Xem Nhiều 5/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 2 # Top Trend

Xem 11,088

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ứng Dụng Công Nghệ Trong Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 2 mới nhất ngày 26/05/2022 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 11,088 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Dành Cho Gia Sư: Tất Tần Tật Kinh Nghiệm Dạy Kèm Môn Tiếng Việt Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tiếng Việt Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Kinh Nghiệm Dạy Tiếng Việt Lớp 2
  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Cách Dạy Học Sinh Lớp 2 Cho Gia Sư Và Phụ Huynh
  • Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Ngày nay công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công

    nghệ thông tin được đưa vào tất cả các lĩnh vực. Cùng với sự đi lên của xã hội,

    ngành giáo dục cũng đã nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy

    học. Đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào giảng dạy, học tập làm thay đổi

    mạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy và học. Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo

    yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả

    các cấp học, bậc học, ngành học. Xem công nghệ thông tin như là một công cụ

    hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học.

    Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục và Sở giáo dục, nhận

    thức được rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đổi mới

    phương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất

    trong việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã tích cực học tập và đưa công

    nghệ thông tin vào giảng dạy trong năm học 2022 – 2022.

    Nhận thức được vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong

    giảng dạy, tôi đã đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều môn học. Đặc

    biệt là môn Tiếng Việt, tôi đã thiết kế được nhiều giáo án điện tử để đưa vào

    giảng dạy. Qua quá trình soạn giáo án và giảng dạy, tôi đã đúc kết được một số

    kinh nghiệm. Vì vậy tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng công nghệ

    thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2.”

    II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    1. Mục đích:

    * Giáo viên:

    – Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt.

    – Tìm ra biện pháp khắc phục các tồn tại, khó khăn trong quá trình giảng

    dạy, điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh.

    – Tự học nâng cao trình độ tin học, nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT.

    * Học sinh:

    – Hình thành kĩ năng học cho học sinh, phát triển tư duy sáng tạo.

    1/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    – Rèn các phẩm chất cần thiết trong học tập cho học sinh.

    – Yêu con người, thiên nhiên, quê hương, đất nước qua các bài học.

    2. Nhiệm vụ:

    – Bước 1: Tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin vào môn Tiếng Việt lớp 2

    – Bước 2: Tìm hiểu thực trạng khi đưa các bài giảng điện tử vào giảng dạy.

    – Bước 3: Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong

    dạy học.

    – Bước 4: Tìm một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học khi đưa ứng

    dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2 góp phần nâng

    cao hiệu quả dạy học.

    – Bước 5: Xác định tính thực thi và hiệu quả của việc dạy học môn Tiếng Việt.

    – Bước 6: Đề xuất các biện pháp trong dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 2.

    III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

    – Thực nghiệm trong chương trình môn Tiếng Việt Lớp 2

    – Sử dụng bài giảng điện tử trong môn Tiếng Việt Lớp 2

    – Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 2

    IV. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

    Thời gian nghiên cứu đề tài là năm học 2022 – 2022

    ( Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022)

    – Tháng 9: Khảo sát tình hình thực tế tại lớp.

    – Từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022: thực hiện các nội dung của đề tài

    – Tháng 5 năm 2022 hoàn thiện đề tài.

    V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    – Phương pháp điều tra – khảo sát: Kiểm tra khảo sát, tìm hiểu thực trạng

    dạy và học Tiếng Việt lớp 2

    – Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu, các thông tin để so sánh.

    – Phương pháp phân tích tổng hợp: Đối chứng, phân tích các kết quả bằng

    số liệu thống kê.

    – Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy trong các tiết học, dạy thực

    nghiệm áp dụng biện pháp trong các giờ dạy để nâng cao chất lượng dạy học.

    – Phương pháp kiểm tra đánh giá: Tổng kết, đánh giá kết quả đạt được và

    những bài học kinh nghiệm.

    2/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    B. NỘI DUNG

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

    THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Nhận thức của học sinh lớp 2 hiệu quả nhất là con đường trực quan sinh

    động. Bởi vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy.

    Đặc biệt là phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của

    học sinh. Trong những tiết học có đồ dùng trực quan đẹp, học sinh sẽ chú ý đến

    bài giảng hơn và kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn.

    Đối với môn Tiếng Việt, tranh ảnh đồ dùng dạy học Tiếng Việt còn rất

    hạn chế hoặc có thì lại bé, học sinh sẽ không quan sát rõ và sự tập trung cốt

    lõi của bài học còn hạn chế. Thế nhưng, những tranh ảnh, đồ dùng của môn

    Tiếng Việt được tôi áp dụng soạn giảng bằng giáo án điện tử, khi đưa lên màn

    hình trình chiếu với sự nhấn mạnh bằng cách hiệu ứng tranh thay đổi, chữ đổi

    màu hay gạch chân… thì mức độ tập trung của học sinh sẽ cao hơn đồng thời

    nắm bắt được cốt lõi của nội dung bài học hơn.

    Trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc lấy học sinh làm

    trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúp

    các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Chính vì vậy mà việc

    đưa ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến phần mềm và tích hợp phần mềm

    để soạn giáo án điện tử vào giảng dạy “môn Tiếng Việt nói riêng và các môn

    học khác nói chung là cần thiết”

    1. Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu

    Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một phương pháp khá tích

    cực, đặc biệt là đối với môn Tiếng Việt. Qua các bài giảng đã truyền thụ đến học

    sinh, tôi nhận thấy ở các em niềm say mê và hứng thú học tập. Hình ảnh trực

    quan sinh động, cụ thể giúp học sinh nhớ bài lâu hơn, giờ dạy của giáo viên nhẹ

    3/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    1. Khảo sát thực tế

    a. Giáo viên:

    + Thuận lợi:

    Bản thân giáo viên luôn phấn đấu, có lòng yêu nghề mến trẻ, tận tụy với

    học sinh, tích cực thực hiện mục tiêu nhà trường đề ra. Nắm bắt phương pháp

    giảng dạy và vận dụng sáng tạo.

    Có rất nhiều tài liệu, tư liệu phục vụ cho việc soạn giảng như: tải hình

    ảnh, thông tin, bài giảng tham khảo…từ mạng Internet.

    Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, giáo viên thường xuyên

    được bồi dưỡng, trau dồi chuyên môn qua công tác dự giờ, kiểm tra, chuyên đề,

    tạo mọi điều kiện hỗ trợ giúp giáo viên giảng dạy tốt… Nhà trường luôn khuyến

    4/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    khích giáo viên giảng dạy bằng phương tiện công nghệ thông tin để giúp học

    sinh hứng thú học tập trước phương pháp mới.

    Sau khi giảng dạy trên lớp, bài giảng của giáo viên được lưu giữ vào kho

    bài giảng của nhà trường, tạo điều kiện cho giáo viên có thể tham khảo, sửa đổi

    hoặc bổ sung giáo án sau phần rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn, giảng dạy ở

    nhiều năm tiếp theo.

    + Khó khăn:

    Nhiều giáo viên trình độ tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các

    phương tiện hỗ trợ còn hạn chế. Giáo viên Tiểu học được trang bị kiến thức dạy

    rất nhiều môn học nên điều kiện nghiên cứu chuyên sâu về một môn học nào đó

    còn hạn chế.

    Sách giáo khoa mới dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin. Phương pháp

    dạy học truyền thống đã chiếm lĩnh một thời gian dài. Nó đi sâu vào tiềm thức

    và thói quen dạy học của người giáo viên. Vì vậy để đưa công nghệ thông tin

    vào giảng dạy là cả một quá trình đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, say mê,

    tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi học hỏi, sáng tạo trong quá trình dạy học.

    Thực tế, khi làm một bài giảng điện tử phải bỏ rất nhiều thời gian công

    sức tìm tài liệu, nghiên cứu phương pháp sao cho có một bài giảng hay thu hút

    học sinh học tập nên phần lớn giáo viên còn ngại.

    Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho

    việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế. Điều này

    chưa thật sự phát huy hết khả năng của việc đưa công nghệ thông tin vào giảng

    dạy.

    b. Học sinh:

    Về phía học sinh, có những thuận lợi và khó khăn nhất định.Các em học

    sinh Lớp 2 còn chưa có ý thức nhiều trong việc học tập. Vì thế đa số các em còn

    chưa có phương pháp học tập, thích chơi đùa, thích nghe kể chuyện, vừa học

    vừa chơi.

    * Thuận lợi:

    – Đối với học sinh tiểu học, khi được tiếp nhận công nghệ thông tin trong

    tiết học các em thấy thích thú, hưng phấn học tập vì tranh ảnh to, màu sắc đẹp,

    5/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    mẫu chữ rõ ràng. Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, nhớ bài lâu

    hơn.

    * Khó khăn:

    Do học sinh mới được tiếp cận với giáo án điện tử nên các em có phần lạ

    lẫm. Vì thế một số em tò mò, tập trung nhiều vào tranh ảnh, màu sắc mà sao nhã

    vệc tiếp thu bài.

    2. Kết quả khảo sát

    Qua kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt, số lượng học

    sinh học tốt môn Tiếng Việt còn ít. Đặc biệt kĩ năng đọc, viết còn có nhiều hạn

    chế thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

    Tổng số

    39

    Điểm 9-10

    Điểm 7-8

    Điểm 5-6

    Điểm dưới 5

    SL

    SL

    SL

    SL

    12

    30.7

    10

    25.6

    13

    33.5

    4

    10.2

    6/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    – Đảm bảo tính vừa sức: Phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, sử

    dụng phương tiện đúng lúc, đúng chỗ.

    – Đảm bảo tính hiệu quả: Nâng cao chất lượng giờ dạy.

    – Đảm bảo tính thẩm mĩ cao: Tránh lạm dụng hình ảnh, ánh sáng, màu sắc

    lòe loẹt trong các nội dung trình chiếu.

    – Chỉ đưa những kiến thức trọng tâm của bài vào Slide.

    Đối với môn Tiếng Việt, mỗi bài học hay mỗi tranh ảnh đẹp được đưa lên

    màn hình lớn sẽ giúp học sinh chú ý hơn, những từ ngữ trọng tâm trong bài ta có

    thể đổi màu hoặc gạch chân sẽ giúp học sinh hiểu bài hơn, từ đó giảng bài một

    cách dễ dàng, giúp học sinh dễ hiểu và làm bài tốt hơn…

    – Những kiến thức cần nhấn mạnh thì nên chọn hiệu ứng đổi màu hoặc

    gạch chân chứ không nên chọn hiệu ứng quá sinh động làm cho học sinh chỉ chú

    ý xem, không chú ý đến kiến thức của bài.

    – Chọn phông chữ, màu chữ, phông nền, màu nền cho phù hợp. Không

    nên chọn màu sắc tối, nhợt nhạt sẽ không gây được sự chú ý của học sinh, cũng

    không nên chọn màu sắc quá lòe loẹt hoặc quá nhiều màu sắc trong một Slide

    nhìn sẽ rối mắt.

    – Hiệu ứng chuyển trang cũng nên chọn cho phù hợp, không nên chọn

    hiệu ứng quá nhanh hay quá chậm hoặc quá sống động ảnh hưởng đến sự tập

    trung vào bài học của học sinh.

    II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

    Ngay từ đầu tôi đã hệ thống toàn bộ nội dung các tiết học môn Tiếng Việt

    ở lớp 2. Phân loại các dạng bài dạy trong chương trình theo từng phân môn, tìm

    hiểu mục đích mà học sinh cần đạt được trong mỗi tiết đó và tìm ra biện pháp

    dạy học phù hợp.

    1. Nội dung học:

    * Chương trình Tiếng Việt lớp 2 được chia thành các phân môn sau:

    – Phân môn Tập đọc

    – Phân môn Tập viết

    – Phân môn Chính tả

    – Phân môn Kể chuyện

    – Phân môn Luyện từ và câu

    – Phân môn Tập làm văn

    8/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    2. Thời lượng

    Thời lượng dành cho môn Tiếng Việt khá nhiều. Mỗi tuần học có: 2 tiết

    tập đọc, 2 tiết chính tả, 1 tiết luyện từ và câu, 1 tiết tập viết, 1 tiết kể chuyện và 1

    tiết tập làm văn.

    CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    I. Những biện pháp chung ( 5 biện pháp)

    1. Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt

    2. Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt

    động học tập của học sinh trong giờ học.

    3. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng bài soạn và bài dạy của giáo viên

    4. Biện pháp 4: Tăng cường việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học

    Tiếng Việt

    5. Biện pháp 5: Tổ chức các cuộc thi qua môn Tiếng Việt

    II. BIỆN PHÁP TỪNG PHẦN

    1. Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt

    Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình chuyển từ giáo dục truyền thụ

    một chiều, học tập thụ động. Chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử

    sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng đến hình thành năng lực tự

    học cho HS dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên.

    Đổi mới các hình thức dạy học, làm cho việc học tập của HS trở nên lí

    thú, gắn với thực tiễn cuộc sống; kết hợp dạy cá nhân với dạy theo nhóm nhỏ,

    tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau.

    Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, người giáo viên cần

    nắm chắc nội dung chương trình đổi mới sách giáo khoa Tiếng Việt năm 2000

    của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phân dạng các bài học theo nội dung để có phương

    pháp dạy học phù hợp với từng loại bài cụ thể.

    1.1. Phân môn Tập đọc

    – Phân môn tập đọc học sinh được luyện đọc cả bài văn hay bài thơ theo

    câu, theo đoạn và cả bài, mang tính chất tổng hợp hơn về cả kiến thức và kĩ năng

    9/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    đọc. Vì vậy rất khó khăn trong việc tổ chức luyện đọc theo câu, theo đoạn. Đặc

    biệt là những bài tập đọc có nội dung dài.

    – Khi trình chiếu một bài tập đọc giúp các em tập trung chú ý hơn. Các em

    được quan sát bài đọc, được nghe hướng dẫn cách đọc, cách chia câu, chia đoạn

    để chủ động đọc.

    * Cụ thể: Tuần 8, khi dạy bài tập đọc: Bàn tay dịu dàng

    LuyÖn

    ®äc ®o¹n

    – Kết quả: Đối với giáo viên, việc tổ chức luyện đọc và rèn các kĩ năng đọc

    dễ dàng hơn. Đối với học sinh, các em chú ý học và biết cách đọc tốt hơn. Tiết

    học diễn ra nhẹ nhàng và thực sự hiệu quả.

    1.2. Phân môn chính tả

    – Khi dạy phân môn này học sinh gặp khó khăn trong việc trình bày bài.

    Mỗi bài chính tả là một bài văn hay bài thơ. Mỗi thể thơ có cách trình bày riêng.

    trong đoạn văn có những câu đối thoại khó trình bày đúng. Việc viết mẫu trên

    bảng lớp đôi khi do vội vàng, giáo viên viết chưa được đẹp hoặc là rất mất thời

    gian cho sự chuẩn bị. Nếu giáo viên chỉ phân tích bằng lời thì nhiều em vẫn

    chưa hiểu được dẫn tới trình bày không đúng, hiệu quả bài viết chưa cao.

    – Khi trình chiếu một bài mẫu sẽ giúp các em dễ dàng định hình cách trình

    bày . Vì vậy khi sử dụng giáo án điện tử tôi cho các em quan sát cách trình bày

    10/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    bài mẫu, phân tích cách trình bày bài. Từ đó học tập được cách trình bài và cố

    gắng viết đẹp như bài mẫu.

    * Cụ thể: Ở tuần 14: Chép bài: Câu chuyện bó đũa

    11/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    1.4. Phân môn Tập viết:

    – Đối với phương pháp truyền thống, khi dạy phân môn này giáo viên

    phân tích và viết mẫu trên bảng lớp đôi khi do vội vàng, giáo viên viết chưa

    được đẹp hoặc là rất mất thời gian cho sự chuẩn bị. Khi hướng dẫn học sinh có

    12/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    một số em ở góc phía giáo viên đứng bị che khuất tầm nhìn rất khó quan sát vì

    thế hiệu quả tiết dạy chưa cao.

    – Khi sử dụng giáo án điện tử tôi thiết kế phần chữ viết trên máy tính. Khi

    trình chiếu học sinh quan sát rất rõ từ điểm đặt bút, điểm dừng bút đến quy trình

    viết. Tôi cũng có thể đưa thêm các bài viết đẹp của học sinh lớp trước để học

    sinh học tập, phấn đấu.

    * Cụ thể: Tuần 26: Tập viết: Chữ hoa X

    – Học sinh nắm rõ quy trình viết, học sinh viết đẹp và đúng mẫu hơn. Có

    mục tiêu phấn đấu nên hiệu quả tiết dạy rất cao.

    1.5. Phân môn Luyện từ và câu:

    Trọng tâm dạy luyện từ và câu ở lớp 2 là giúp các em có một vốn từ ngữ

    phong phú. Việc đưa tranh ảnh và khai thác tranh ảnh để giúp các em dễ dàng

    hiểu rõ hơn nghĩa của các từ, giúp các em mở rộng thêm vốn từ một cách tự

    nhiên, sinh động hơn.

    Vốn sống của các em còn ít, nhiều sự vật tưởng chừng như rất đơn giản

    nhưng các em chưa biết dùng các từ để gọi tên các sự vật đó hoặc chưa hiểu hết

    nghĩa của các từ đó.

    Ví dụ: Tuần 16: Khi dạy bài Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Từ

    ngữ về vật nuôi.

    13/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Sau khi cho học sinh quan sát về vật nuôi, học sinh sẽ biết phân biệt và

    gọi tên chính xác tên các con vật trong tranh: gà, vịt, ngan, ngỗng, thỏ, trâu, đàn

    bò, …

    Bằng hệ thống tranh ảnh đẹp do GV sưu tầm mất nhiều thời gian nhưng

    được lưu trữ trên máy gọn nhẹ và mang lại hiệu quả cao. Khi mở rộng vốn từ

    cho HS không phải chỉ nêu được các sự vật, tên gọi các sự vật, tên gọi của từ mà

    còn phải khai thác để hiểu hết nghĩa của từ và những bản chất thuộc tính của sự

    vật đó. Bằng một số câu hỏi gợi mở tạo ra hứng thú tò mò, thích khám phá thêm

    các sự vật khác.. Bằng cách quan sát trực tiếp: Đây cũng là một cách để HS

    được tiếp cận kiến thức một cách nhanh chóng, ghi nhớ lâu và chính xác.

    1.6. Phân môn Tập làm văn:

    Với phân môn Tập làm văn ở lớp 2, viết những đoạn văn ngắn kể về

    người thân, cây cối, con vật,… Thực tế trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy

    rằng nhiều em còn lúng túng khi sử dụng từ và đặt câu. Kĩ năng nói, viết và diễn

    đạt câu còn yếu. Các em thường viết văn theo cách dập khuôn, máy móc, chắp

    vvá, khô khan. Học sinh thường tiếp thu bài một cách gượng ép, thụ động và

    không hứng thú khi học phân môn này.

    Nếu không có các biện pháp tổ chức phù hợp để gây hứng thú cho học

    sinh thì các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách cứng nhắc, nhiều lần sẽ gây nhàm

    chán, mất tập trung.

    14/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Muốn bài viết của các em đạt yêu cầu, thầy cô phải là người khơi dậy

    trong các em những vốn sống mà trẻ đã tích luỹ được từ thực tế và mở ra cho

    các em những góc nhìn mà các em chưa từng thấy…

    Ví dụ: Trước khi viết đoạn văn ngắn kể về cây bóng mát, tôi cho học sinh

    tham quan qua màn ảnh nhỏ một số hình ảnh về một số loài cây bóng mát.

    Sau khi được quan sát các loại cây, HS biết cách dùng từ chính xác hơn

    để mô tả, diễn đạt câu đầy đủ, rõ ràng để trả lời các câu hỏi gợi ý

    – Trong tranh (ảnh) là cây gì? Cây đó trồng ở nơi nào?

    – Cây có gì đẹp? Các bộ phận của cây như thế nào? Cách chăm sóc cây ra

    sao?

    – Em có suy nghĩ gì về cây?

    Ví dụ: Cây bàng ngoài sân…..(Học sinh có thể tìm được các từ để nói tiếp

    như : râm mát, xòe tán rộng đứng sừng sững, đang đâm chồi,,…)

    Tôi nhận thấy học sinh rất thích kể theo quan sát của mình. Đây là cách

    phát huy tính tích cực, sáng tạo. Bước đầu đã biết dùng các từ gợi tả, gợi cảm,

    từ ngữ “đắt” gây bất ngờ thú vị, những câu văn hay và giàu hình ảnh. Tạo điều

    kiện cho mỗi em được tự do sáng tạo kể theo cách nhìn của mình. Tôi luôn tôn

    trọng sự sáng tạo trong câu trả lời của c¸c em kh”ng gß Ðp, khu”n mÉu. Biết

    diễn đạt bằng lời thành câu ngắn gọn, rõ ý, kết nối thành một đoạn văn ngắn.

    15/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Cùng với lời nhận xét khen, động viên các em, kết quả học sinh thực sự

    thích thú khi học tiết học này. Đồng thời qua đó, giáo viên có thể phát hiện ra

    những học sinh học tốt và có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển mũi

    nhọn.

    Ngoài ra giáo viên cần quan tâm chú ý việc chấm, chữa, nhận xét bài văn

    để chữa lỗi dùng từ, đặt câu cho HS. Đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các em

    còn rất hạn chế, việc tìm và sử dụng từ còn lúng túng và dùng từ đặt câu chưa

    chính xác. Một số em viết và nói còn tuỳ tiện, dùng từ sai, diễn đạt lủng củng,

    câu cộc lốc khô khan, không biết sử dụng các câu có hình ảnh gợi tả, gợi

    cảm, ,… giáo viên dễ dàng hơn khi sửa chữa kịp thời cho học sinh.

    Sau nhiều tuần rèn cho học sinh các kĩ năng trên, bài viết của đa số các em

    đã tiến bộ rất nhiều. Rèn được kĩ năng này, các em sẽ tự tin viết văn khi tránh

    được lối diễn đạt lủng củng, rườm rà, lặp ý. Có như vậy bài văn của các em sẽ

    mạch lạc, trong sáng, mang tính chân thực.

    2. Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt

    động học tập của học sinh trong giờ học .

    Để hoạt động dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của

    học sinh người giáo viên cần:

    a. Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập.

    Đầu giờ học, hoặc đầu mỗi phần của bài học, bằng nhiều phương pháp

    khác nhau, giáo viên nêu vấn đề (câu hỏi) hướng dẫn học sinh vào vấn đề cần

    giải quyết. Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt,

    phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau:

    – Lời dẫn phải xúc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh.

    – Phải đề cập đến cốt lõi của bài học.

    – Tạo ấn tượng, trí tò mò của học sinh.

    b. Sử dụng trực quan hợp lí

    Đồ dùng dạy học góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng,

    tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. Trực quan có tác dụng minh hoạ cho bài giảng

    và nó làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, góp phần tạo biểu tượng, cụ

    thể hoá SGK cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức. Trực quan là các yếu tố có khả

    năng tác động đến tất cả các giác quan của học sinh trong giờ học. Trực quan

    16/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Ngoài việc sử dụng tranh ảnh thật, việc trình chiếu những đoạn video clip

    có hình ảnh động, gần gũi hấp dẫn giúp học sinh tích cực tiếp thu bài. Với những

    bài dạy có hình sống động, gần gũi hấp dẫn được học sinh rất yêu thích. Giúp các

    em có điều kiện tìm tòi, khám phá thêm những điều lí thú, chưa biết về các con

    vật nuôi trong nhà quen thuộc, các con vật hoang dã mà các em ít được biết.

    17/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Một trong những hình ảnh được trình chiếu mà học sinh yêu thích

    – Bản thân người thầy là một trực quan sinh động trong giờ học, nó được thể

    hiện qua giọng đọc, cách thể hiện bài giảng( trực quan âm thanh), cách dẫn dắt vào

    bài, cử chỉ điệu bộ, thái độ tình cảm khi giảng bài…cách vào bài, chuyển ý hấp dẫn

    sẽ lôi kéo người học tìm hiểu nội dung bài.

    – Trực quan có rất nhiều nhưng chúng ta cần sử dụng trực quan như thế nào

    đem lại hiệu quả tối ưu nhất, đó là vấn đề mà các nhà giáo chúng ta cần lưu tâm.

    Việc sử dụng đồ dùng trực quan hình ảnh( như tranh ảnh, vật mẫu,…) cần đúng

    lúc, đúng chỗ, để làm nổi bật những gì giáo viên cần tác động đến học sinh.

    Ví dụ : Tập đọc: Câu chuyện bó đũa

    18/ 28

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

    thống câu hỏi phù hợp và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học cho phù hợp

    với cách giải quyết mục đích ấy.

    VD: Tiết 16: Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Từ ngữ về vật nuôi.

    * Mục đích yêu cầu của bài học

    – Bước đầu tìm được từ trái nghĩa với từ cho trước (BT1); Biết đặt câu với

    mỗi từ trong cặp từ trái nghĩa tìm được theo mẫu: Ai thế nào?(BT2).

    – Nêu đúng tên các con vật được vẽ trong tranh (BT3).

    – Ham thích môn học, yêu quý các con nuôi trong nhà.

    * Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy

    học cho phù hợp.

    BÀI TẬP 3:

    – Mục tiêu là nêu đúng tên các con vật được vẽ trong tranh

    + Nhiệm vụ của các em là quan sát trong phim có những con vật nào?

    + Các em vừa được xem xong đoạn phim, vậy trong phim có những con vật

    nào?

    – Phương án a) gà, vịt, ngan, ngỗng

    – Phương án b) gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu, cừu, lợn, trâu, bò

    – Phương án c) lợn, bò và bê, trâu, bò, voi

    – Vì vậy để nâng cao hiệu quả giờ dạy, giáo viên cần xác định được mục

    đích của bài lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để đạt kết quả

    cao nhất.

    20/ 28

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Dạy Toán Lớp 2
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 2
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 2 (Đầy Đủ)
  • Bàn Về Dạy Học Môn Tiếng Việt Ở Tiểu Học Theo Hướng Tiếp Cận Năng Lực
  • Kiến Thức Tiếng Việt Cơ Bản Cấp Tiểu Học
  • Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ứng Dụng Công Nghệ Trong Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 2 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100