Xem Nhiều 5/2022 # Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 # Top Trend

Xem 11,088

Cập nhật thông tin chi tiết về Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 mới nhất ngày 19/05/2022 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 11,088 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Thuyết Trình Đồ Dùng Dạy Học Tự Làm
  • Vu Gdth: Hướng Dẫn Sử Dụng Thiết Bị Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 4
  • Quy Trình Dạy Tiết Tập Đọc Lớp 4
  • Phân Biệt Và Sử Dụng Linh Hoạt 3 Kiểu Câu Kể: Ai Làm Gì? Ai Thế Nào? Ai Là Gì? Qua Tiết 6
  • Quy Trình Dạy Tiết Chính Tả Lớp 4
  • chất lượng dạy học không thể không quan tâm tới đổi mới cách sử dụng thiết

    bị, đồ dùng dạy học.

    Đối với việc giảng dạy môn Khoa học ở tiểu học, thiết bị, đồ dùng dạy

    học lại càng đặc biệt quan trọng bởi phương pháp dạy học đặc trưng của

    môn học là quan sát và thí nghiệm. Những kiến thức, kĩ năng, phương pháp

    học tập môn Khoa học là cơ sở để học tiếp các môn Sinh học, Vật lý, Hóa

    học…ở bậc học cao hơn. Vì vậy có thể nói Thiết bị, đồ dùng dạy học là yếu

    tố không thể thiếu trong mỗi tiết học

    Để tạo điều kiện cho học sinh được phát triển kĩ năng học tập khoa học,

    phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức, bản thân tôi

    cũng đã nghiên cứu tìm phương pháp để có thể sử dụng đồ dùng dạy học

    một cách hiệu quả nhất. Vì thế, tôi xin trình bày một số biện pháp nâng cao

    chất lượng “Sử dụng đồ dùng dạy học môn Khoa học lớp 4”.

    II.Thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Khoa học:

    1.Thực trạng:

    – Những năm gần đây giáo viên Tiểu học cũng đã quan tâm sử dụng thiết bị

    đồ dùng dạy học song phần lớn chỉ coi đó là phương tiện minh họa thay cho

    lời giảng của giáo viên chứ ít được sử dụng làm phương tiện để tổ chức các

    hoạt động học tập của từng cá nhân hoặc từng nhóm học sinh.

    – Trong quá trình sử dụng giáo viên đã gặp không ít những khó khăn vì chưa

    nắm vững những nguyên tắc sử dụng thiết bị, đồ dùng sao cho hợp lý, có

    hiệu quả. Phần lớn là sự tự mày mò, học hỏi lẫn nhau, chưa được bồi dưỡng

    một cách cơ bản, có hệ thống nên còn nhiều lúng túng.

    – Bộ đồ dùng dạy học được trang bị đáp ứng được xu thế đổi mới phương

    pháp dạy học. Mỗi lớp chỉ được cung cấp một bộ, chỉ đủ để giáo viên làm

    mẫu, ít có điều kiện để các nhóm học sinh được thực hành.

    2

    – Ngoài ra, không gian lớp học còn chật hẹp, tủ đựng đồ dùng chưa đồng bộ

    nên việc sắp xếp, bảo quản còn nhiều bất tiện.

    2.Kết quả,hiệu quả của thực trạng :

    – Giáo viên còn lúng túng khi sử dụng các đồ dùng làm thí nghiệm khoa học

    – Việc sử dụng đồ dùng trong mỗi tiết Khoa học chủ yếu là giáo viên thao

    tác minh họa, học sinh quan sát nghe cô giảng giải.

    – Một số đồ dùng cấp phát đã bị hỏng sau một vài lần sử dụng.

    – Học sinh ít được làm thí nghiệm khoa học.

    B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I.Các giải pháp thực hiện:

    1. Đối với công tác quản lý:

    – Sắp xếp bố trí đội ngũ giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên

    chuẩn, trình độ tay nghề vững vàng, có sức khoẻ, tâm huyết với nghề giảng

    dạy khối 4.

    – Tạo thuận lợi để giáo viên có điều kiện chuẩn bị đồ dùng, làm thử các

    thí nghiệm khoa học.

    – Trường tổ chức tập huấn hướng dẫn sử dụng, khai thác triệt để các đồ

    dùng bộ môn khoa học, đồng thời, phát động giáo viên, học sinh tự sưu tầm,

    tự làm đồ dùng dạy học bổ sung.

    – Trường tổ chức thi sử dụng đồ dùng dạy học; Thi đồ dùng dạy học

    tự làm.

    2. Đối với giáo viên:

    – Phải xác định được mục tiêu phân môn Khoa học lớp 4, cần đạt theo

    chuẩn kiến thức kỹ năng.

    3

    5

    Để chủ động trong việc sử dụng đồ dùng dạy học, mỗi giáo viên và tổ chuyên môn

    cần lập kế hoạch cụ thể những đồ dùng cần thiết trong từng bài và sắp xếp chúng hợp

    lí để tiện sử dụng.

    Bài

    Tên Bài

    Đồ Dùng

    -Phiếu học tập (SGV)

    Ghi Chú

    -GV chuẩn bị

    Con người cần gì để – 4 bộ phiếu vẽ (hoặc ghi) những

    sống?

    thứ cần thiết khác để duy trì cuộc

    sống.

    – HS chuẩn

    -Giấy khổ lớn.

    bị theo nhóm

    ………..

    …..

    -2 tháp dinh dưỡng cân đối (tranh – GV chuẩn bị

    Tại sao cần ăn phối câm)

    hợp

    nhiều

    thức ăn?

    loại – Các tấm thẻ cài ghi tên hay hình

    vẽ hoặc tranh ảnh các loại thức ăn.

    -Các tấm bìa hình tròn để ghi tên các – HS chuẩn bị

    món ăn.

    …….

    theo nhóm

    -Giấy khổ lớn (bìa lịch) để làm “mâm”

    …………….

    …….

    – 3 cốc thủy tinh giống nhau,thìa

    – HS chuẩn

    – Chai,bình,cốc đựng nước có hìn bị theo nhóm

    Nước có những tính dạng khác nhau

    chất

    gì? – 1tấm kính và 1khay đựng nước

    – 1tấm vải (khăn tay)bông, giấy thấm.

    – Một ít muối ,đường, cát…

    – GV chuẩn bị

    – Nước lọc, nước chè, sữa..

    – Phiếu học tập

    Từ kế hoạch trên, có thể chủ động hơn trong việc phân công HS chuẩn

    bị sưu tầm; Giáo viên phối hợp với đồng nghiệp dạy cùng khối lớp để

    tự làm một số đồ dùng đơn giản như: Mô hình lọc nước đơn giản; Sơ đồ

    vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên; …..

    Giáo viên hướng dẫn HS trong nhóm phân chia nhau hoặc cùng nhau

    chuẩn bị đồ dùng cô giáo giao, ví dụ như: cùng vẽ tranh hoặc sưu tầm ảnh về

    các loại quả, rau, gà, vịt, cá, trứng sữa,… phục vụ cho trò chơi ở hoạt động

    3 – bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? Hoặc taát caû ñoà duøng

    chuaån bò töø tieát tröôùc ñeå laøm thí nghieäm veà: nöôùc, khoâng khí, aâm thanh,

    aùnh saùng, nhieät nhö: coác, tuùi niloâng, xi lanh, ñeøn, nhieät keá… phục vụ cho

    bài ôn tập( tuần 28): Vật chất và năng lượng.

    2,Sử dụng đồ dùng dạy học trong từng bài cụ thể.

    2.1. Sử dụng đồ dùng là tranh, ảnh, sơ đồ…

    Trong nội dung chương trình môn Khoa học đồ dùng là tranh ảnh,

    sơ đồ…không chỉ làm nhiệm vụ minh họa mà còn là nguồn cung cấp thông

    tin để học sinh tìm ra kiến thức mới. Vì vậy khai thác tranh ảnh có hiệu

    quả sẽ giúp học sinh hiểu sâu và nhớ lâu những kiến thức trong mỗi bài học.

    Sách giáo môn Khoa học lớp 4, số lượng tranh ảnh đã được tăng cường,

    màu sắc đẹp, hấp dẫn và có tính điển hình. Vì vậy tập trung khai thác kĩ

    những hình ảnh sách giáo khoa là có thể đạt được phần lớn mục tiêu của giờ

    học. Tuy nhiên do khổ sách có hạn nên một số tranh ảnh còn nhỏ, chỉ đủ để

    HS là việc cá nhân hoặc nhóm nhỏ chứ không thể dùng trình bày trước cả

    lớp, do đó cũng cần phải phóng to, tách riêng một số hình ảnh.

    Ví dụ1: Bài 27 Một số cách làm sạch nước

    Hoạt động 3:Tìm hiểu quy trình sản xuất nước sạch

    7

    Để giúp HS nắm được quy trình sản xuất nước sạch của nhà máy

    nước đảm bảo 3 tiêu chuẩn: Khử sắt, loại bỏ các chất không tan và sát trùng,

    thì Hình 2 SGK chỉ có tác dụng khi em hoạt động nhóm 4. Muốn giải thích

    hoặc tổ chức cho HS trình bày trước lớp một cách cụ thể về tác dụng của

    từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất nước sạch cần phải phóng to

    hình 2.

    Ví dụ 2: Bài 15 : Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh?

    Hoạt động 1:Quan sát hình và kể chuyện.

    9 Hình trong SGK cần được tách rời, phóng to để HS sắp xếp thành 3

    câu chuyện sức khỏe của Hùng. Từ đó HS có thể vừa chỉ vào tranh vừa trình

    bày trước lớp một cách sinh động, cụ thể về nguyên nhân dẫn đến việc mắc

    bệnh của Hùng và những việc cần làm khi cơ thể bị bệnh.

    Bên cạnh việc sử dụng tranh ảnh thì sơ đồ, phiếu học tập…cũng được sử

    dụng rất nhiều trong môn Khoa học. Thường thì GV vẽ sơ đồ trên bảng phụ

    hoặc khổ giấy lớn; Một số phiếu học tập được phóng to để phục vụ khi dạy

    cả lớp hoặc để các nhóm đối chiếu kết quả làm việc và giáo viên sử dụng để

    chốt lại ý cơ bản cần thiết. Nhiều giờ thao giảng, sơ đồ, phiếu học tập được

    phóng to, in màu rất đẹp nhưng lại chỉ sử dụng được một lần vì giáo viên

    yêu cầu HS viết, vẽ ngay vào đó. Như vậy rất tốn kém và lãng phí thời gian

    chuẩn bị. Vì thế tôi đã suy nghĩ để thiết kế những sơ đồ, phiếu học tập có thể

    sử dụng được nhiều lần.

    Ví dụ 3 : Bài 21 Ba thể của nước

    Hoạt động 3: Vẽ sơ đồ sự chuyển thể của nước.

    Nếu chỉ yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ và trình bày sự chuyển thể của nước

    thì các em sẽ sao chép y nguyên hình vẽ SGK chuyển thành sơ đồ và trình

    bày theo kiểu học thuộc lòng. Chỉ cần “xoay” sơ đồ kiểu khác như đề kiểm

    tra cuối kì I năm 2007-2008 là đã có tới 40% HS nhầm lẫn vì không hiểu

    8

    bản chất, Vì vậy để học sinh nắm vững về sự chuyển thể của nước và điều

    kiện nhiệt độ của sự chuyển thể đó tôi đã thiết kế 2 kiểu sơ đồ sau:

    SƠ ĐỒ 1:Yêu cầu HS gắn các tấm thẻ có ghi :

    đông đặc

    ;

    ngưng tụ

    đồ cho phù hợp :

    ; Bay hơi

    nóng chảy

    ;

    vào các ô trống trong sơ

    Sơ đồ 1

    Nước ở thể lỏng

    Nước ở thể rắn

    Hơi nước

    Nước ở thể lỏng

    + SƠ ĐỒ 2: Y/c HS gắn các hình sau vào trong sơ đồ cho phù hợp:

    ,

    ,

    Ngưng tụ

    Sơ đồ 2

    Nóng chảy

    Kết quả gắn các hình vào sơ đồ như sau:

    Bay hơi

    Nóng chảy

    Ngưng tụ

    Đông đặc

    Sau khi hoàn thiện sơ đồ HS sẽ dựa vào đó để trình bày sự chuyển thể

    của nước trong điều kiện nhiệt độ của sự chuyển thể đó.

    10

    Các tấm thẻ trên đều được ép Platic và gắn nam châm sau để có thể gắn

    vào và tháo ra 1 cách dễ dàng.

    Tương tự như vậy,tôi cũng làm các tấm thẻ ghi Đ-S ( đúng- sai); NK( nên – không nên) ; 1-2-3-4 ; X… Để tháo gắn vào các ô trống trước ý

    đúng; các lời khuyên về sử dụng dinh dưỡng hợp lý; các việc nên hay không

    nên làm; Trình tự các sự việc….

    Ví dụ : Bài 42 Sự lan truyền của âm thanh

    * Hoạt động 1: Tìm hiểu sự lan truyền của âm thanh

    Để kiểm tra sự nắm vững cơ chế truyền âm thanh của HS, tôi đã yêu cầu

    HS thực hiện phiếu học tập sau:

    Khi gõ trống tai ta nghe thấy tiếng trống. Hãy điền số vào

    trước

    các sự kiện xảy ra theo thứ tự từ 1 đến 4 cho phù hợp :

    Không khí xung quanh mặt trống rung động.

    Mặt trống rung

    Màng nhĩ rung và tai ta nghe thấy tiếng trống.

    Không khí gần tai ta rung động

    * Dựa vào phiếu trên HS sẽ dễ dàng giải thích được âm thanh truyền

    tới ta ta như thế nào.

    Với những tấm thẻ như thế tôi không những sử dụng được nhiều

    lần ở nhiều bài trong môn Khoa học mà có thể sử dụng rất tiện lợi ở các môn

    như Đạo đức, Lịch sử, Địa lí….

    Đối với các dạng bài tập nối ô chữ tôi cũng đã thay đổi để sử dụng được

    nhiều lần.

    Ví dụ: Bài 50 Nóng, Lạnh, Nhiệt độ

    Hãy gắn các phiếu ghi 1000C, 00C, 390C, 250C, 370C vào

    cho

    phù hợp:

    Người khỏe mạnh (bình thường)

    11

    Người bị sốt

    Nhiệt độ trong phòng một ngày trời

    mát mẻ

    Nước đang sôi

    Nước đá đang tan

    Chỉ cần hai bộ như trên có thể tổ chức tốt các trò chơi học tập nhằm

    giúp HS ghi nhớ được một số nhiệt độ tiêu biểu không chỉ ở một lớp mà có

    thể sử dụng cho cả khối và còn dùng được nhiều năm.

    2.2.Sử dụng đồ dùng là vật thật:

    Trong môn Khoa học lớp 4 có một số bài là cần sử dụng đồ dùng dạy

    học là vật thật. Nếu tổ chức cho HS được thực hành trên vật thật chắc chắn

    các em sẽ có được những kĩ năng cần thiết ứng dụng những kiến thức đã học

    vào cuộc sống. Tuy nhiên khi thực hành với vật thật theo đúng yêu cầu của

    nội dung bài học cần phải hướng dẫn các em rất tỉ mỉ, cẩn thận, nếu không

    kiến thức rút ra từ thực hành sẽ không thuyết phục.

    Ví dụ1: Bài 10,11 Sử dụng thưc phẩm sạch và an toàn – Một số cách bảo

    quản thức ăn

    Các nhóm HS cần phải chuẩn bị một số loại rau quả còn tươi, lành lặn

    và cả loại héo úa; Một số đồ hộp, thực phẩm đóng gói còn hạn sử dụng, bao

    bì đảm bảo quy cách và một số lạo bị han rỉ, méo mó…để các em có điều

    kiện so sánh để từ đó nhận biết được thức ăn tươi sạch đảm bảo an toàn thực

    phẩm. Đồng thời biết cách bảo quản và sử dụng thực phẩm đã bảo quản cho

    hợp vệ sinh.

    Ví dụ 2: Bài 16 Ăn uống khi bị bệnh

    12

    Nếu không được thực hành pha dung dịch Ô-rê-dôn chắc chắn các em sẽ

    khó nhớ được chính xác các bước tiến hành pha dung dịch theo đúng hướng

    dẫn và sẽ lúng túng trong thao tác.

    Qua 2 ví dụ trên ta thấy rõ: được thực hành trên vật thật sẽ hình thành

    cho các em những thói quen tốt , những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống có

    lợi cho sức khỏe: Xem hạn sử dụng, đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng, lựa

    chọn sản phẩm tốt, bảo quản, sử dụng đúng cách…

    Ví dụ 3: Bài 47 Ánh sáng cần cho sự sống

    Để có đồ dùng phục vụ cho bài này tôi đã hưỡng dẫn HS chuẩn

    bị trước một tuần. Mỗi nhóm chuẩn bị 3 hộp giấy (Hộp cà phê,chè); cho đất

    khoảng 1/3 hộp gieo vào mỗi hộp từ 5 đến 10 hạt đậu, tưới đủ nước ấm. Hộp

    thứ nhất đậy kín nắp, khoét lỗ 7x7cm bên thành hộp ; hai hộp còn lại cắt bỏ

    nắp, một hộp để ngoài sân, một hộp để trong góc phòng (thiếu ánh sáng).

    Với 3 điều kiện trên, cách mọc và màu sắc của cây đậu có sự khác biệt

    rõ rệt. Đó là bằng chứng thiết thực nhất để HS thấy được vai trò của ánh

    sáng đối với đời sống thực vật.

    Tương tự như vậy. Ở bài 57 tôi cũng hướng dẫn HS trồng 5 cây đậu vào

    hộp nhựa với các điều kiện chăm sóc khác nhau để giúp các em nhận rõ

    được điều kiện cần thiết để thực vật sống và phát triển bình thường. Từ đó

    các em có ý thức và bắt đầu biết chăm sóc cây ở gia đình và vườn trường.

    2.3.Sử dụng thiết bị thí nghiệm :

    Mặc dù thí nghiệm môn Khoa học lớp 4 khá đơn giản, việc bố trí lắp đặt

    cũng không mấy phức tạp song nếu không chuẩn bị kĩ chỉ một sơ suất nhỏ

    cũng có thể làm cho thí nghiệm không thành công. Khi đó kiến thức được

    rút ra từ thí nghiệm cũng khiến HS nghi ngờ,Vì vậy việc làm thử trước các

    thí nghiệm, ghi chép rút kinh nghiệm để khắc phục các sự cố có thể xảy ra

    đảm bảo cho thí nghiệm thành công là việc làm rất cần thiết.

    13

    Ví dụ: Bài 35 Không khí cần cho sự cháy

    Hoạt động 2:Tìm hiểu cách duy trì sự cháy

    Trong thí nghiệm chứng minh: Muốn diễn ra sự cháy liên tục, không

    khí phải được lưu thông. Nếu ngọn nến quá nhỏ khi úp cốc thủy tinh thông

    đáy lên cây nến gắn trên đế kín, nến không tắt được. Ngược lại nếu cây nến

    to qua thì lại tắt quá nhanh, HS không đủ thời gian quan sát ngọn lửa bé dần

    rồi tắt hẳn, Do đó phải làm thử trước để chọn được đồ dùng phù hợp.

    Ngoài ra, cũng cần phải có một số “mẹo” nhỏ khi làm thí nghiệm để

    HS dễ quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm đó.

    Ví dụ : Bài 32 Không khí gồm những thành phần nào?

    Hoạt động 1:Xác định thành phần chính của không khí.

    Khi tiến hành thí nghiệm; úp lọ thủy tinh vào cây nến đang cháy gắn

    trong một đĩa chứa nước, chỉ cần pha vào nước 1-2 giọt mực để nước có

    màu xanh lơ thì khi nến tắt, nước dâng lên trong lọ(chiếm chỗ lượng khí ô-xi

    đã mất đi) sẽ quan sát rõ hơn nhiều so với dùng nước trong suốt.

    Tương tự như vậy đối với bài 51: Nóng, lạnh và nhiệt độ

    HS cũng thấy được mực nước màu trong ống thủy tinh dâng lên

    và hạ xuống rõ rệt khi nhúng vào chậu nước sôi và chậu nước đá.

    2.4.Tổ chức cho HS hoạt đông với đồ dùng dạy học.

    Một trong những định hướng của đổi mới phương pháp dạy học là tăng

    cường tổ chức hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho HS phát huy tính

    tích cực, tự tìm tòi phát hiện ra kiến thức. Chính vì vậy trong mỗi giờ học

    giáo viên đều phải cố gắng lựa chọn những hình thức, phương pháp và

    phương tiện dạy học phù hợp để có thể tổ chức tốt các hoạt động học tập của

    HS. Tuy nhiên, hoạt động của HS đối với đồ dùng dạy học thường diễn ra

    dưới hình thức nhóm, mà HS tiểu học còn nhỏ tuổi, năng lực tổ chức, phối

    hợp còn hạn chế, sự khéo léo, cẩn trọng trong thao tác chưa nhiều nên dễ

    14

    nhắc nhở các em một số những lưu ý hoặc kĩ thuật cần thiết trong thao tác

    thực hành.

    Ví Dụ : Bài 52: Vật dẫn nhiệt, vật cách nhiệt

    Hoạt Động 2: Làm thí nghiệm tính cách nhiệt của không khí.

    Trước khi yêu cầu các nhóm báo cáo các dụng cụ thí nhiệm đã chuẩn

    bị giáo viên phải nhắc nhở và làm mẫu các thao tác kết hợp phân tích kĩ

    thuật như :

    + Cách cầm nhiệt kế (không cầm vào bầu thủy ngân)

    + Trước khi đo cần vẩy cho mực thủy ngân tụt xuống.

    + Nhúng nhiệt kế vào hai cốc nước đồng thời.

    + Cách đọc nhiệt độ (Để nguyên nhiệt kế trong cốc để đọc nhiệt độ sau

    5 phút – 10 phút)

    + Kĩ thuật quấn báo vào 2 cốc và dùng dây chun để cố định

    + Đánh dấu để lượng nước trong 2 cốc bằng nhau.

    v.v…

    Thực tế những năm học trước một số giáo viên thực hiện thí nghiệm

    này không thành công vì nhiệt độ ở 2 cốc nước trênh lệch nhau rất ít,

    mà thời gian mỗi tiết học chỉ có 40 phút, không đươc phép đợi lâu. Cũng

    chính vì vậy kết quả thí nghiệm chưa thuyết phục nên các em khó giải thích

    được những ứng dụng thực tế về tính cách nhiệt của không khí. Sau nhiều

    lần làm thử rút ra kinh nhiệm tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện được

    thành công thí nghiệm này.

    3.Sắp xếp bảo quản thiết bị dạy học:

    Sau khi sử dụng xong giáo viên cần chú ý phân công học sinh các tổ

    hoặc trực nhật thu đếm thiết bị dạy học cho đầy đủ ,lau cho sạch sẽ rồi mới

    trả cho cán bộ thiết bị hoặc xếp vào tủ bảo quản.

    16

    Nếu trong quá trình dạy có hỏng hóc đổ vỡ, bị gãy hoặc mất mát cần

    cho các tổ thống kê tên thiết bị, nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc gẫy vỡ để

    thông báo với cán bộ thiết bị và nhà trường để có biện pháp khắc phục.

    Khi xếp đặt thiết bị giáo viên nên chú ý đặt đúng chỗ theo khoa học,

    theo phân loại thiết bị để lần sau dễ lấy, đễ sử dụng, để kiểm tra nhanh

    chóng, thống kê chính xác.

    4.Sửa chữa thiết bị dạy hoc:

    Theo tôi người giáo viên cần tìm hiểu sâu thiết bị đặc biệt là vật liệu

    chế tạo để có thể tự khắc phục một số hư hỏng đơn giản trong quá trình

    giảng dạy như:

    Với các mô hình bị gãy, vỡ có thể dùng keo hoặc nến dẻo để gắn lại.

    Với những dây điện có lõi đồng bị đứt nên hàn lại hoặc nối lại, chú ý

    an toàn điện.

    Với tranh ảnh nên gài nẹp, nếu nẹp không chặt có thể dùng băng dính

    để hỗ trợ.

    C.KẾT LUẬN

    I.Kết quả nghiên cứu:

    Với những cố gắng trên, Việc sử dụng đồ dùng,thiết bị dạy học trong

    môn Khoa học lớp 4 đã trở thành việc làm thường xuyên của giáo viên

    và học sinh. Giáo viên có được kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học khá thành

    thạo góp phần nâng cao chất lượng mỗi giờ dạy.

    Thiết bị dạy học bền đẹp hơn, ít hư hỏng hơn.

    Học sinh rất hào hứng khi được làm các thí nghiệm khoa học, thao tác

    làm thí nghiệm chính xác hơn.

    17

    Kết quả: 2 Tiết thao giảng môn Khoa học ở Học kì 1 và Học

    kì 2( có sử dụng đồ dùng dạy học) đều được xếp loại giỏi.

    Đồ dùng dạy học: Sơ đồ tuần hoàn của nước trong tự nhiên do giáo

    viên khối 4 tự làm để tham gia dự thi cấp trường đạt nhất.

    Cũng nhờ được hoạt động thường xuyên với đồ dùng học tập nên HS

    cũng có được thói quen tốt trong việc chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức.

    Niềm hứng thú, say mê môn học đã giúp các em nắm chắc những kiến thức

    cơ bản, có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế nên nhớ lâu

    kiến thức đã học.

    Kết quả kiểm tra định kì cuối kì I (Năm Học 2010 -2011) của khối 4

    (37 học sinh) như Sau :

    Học sinh đạt

    Học sinh đạt

    điểm 9 và 10

    điểm 7 và 8

    Sốlượng Tỉ lệ Sốlượng Tỉ lệ

    29

    4

    Học sinh đạt điểm 5 Học sinh có điểm dưới

    và 6

    5

    Sốlượng

    Tỉ lệ %

    Sốlượng

    Tỉ lệ %

    1

    3

    0

    0

    II.Kiến nghị đề xuất :

    – Để có thể sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả tôi xin đề xuất như sau

    trước hết người giáo viên phải nhận thức được vai trò quan trọng của đồ

    dùng dạy học. Thầy cô phải thực sự cảm nhận có lỗi đối với học sinh khi

    mỗi tiết học qua đi một cách buồn tẻ, hời hợt, không đọng lại trong các em

    những điều mới mẻ bổ ích của môn học. Từ đó mới có thể có đủ say mê và

    sự kiên trì để suy ngẫm, tìm tòi sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp

    dạy học nói chung và sử dụng đồ dùng dạy học nói riêng.

    18

    – Việc sử dụng đồ dùng dạy học sẽ rất khó thành công nếu như không

    thực hiện thường xuyên và không biết rút kinh nghiệm. Sau mỗi giờ dạy

    giáo viên cần tự hỏi : Sử dụng đồ dùng thời điểm ấy đã hợp lý chưa? làm thế

    nào có tể rút ngắn thời gian trong các thao tác? Nguyên nhân nào khiến học

    sinh không phát hiện ra kiến thức từ hoạt động với đồ dùng? Cần cải tiến

    như thế nào có hiệu quả hơn? Rồi trao đổi với đồng nghiệp để có cách khắc

    phục. Học hỏi kinh nghiệm ở những người đi trước cũng là điều rất nên làm

    để hoàn thiện khả năng sử dụng đồ dùng dạy học của mình.

    – Sử dụng đồ dùng dạy học phải được phối hợp hài hòa, thống nhất với

    hình thức và phương pháp dạy học. Muốn vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ

    nội dung mục tiêu mỗi bài học trong mối quan hệ với chương trình để có sự

    lựa chọn hợp lý.

    Người viết

    Phạm Thị Hân

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ke Hoach Su Dung Đồ Dùng Lóp 4
  • Gia Sư Lớp 4 Giỏi Dạy Kèm Môn Toán, Tiếng Việt 4 Tại Hà Nội
  • Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Môn Tập Đọc Lớp 2
  • Hướng Dẫn Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 2 Và Cách Sử Dụng
  • Gia Sư Lớp 2 Giỏi Dạy Kèm Môn Toán, Tiếng Việt 2 Tại Hà Nội
  • Bạn đang xem bài viết Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100