái trong các từ khác nhau có thể được đọc rất khác nhau và các chữ cái hoàn toàn khác nhau trong các từ khác nhau lại được đọc giống nhau.

Ví dụ:

Cùng là chữ “a” nhưng trong hai từ trên được đọc hoàn toàn khác nhau.

Garage – Vision

(Ga-ra để xe – Tầm nhìn)

Chữ “g” và “s” lại được đọc giống nhau là ”

Thật thú vị phải không nào! Đây là lí do mà chúng ta thường hay lúng túng khi gặp một từ mới tiếng Anh vì không biết phải đọc như thế nào. Giải pháp cho bạn chính là hãy nhớ tra từ điển để xem phiên âm của từ. Hoặc bạn cũng có thể chọn một cách đơn giản hơn là cài đặt eJOY eXtension vào trình duyệt Chrome để tra được từ vựng mới mọi lúc mọi nơi, tra được cách đọc và NGHE được cả cách đọc từ vựng đó.

Tiếng Việt có không phân biệt rõ ràng cách đọc cho các nguyên âm đơn ngắn trong khi tiếng Anh có cách đọc nguyên âm đơn ngắn và dài. Việc đọc sai các nguyên âm đơn ngắn – dài có thể khiến người nghe hiểu sai nghĩa dẫn tới hiểu sai ý muốn truyền đạt.

Sheep – Ship

Các phụ âm chỉ đứng ở đầu hoặc cuối từ. Chúng ta thường chỉ đọc phụ âm khi chúng đứng ở đầu từ. Khi đứng cuối từ, các phụ âm thường kết hợp với nguyên âm ở trước nó để tạo ra một âm mới như “o+n=on” trong “con” và khi đọc chúng ta không đọc phụ âm cuối.

Tiếng Việt có 11 trường hợp các phụ âm đứng cạnh nhau để tạo thành một phụ âm ghép mới và có cách đọc được quy định như sau ( theo wikipedia )

Các phụ âm có thể đứng ở đầu, cuối và giữa của từ. Và chúng ta cần phát âm rõ tất cả các phụ âm đó.

Ví dụ:

Đặc biệt, việc phát âm rõ các phụ âm cuối rất quan trọng để nhận biết và phân biệt các từ.

Ví dụ:

Chính bởi thói quen nói tiếng Việt nên khi nói tiếng Anh chúng ta cũng thường không chú ý tới các phụ âm cuối dẫn đến người nghe không hiểu được chúng ta nói gì, bản thân chúng ta cũng bị bối rối giữa các từ nghe giống nhau như ví dụ trên. Thêm vào đó, việc bỏ qua phụ âm cuối còn làm ảnh hưởng tới ngữ điệu tiếng Anh bởi bạn đã bỏ qua một yếu tố để nối âm luyến láy rồi.

Tiếp theo, hãy xem sự khác biệt về ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nào:

Trong tiếng Việt chúng ta không có khái niệm về từ gốc, tiền tố và hậu tố của một từ để làm thay đổi ý nghĩa của từ đó.

Ví dụ:

Trong tiếng Anh, việc thêm tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix) có thể biến đổi ý nghĩa và dạng của từ.

Ví dụ:

Trong tiếng Việt các từ vựng vẫn được giữ nguyên bất kể ngôi của chủ ngữ, số ít hay số nhiều hoặc thì của động từ.

Động từ “có” và danh từ “cái bánh” vẫn được giữ nguyên không thay đổi bất kể số lượng và ngôi của chủ ngữ.

Tiếng Anh thì khác, động từ sẽ thay đổi theo chủ ngữ và danh từ sẽ biến đổi theo số lượng.

Đây là lý do nhiều bạn rất hay mắc lỗi không chia động từ khi đặt câu hoặc quên viết số nhiều của danh từ.

Trong tiếng Việt, chúng ta không phân biệt rạch ròi danh từ xác định và danh từ không xác định.

Ví dụ: Tôi vừa xem xong bộ phim How I Met Your Mother và tôi không thích cái kết

Ở đây danh từ “cái kết” được sử dụng mà không được định rõ là danh từ xác định hay không xác định. Mặc dù chúng ta vẫn có thể tự hiểu được đây chính là “cái kết” của bộ phim How I Met Your Mother.

Ví dụ:

Trong tiếng Anh việc sử dụng mạo từ rất quan trọng để xác định danh từ đó là một danh từ không xác định (người nghe chưa biết tới) hoặc là một danh từ xác định (người nghe đã biết danh từ được nhắc đến là danh từ nào).

I have just finished the series How I Met Your Mother and I don’t like the ending.

Ở đây mạo từ ” ” được sử dụng giúp xác định danh từ ” “, người đọc biết chắc chắn ” ” này chính là cái kết của bộ phim mà không cần phải nhắc lại.

Sự khác biệt này khiến chúng ta lúng túng với việc sử dụng mạo từ trong tiếng Anh bởi bản thân chúng ta không xác định được khi nào cần dùng mạo từ, khi nào không, khi nào dùng mạo từ không xác định, khi nào cần dùng mạo từ xác định.

Ví dụ:

Trong tiếng Việt chúng ta thường chỉ sử dụng 3 thì: quá khứ – hiện tại – tương lai không phân biệt rạch ròi giữa thời điểm nói và thời điểm diễn ra hành động. Và ở 3 thì này thì động từ vẫn được giữ nguyên, chúng ta chỉ đơn giản là thêm vào các từ “đã”, “đang” và “sẽ” vào để phân biệt các thì mà thôi.

Khi nói về việc làm bài tập, chúng ta thường chỉ quan tâm đến hành động “làm bài tập”

Ví dụ:

Trong tiếng Anh có tới 12 thì, được phân biệt rạch ròi theo thời điểm nói và thời điểm xảy ra hành động. Đối với mỗi thì lại có một công thức riêng cho 3 thể khẳng định – phủ định – nghi vấn, cho ba ngôi chủ ngữ thuộc số ít, số nhiều và cần được sử dụng đúng hoàn cảnh.

Hãy xem một ví dụ ở thể phủ định, chủ ngữ thuộc ngôi thứ nhất (I) vẫn với hành động làm bài tập (do homework)

Mình đã làm bài tập (tại một lúc nào đó trong quá khứ.)

I was doing my homework at 7 pm yesterday.

Lúc 7 giờ tối qua thì mình đang làm bài tập.

Quá khứ hoàn thành

I had done my homework before 7 pm yesterday.

Mình đã làm xong bài tập trước 7 giờ tối qua rồi. (thời điểm nói là ngày hôm nay)

Quá khứ hoàn thành tiếp diễn

I had been doing my homework before 7 pm yesterday.

Trước 7 giờ tối qua thì mình vẫn đang làm bài tập. (thời điểm nói là ngày hôm nay)

Ngày nào mình cũng làm bài tập. (chỉ một thói quen, một hoạt động diễn ra thường xuyên lặp lại)

Hiện tại tiếp diễn

Mình đang làm bài tập. (tại thời điểm hiện tại)

Hiện tại hoàn thành

I have done my homework before you come.

Mình đã làm xong bài tập trước khi cậu đến. (tại thời điểm đang nói)

Hiện tại hoàn thành tiếp diễn

I have been doing my homework for 2 hours.

Mình đã ngồi làm bài tập 2 tiếng rồi (tính đến thời điểm đang nói).

Tôi sẽ làm bài tập. (vào một lúc nào đó không xác định trong tương lai)

I will be doing my homework at 7 pm today.

Lúc 7 giờ tối nay thì mình đang ngồi làm bài tập rồi. (đấy là việc chưa xảy ra, chỉ dự định thế thôi)

I will have done my homework before 7 pm today.

Mình sẽ hoàn thành bài tập trước 7 giờ tối nay. (đấy là dự định)

Tương lai hoàn thành tiếp diễn

I will have been doing my homework for 3 hours by 7 pm today.

Tính tới 7 giờ tối nay mình sẽ ngồi làm bài tập được 5 tiếng đồng hồ rồi đấy. (việc làm bài tập đã bắt đầu lúc 2 giờ chiều và thời điểm nói là giữa 2 giờ chiều và 7 giờ tối)

Bạn thấy không, với 12 cấu trúc của 12 thì, việc diễn đạt các hành động bằng tiếng Anh rất rõ ràng và dễ hiểu mà không cần phải bổ sung quá nhiều thông tin như cách diễn đạt chỉ với 3 thì trong tiếng Việt. Đây chính là lý do gây hoang mang cho phần lớn chúng ta khi chia động từ để diễn đạt được đúng ý của mình bằng tiếng Anh.

Mặc dù trật tự các từ trong câu giữa tiếng Anh và tiếng Việt có khá nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên chúng ta vẫn gặp những sự khác biệt nhất định về trình tự diễn đạt giữa hai thứ tiếng.

Tải eJOY eXtension miễn phí!

Team eJOY chúng mình sẽ luôn đồng hành cùng bạn!

A Vietnamese. Fascinated by wonderful nature. Trying to keep her heart nice and clear.

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Học Thuật Và Tiếng Anh Giao Tiếp trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!