Xem Nhiều 1/2023 #️ Người Thầy Của Dịch Tễ Học # Top 6 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 1/2023 # Người Thầy Của Dịch Tễ Học # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Người Thầy Của Dịch Tễ Học mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dịch tễ học là khoa học mấu chốt của y tế cộng đồng và y học dự phòng. Dịch tễ học hiện đại là khoa học mới của dịch tễ học trong những năm gần đây. Dịch tễ học lâm sàng là nền tảng cho y học lâm sàng hiện đại. Nhà giáo nhân dân chúng tôi Dương Ðình Thiện là người đầu tiên đã đưa các khoa học này giảng dạy và phổ cập tại nước ta.

GS. TS. Dương Đình Thiện sinh năm 1932 tại vùng quê Hưng Yên, thời đi học đã sớm phải vượt khó trong cuộc sống bằng việc dạy học cho con em các gia đình khá giả và các công việc lao động khác. Đời sống vất vả, khó khăn nhưng anh vẫn luôn học giỏi. Năm 1954, Thủ đô Hà Nội giải phóng, anh là sinh viên y khoa năm thứ nhất của Trường đại học Y Dược khoa.

Bác sĩ dịch tễ – Chuyên khoa mới và khó

Tốt nghiệp đại học năm 1960, bác sĩ Dương Đình Thiện cùng hai bạn đồng khóa được tuyển là giảng viên Bộ môn Vệ sinh dịch tễ của nhà trường, một môn học quan trọng và cần thiết nhưng các bác sĩ và sinh viên thời đó phải học vì nhiệm vụ, theo sự phân công của tổ chức. Theo gương thầy Hoàng Tích Mịnh – Chủ nhiệm Bộ môn, đã từng đi du học y khoa – ngành vệ sinh học tại Pháp, không nhằm trở thành quan đốc-tờ khám chữa bệnh để dễ kiếm tiền.

Thầy tốt nghiệp năm 1934 và trở về nước để phục vụ nhân dân mình. Thầy Chủ nhiệm phân công anh đi chuyên ngành dịch tễ học, một chuyên khoa mới mà thuở ban đầu có rất ít tài liệu. Bác sĩ Dương Đình Thiện yên tâm với chuyên ngành, miệt mài học tập – lặng lẽ, kiên trì và quyết liệt, để chiếm lĩnh những tri thức khoa học cần thiết cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

GS. Dương Đình Thiện (bên phải) tại buổi lễ Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân tại Văn Miếu (tháng 11/2008).

Từ hai cuốn sách bằng tiếng Pháp và tiếng Nga kết hợp giữa lý thuyết của sách và thực tiễn bệnh học Việt Nam, một đất nước có khí hậu nóng ẩm, kinh tế chưa phát triển, có nhiều bệnh tật, ông đã biên soạn hàng trăm trang giáo trình lý thuyết và các kỹ năng phòng chống dịch. 2 năm sau, năm 1962, bác sĩ Dương Đình Thiện biên soạn xong cuốn sách Bài giảng Dịch tễ học và một năm sau ông biên soạn cuốn Dịch tễ học đại cương, và tiếp theo là cuốn Dịch tễ học từng bệnh.

Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật trong các cộng đồng và tạo nền tảng cho những kế hoạch y tế trong việc chữa trị và phòng ngừa bệnh tật. Dịch tễ học giúp chuyên viên y tế xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh, phát triển và tối ưu hóa phương thức điều trị của y học lâm sàng. Đó là các cuốn sách giáo khoa dành cho sinh viên năm thứ 5 các trường đại học y của cả nước trong gần 50 năm qua.

Trong nhiều năm qua, lớp lớp bác sĩ học trò của ông, được trang bị những kiến thức vệ sinh và dịch tễ ở Trường đại học Y vững vàng công tác tại các trạm vệ sinh phòng dịch các tỉnh, đã hoạt động có hiệu quả, dập tắt nhanh các vụ dịch tại địa phương. Với nhiệm vụ trưởng hoặc phó đoàn các đoàn chống dịch của Bộ Y tế, bác sĩ Thiện thường xuyên cùng các học trò là các bác sĩ trẻ, sinh viên các năm cuối, xông pha các nơi phòng chống dịch với nhiều thành công. Ông không quan ngại việc phải tiếp xúc với các ổ dịch nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo.

Người triển khai khoa học dịch tễ học hiện đại ở Việt Nam

Sau 20 năm giảng dạy và làm việc với thực tế phòng chống các bệnh truyền nhiễm, như đã ngăn chặn thành công dịch tả ở Quảng Bình trong khi bên kia vĩ tuyến 17 Mỹ ngụy chiếm đóng luôn có dịch tả hoành hành, hay tham gia phòng chống thành công bệnh dịch hạch tại Nha Trang, Khánh Hòa và nhiều vụ dịch khác tại các địa phương. Bác sĩ Thiện trong những đợt đi công tác tại nước ngoài, được tiếp cận với những thay đổi và phát triển của dịch tễ học thế giới, hình thành một khoa học mới: dịch tễ học hiện đại. Ông đã tâm huyết viết cuốn sách Dịch tễ học hiện đại và đã đưa vào chương trình giảng dạy tại Trường đại học Y Hà Nội và các trường đại học y trong cả nước.

Bác sĩ Thiện tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các cán bộ các trường đại học và các cán bộ y tế các địa phương về dịch tễ học hiện đại, nhằm đưa khoa học này nhanh chóng được phát triển ở nước ta. Từ đó giúp cho cán bộ ngành y tế nước ta dễ dàng hòa nhập với trình độ khoa học y học khác, lấy dịch tễ học hiện đại làm nòng cốt mà các chuyên gia nước ngoài sau này sang giúp đỡ nước ta đã đề cập đến trong quá trình hội nhập về nhiều khía cạnh y tế khác nhau.

Người thầy về dịch tễ học lâm sàng tại Việt Nam

Năm 1986-1987, bác sĩ Dương Đình Thiện được cử đi học tập và công tác tại nước ngoài. Ông nhận thấy có những vấn đề mới, dịch tễ học đã được vận dụng tốt vào y học lâm sàng và có những kết quả nổi bật. Nhiều nước đã bắt đầu xây dựng một bộ phận rất quan trọng của dịch tễ học hiện đại là khoa học dịch tễ học lâm sàng.

Ở Việt Nam, khoa học dịch tễ học hiện đại vừa mới được tiếp cận và triển khai trong khó khăn, nhưng để theo kịp với trình độ dịch tễ học lâm sàng thế giới, bác sĩ Thiện đã cố học tập, sưu tầm, tập hợp nhiều tài liệu của các nước Âu Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhà dịch tễ học lâm sàng các nước tiên tiến để nắm bắt được những vấn đề cốt lõi của môn khoa học này.

Trở về nước, với cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Dịch tễ, ông miệt mài tiếp tục viết sách giáo khoa về dịch tễ học lâm sàng. Ông đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, đưa nhiều danh từ chuyên môn mới từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng Việt tương đối chính xác.

Nội dung sách đã chỉ ra rằng dịch tễ học lâm sàng là một trong những khoa học cơ bản làm nền móng cho y học lâm sàng hiện đại. Trước kia các thầy phải mất nhiều năm mới đúc kết được các kinh nghiệm để chẩn đoán bệnh, ngày nay các thầy thuốc trẻ nếu áp dụng lý thuyết và thực hành dịch tễ học lâm sàng sẽ sớm trở thành bác sĩ giỏi, đưa ra được việc chẩn đoán bệnh điển hình để xác định bệnh, đưa ra các yêu cầu xét nghiệm thật cần thiết để rồi có các chỉ định thuốc điều trị hợp lý.

GS. Dương Đình Thiện tại lớp Tập huấn về ứng dụng dịch tễ học và thống kê trong nghiên cứu khoa học tại Tây Nguyên.

Môn dịch tễ học lâm sàng mới phát triển trong những năm gần đây nhưng đã nhanh chóng được y học các nước trên thế giới trong đó có các nước đang phát triển đón nhận và quan tâm, nhất là các thầy thuốc lâm sàng. Cho đến nay người ta đã coi dịch tễ lâm sàng là một môn học cơ sở của y học lâm sàng.

Để phổ biến rộng rãi các kiến thức chuyên ngành, ông đã thành lập Trung tâm Dịch tễ học lâm sàng đặt tại Trường đại học Y Hà Nội để tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn qua các dự án, và sự quan tâm đầu tư của Bộ Y tế. Từ trung tâm, nhiều lớp đào tạo lại được tổ chức tại các tỉnh cho anh chị em bác sĩ các địa phương. Trung tâm cũng mời được nhiều vị giáo sư nước ngoài tới Việt Nam để mở rộng hiểu biết về dịch tễ học lâm sàng cho cán bộ Y tế Việt Nam.

Hơn 50 năm làm thầy giáo, mang nhiều tâm huyết với chuyên ngành dịch tễ, ông mong muốn các cán bộ của ngành phải sớm tiếp thu và phát triển các lý thuyết về dịch tễ học và dịch tễ học lâm sàng tại Việt Nam. Ông nắm vững lý thuyết, cùng với một tri thức đầy ắp những kinh nghiệm thực tế tại nước ta, những buổi lên lớp ông giảng bài trên các giảng đường các trường đại học, hay tại các địa phương đầy hào hứng, hấp dẫn và sôi nổi.

Ông đã truyền được sự say mê nghề nghiệp cho các học trò và đồng nghiệp trẻ và rất đông học trò đã theo nghề của ông. Dịch tễ học là môn học chính khóa và dịch tễ học lâm sàng là một tín chỉ cần thiết cho các học viên sau đại học. Nhiều thế hệ thầy thuốc đã học ông, hoặc đọc sách của ông. Tất cả đều kính trọng và cảm mến ông về sự nghiêm túc trong giảng dạy, tính kỷ luật trong nghiên cứu, song lại thẳng thắn, vui vẻ, chan hòa đầy tình thương yêu trong đời thường.

Cũng như nhiều giáo sư, từ lâu GS. Dương Đình Thiện đã hình thành cho mình sự gắn kết giữa giảng dạy và nghiên cứu. Tính đến nay ông đã cho công bố nhiều công trình, đã hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh. Ông là chủ biên, là tác giả 7 cuốn sách giáo khoa đại học và sau đại học, là đồng tác giả trong 5 cuốn sách giáo khoa khác.

GS. Dương Đình Thiện hoàn thành luận án Tiến sĩ năm 1989, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 1991, Giáo sư năm 2003; được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân năm 2008 và Huân chương Lao động hạng Ba về những đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ông đã 80 tuổi, 50 năm tuổi nghề, vẫn phát huy vai trò của một người thầy đầu ngành, hiện đang tâm huyết triển khai chuyên đề mới về Thống kê dịch tễ học vào nước ta. Giáo sư Dương Đình Thiện là Chủ tịch Hội Y tế công cộng từ khi thành lập (2002) đến nay. Ông vẫn giảng dạy, hiện hướng dẫn luận án cho 2 nghiên cứu sinh và là cố vấn chuyên môn cho một số dự án lớn.

Dịch Tễ Học Là Gì?

Dịch tễ học là gì?

Thông điệp chính

Dịch tễ học là khoa học nền tảng của y tế công cộng.

Dịch tễ học đã có những đóng góp lớn vào việc cải thiện sức khoẻ cộng đồng.

Dịch tễ học là công cụ thiết yếu trong quá trình xác định và sắp xếp (mapping) các bệnh nổi trội.

Thường xuyên có tình trạng chậm chễ giữa việc thu thập các bằng chứng dịch tễ học và ứng dụng các bằng chứng này vào xây dựng chính sánh y tế.

Bối cảnh lịch sử

Nguồn gốc

Việc so sánh tỷ lệ mắc bệnh trong các nhóm quần thể người rất phổ biến vào cuối thể kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Cách tiếp cận này  ban đầu được ứng dụng vào việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm (xem Chương 7), và cũng được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để mô tả mối liên kết giữa các điều kiện hay tác nhân môi trường với các bệnh cụ thể. Vào nửa sau của thế kỷ hai mươi, đặc biệt là ở các nước có thu nhập cao hoặc trung bình, cách tiếp cận này này được áp dụng đối với các bệnh không lây mạn tính như bệnh tim, ung thư.

Các phát triển gần đây của dịch tễ học

Hộp 1.1. Quan sát sớm của dịch tễ học

John Snow đã xác định vị trí ngôi nhà của từng người tử vong do bệnh tả ở London vào giai đoạn 1848–49 và 1853–54 và nhận thấy một sự kết hợp rõ rệt giữa nguồn nước ăn với các trường hợp tử vong này. Ông đã so sánh các trường hợp tử vong của các quận có các nguồn cấp nước khác nhau (Bảng 1.1) và chỉ ra rằng, ở các quận do công ty Southwark cấp nước, số trường hợp tử vong và tỷ lệ tử vong đều cao hơn các quận khác. Dựa trên nghiên cứu tỉ mỉ của mình, Snow đã xây dựng được một lý thuyết về đường lây truyền của bệnh truyền nhiễm và gợi ý rằng bệnh tả đã lan truyền qua nước bị nhiễm bẩn. Ông khuyến khích việc nâng cao chất lượng nước cấp trong một khoảng thời gian dài trước khi tìm thấy vi khuẩn gây bệnh tả; nghiên cứu của ông đã có tác động trực tiếp và lâu dài đối với chính sách công cộng.

Nghiên cứu của John Snow nhắc nhở chúng ta rằng các biện pháp y tế công cộng chẳng hạn như cải thiện tình trạng cấp nước sạch và vệ sinh đã có những đóng góp to lớn vào việc tăng cường sức khoẻ cộng đồng và điều đó còn được thể hiện qua nhiều ví dụ cụ thể từ năm 1850, các nghiên cứu dịch tễ học được xác định như là các biện pháp phù hợp cần tiến hành. Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng, các vụ dịch tả vẫn còn phổ biến trong các quần thể nghèo, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Năm 2006, Angola báo cáo có 40.000 trường hợp mắc và 1600 trường hợp tử vong do tả, Sudan báo cáo có 13.852 trường hợp mắc dẫn đến 516 trường hợp tử vong chỉ trong vài tháng đầu năm.

Nghiên cứu thuần tập ở những bác sỹ người Anh cho thấy tỷ lệ tử vong giảm mạnh ở những người không hút thuốc trong nhiều thập kỷ sau này. Những bác sỹ nam giới sinh ra vào giai đoạn 1900–1930 mà hút thuốc, trung bình tử vong sớm hơn 10 năm so với những người không hút thuốc5 (Hình 1.2). 

Bảng 1.1. Tử vong do dịch tả ở các quận của London theo nguồn nước do 2 công ty cung cấp, từ 8/7 đến 26/8/1854.

Công ty cấp nước

Dân số năm 1851

Số tử vong do tả

Tỷ lệ tử vong do tả (trên 1000 dân)

Southwark

167.654

884

5,0

Lambeth

19.133

18

0.9

Định nghĩa, phạm vi và ứng dụng của dịch tễ học

Định nghĩa

Hình 1.1. Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi (trên 1000) trên số điếu thuốc4 của các bác sỹ nam giới người Anh, năm 1951– 1961.

Phạm vi 

Hình 1.2. Tỷ lệ sống sau tuổi 35 ở những bác sỹ người Anh tiếp tục hút thuốc và không hút thuốc sinh trong khoảng năm 1900–1930 tại từng thời điểm 10 năm một5

Hộp 1.2. Định nghĩa dịch tễ học9

Từ “Dịch tễ học” có nguồn gốc từ tiếng Hylạp, trong đó, từ epi có nghĩa là “trên”, demos có nghĩa là “quần thể người” và logos có nghĩa là “nghiên cứu”.

Định nghĩa rộng này của dịch tễ học có thể được làm rõ hơn như sau :

Thuật ngữ

Giải thích

Nghiên cứu 

Bao gồm : giám sát, quan sát, kiểm định giả thuyết, nghiên cứu phân tích và thực nghiệm

Phân bố

Đề cập đến việc phân tích các yếu tố : thời gian, con người, nơi chốn. 

Yếu tố quyết định

Bao gồm các yếu tố ảnh hưởng lên sức khoẻ như sinh học, hoá học, lý học, xã hội, văn hoá, kinh tế, di truyền và hành vi.

Bao gồm : bệnh, các nguyên nhân tử vong, hành vi như hút thuốc, các trạng thái sức khoẻ tốt, phản ứng đối với các chế độ dự phòng và việc cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế.

Các quần thể định danh

Bao gồm những người có các đặc tính có thể phân biệt được, chẳng hạn như các nhóm nghề nghiệp khác nhau.

Ứng dụng   vào   việc phòng và kiểm soát

mục đích của y tế công cộng tăng cường, bảo vệ và phục hồi sức khoẻ.

Dịch tễ học và y tế công cộng

Y tế công cộng, nói chung, đề cập đến các hành động mang tính tập thể nhằm cải thiện sức khoẻ của quần thể.1 Dịch tễ học, một trong các công cụ tăng cường sức khoẻ, được sử dụng theo nhiều cách khác nhau (Hình 1.3–1.6). Các nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực dịch tễ học thường quan tâm đến nguyên nhân (bệnh căn) của các bệnh truyền nhiễm và công việc này vẫn có ý nghĩa quan trọng để xác định được các biện pháp phòng ngừa. Theo nghĩa này, dịch tễ học là khoa học y học cơ bản với mục đích cải thiện sức khoẻ quần thể, đặc biệt sức khoẻ của những quần thể chịu thiệt thòi. 

Nguyên nhân gây bệnh

Lịch sử tự nhiên của bệnh

Dịch tễ học cũng quan tâm đến quá trình phát triển và hậu quả bệnh (lịch sử tự nhiên) ở các cấp độ cá nhân và nhóm (Hình 1.4).

Hình 1.3. Căn nguyên

 Hình 1.4. Lịch sử tự nhiên

Tình trạng sức khoẻ của quần thể

Dịch tễ học thường được sử dụng để mô tả tình trạng sức khoẻ của các nhóm quần thể (Hình 1.5). Hiểu biết về gánh nặng bệnh tật trong quần thể đóng vai trò thiết yếu đối với các nhà lãnh đạo y tế, những người mong muốn sử dụng nguồn lực hạn chế để có thể mang lại hiệu quả cao nhất bằng cách xác định các chương trình sức khoẻ ưu tiên cho dự phòng và chăm sóc y tế. Trong một số lĩnh vực chuyên biệt, ví dụ dịch tễ học môi trường hay nghề nghiệp, dịch tễ học tập trung vào việc nghiên cứu những quần thể có các loại phơi nhiễm đặc thù.

Hình 1.5. Mô tả tình trạng sức khoẻ quần thể

Đánh giá can thiệp

Tác giả Archie Cochrane đã thuyết phục các nhà dịch tễ học đánh giá hiệu quả (effectiveness) và hiệu suất (efficiency) của các dịch vụ y tế (Hình 1.6).10 Việc này có nghĩa là xác định, ví dụ như tính phù hợp của giai đoạn nằm viện do một tình trạng nào đó, giá trị của việc điều trị bệnh cao huyết áp, hiệu suất của các biện pháp vệ sinh nhằm kiểm soát bệnh truyền nhiễm và tác động của việc giảm hàm lượng chì trong xăng (xem Chương 10).

Hình 1.6. Đánh giá can thiệp

Việc áp dụng các nguyên lý và phương pháp dịch tễ học vào các vấn đề đang phải đối mặt trong thực hành y học dẫn đến sự phát triển của dịch tễ học lâm sàng (xem Chương 8). Cũng theo xu hướng này, dịch tễ học đang mở rộng sang các lĩnh vực khác như dịch tễ học dược học, dịch tễ học phân tử, và dịch tễ học di truyền (Hộp 1.3).11

Hộp 1.3. Dịch tễ học phân tử và di truyền

Dịch tễ học phân tử đo lường phơi nhiễm với các chất cụ thể và các đáp ứng sinh học sớm thông qua:

Đánh giá các đặc tính của vật chủ đáp ứng với những tác nhân bên ngoài 

Sử dụng các chất chỉ thị sinh hóa của một tình trạng cụ thể nhằm hiệu chỉnh phân loại bệnh.

Dịch tễ học di truyền nghiên cứu căn nguyên, sự phân bố và kiểm soát bệnh trong các nhóm có quan hệ họ hàng và các nguyên nhân di truyền bệnh trong quần thể.

Nghiên cứu dịch tễ học di truyền trong các điều tra về gia đình hay quần thể để thiết lập: Yếu tố di truyền gây bệnh

Quy mô tác động của di truyền so với các yếu tố khác đến nguy cơ xuất hiện bệnh và  Các gien bệnh

Y tế công cộng di truyền bao gồm:

Các chương trình sàng lọc tại cộng đồng

Tổ chức và đánh giá các dịch vụ dành cho các bệnh nhân có rối loại về di truyền và Tác động của di truyền lên thực hành y học.

Thành tựu của dịch tễ học

Đậu mùa

Việc thanh toán bệnh đậu mùa trên thế giới là một thành tựu lớn lao góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnh phúc của hàng triệu người, nhất là ở những quần thể nghèo. Đậu mùa minh họa cả thành công lẫn thất vọng của y tế công cộng hiện đại. Từ những năm 1790 người ta đã biết rằng nhiễm khuẩn đậu bò sẽ góp phần bảo vệ chống virút đậu mùa, tuy nhiên phải mất gần 200 năm thì lợi ích của phát hiện này mới được chấp nhận và áp dụng trên toàn thế giới.

Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thực hiện chiến dịch mạnh mẽ nhằm loại bỏ đậu mùa trong nhiều năm. Dịch tễ học giữ vai trò trung tâm trong chiến dịch này bằng việc 

cung cấp thông tin về phân bố các trường hợp bệnh, mô hình, cơ chế và mức độ lan truyền bệnh, 

lập bản đồ các vụ dịch bệnh và 

đánh giá các biện pháp kiểm soát (Hộp 1.4). 

Sự thật cho thấy là không có những trường hợp vật chủ là động vật và số lượng những trường hợp nhiễm bệnh thứ cấp thấp. 

Khi chương trình thanh toán bệnh đậu mùa trong 10 năm do TCYTTG phát động vào năm 1967, thì mỗi năm có từ 10 – 15 triệu trường hợp mới và 2 triệu trường hợp tử vong ở 31 nước. Số nước có các trường hợp bệnh trong giai đoạn 1967 – 1976 giảm xuống nhanh chóng; đến năm 1976 chỉ có 2 nước báo cáo có bệnh đậu mùa và trường hợp xuất hiện bệnh đậu mùa tự nhiên cuối cùng được báo cáo trong năm 1977 ở một phụ nữ do phơi nhiễm với vius trong phòng thí nghiệm. Bệnh đậu mùa thông báo được thanh toán vào ngày 8 tháng 5 năm 1980.

Có nhiều yếu tố góp phần vào thành công của chương trình: sự cam kết chính trị toàn diện, mục đích rõ ràng, thời gian biểu chính xác, đội ngũ cán bộ được đào tạo tốt và chiến lược linh động. Thêm vào đó, bệnh có nhiều đặc điểm tạo thuận lợi cho việc thanh toán dứt điểm như sự sẵn có vaccine phòng bệnh đậu mùa. Năm 1979, TCYTTG đã duy trì một kho dự trữ vaccine đậu mùa đủ để tiêm chủng cho 200 triệu người. Kho dự trữ này đã dần dần giảm xuống còn khoảng 2,5 triệu liều. Nhưng mối quan ngại hiện nay về vấn đề sử dụng vũ khí sinh học đã khiến TCYTTG tiếp tục duy trì và đảm bảo lượng dữ trữ đầy đủ vaccine trong trường hợp cần thiết.14

Hộp 1.4. Các đặc điểm dịch tễ của bệnh đậu mùa12

Các phương pháp dịch tễ học được sử dụng để thiết lập các đặc tính sau đây của đậu mùa:

vật chủ duy nhất là người

không có vật trung chuyển có bệnh cảnh tiền lâm sàng

người khỏi bệnh sẽ miễn dịch và không có khả năng truyền bệnh.

đậu mùa mắc từ tự nhiên không lây truyền nhanh như các bệnh truyền nhiễm khác như sởi hay ho gà.

việc lây truyền bệnh, nói chung thông qua tiếp xúc lâu dài giữa người với người và • phần lớn bệnh nhân nằm liệt giường khi mắc bệnh, chính điều này đã làm hạn chế lây lan.

 Nhiễm độc Methyl thủy ngân

Thủy ngân là chất độc từ thời Trung Cổ, gần đây hơn thủy ngân trở thành biểu tượng của những mối hiểm hoạ ô nhiễm môi trường. Trong những năm 1950, hợp chất thuỷ ngân có trong nước thải của một nhà máy ở Minamata, Nhật Bản đổ vào một vịnh nhỏ (Hộp 1.5). Điều này đã dẫn đến sự tích lũy methyl thủy ngân trong cá gây ra nhiễm độc trầm trọng cho người.15

Đây là một vụ dịch nhiễm độc thuỷ ngân từ cá đầu tiên mà người ta được biết và việc xác định chính xác nguyên nhân phải diễn ra trong vài năm. Bệnh Minamata đã trở thành một trong những bệnh do môi trường được chứng minh tốt nhất bằng tư liệu. Vụ bùng nổ dịch thứ hai xảy ra trong những năm 1960 ở một khu vực khác của Nhật Bản. Từ đó đến nay các trường hợp nhiễm độc Methyl thuỷ ngân nhẹ hơn do cá cũng được ghi nhận ở một số nước.15, 16

Hộp 1.5. Bệnh Minamata

Dịch tễ học đã giữ một vai trò chủ chốt trong việc xác định nguyên nhân và kiểm soát của một trong những vụ dịch được báo cáo đầu tiên gây ra bởi ô nhiễm môi trường. Những trường hợp đầu tiên được cho là viêm màng não do nhiễm khuẩn. Tuy nhiên người ta quan sát thấy rằng 121 nạn nhân của bệnh này chủ yếu sống gần Vịnh Minamata. Điều tra tiến hành ở những người mắc bệnh và những người không mắc bệnh cho thấy các nạn nhân hầu hết là các thành viên của các gia đình có nghề chính là đánh cá. Những người đến thăm các gia đình này và các thành viên của những gia đình ăn ít cá thì không mắc bệnh. Vì vậy người ta đã đi đến kết luận rằng có cái gì đó trong cá gây ngộ độc cho người và bệnh không phải do lây truyền hay di truyền.

Sốt thấp tim và bệnh thấp tim

Hình 1.7. Ghi nhân về bệnh sốt thấp khớp ở Đan Mạch

Ngày nay bệnh gần như không còn xuất hiện ở các nước phát triển, mặc dù các ổ bệnh với tỷ lệ hiện mắc khá cao vẫn còn tồn tại ở các nhóm người thiệt thòi về kinh tế và xã hội. Ở nhiều nước đang phát triển, bệnh thấp tim là một trong những thể phổ biến nhất của bệnh tim.

Dịch tễ học đã góp phần vào hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân của sốt thấp tim và bệnh thấp tim và việc phát triển các biện pháp phòng ngừa bệnh thấp tim. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng đã nêu bật vai trò của các yếu tố kinh tế xã hội góp phần gây nên các vụ bùng nổ sốt thấp tim và sự lan truyền của nhiễm liên cầu khuẩn ở họng. Rõ ràng nguyên nhân gây các bệnh này phức tạp hơn nguyên nhân gây nhiễm độc Methyl thuỷ ngân, bệnh chỉ có một nguyên nhân đặc hiệu được nhận dạng.

Bệnh thiếu Iốt 

Việc sử dụng muối iốt có hiệu quả vì muối được dùng quanh năm ở mức độ tương tự nhau trong mọi tầng lớp nhân dân. Thành quả phụ thuộc vào việc sản xuất và phân phối muối và đòi hỏi sự tuân thủ các quy định luật pháp, kiểm tra chất lượng và nhận thức của cộng đồng.

 Hộp 1.6. Bệnh thiếu iốt

Dịch tễ học đã góp phần vào việc xác định và giải quyết vấn đề thiếu hụt iốt; các biện pháp dự phòng có hiệu quả thích hợp cho việc sử dụng muối iốt trên quy mô lớn, cũng như các biện pháp giám sát chương trình iốt được làm rõ. Tuy nhiên, đã có sự chậm trễ không cần thiết trong việc ứng dụng những hiểu biết này để làm giảm đau khổ cho hàng triệu người ở các nước đang phát triển mà ở đó nạn thiếu iốt vẫn còn phổ biến. Gần 1/3 trẻ đến tuổi đi học trên toàn thế giới đã không sử dụng lượng iốt cần thiết.19 Sự tiến bộ đáng kể được thực hiện trong thập niên cuối cùng với việc khoảng 70% hộ gia đình đã có tiếp cận với muối iốt so với 20–30% trong năm 1990.20

Hút thuốc lá, amiăng và ung thư phổi

Tuy nhiên, có nhiều yếu tố phơi nhiễm khác chẳng hạn như bụi amiăng và ô nhiễm không khí đô thị cũng góp phần làm tăng gánh nặng ung thư. Hơn thế nữa, hút thuốc lá và phơi nhiễm với amiăng tương tác với nhau, gây nên tỷ lệ ung thư phổi cao hơn ở những công nhân vừa hút thuốc vừa phơi nhiễm với bụi amiăng (Bảng 1.2)

Phơi nhiễm với amiăng

Tiền sử hút thuốc lá

Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi/100.000 dân

Không

Không

11

Không

58

Không

123

602

Vỡ xương chậu

Phần lớn các trường hợp vỡ xương chậu là do ngã và hầu hết các trường hợp tử vong sau khi ngã là hậu quả của các biến chứng vỡ xương, đặc biệt ở người cao tuổi.25 Cách giải quyết tối ưu để phòng vỡ xương chậu hiện tại vẫn chưa rõ ràng. Dịch tễ học có vai trò rất quan trọng khi xem xét các yếu tố có thể thay đổi và các yếu tố không thể thay đổi nhằm làm giảm gánh nặng của vỡ xương chậu.

HIV/AIDS

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (The acquired immunodeficiency syndrom – AIDS) được xác định đầu tiên như là một thực thể bệnh riêng biệt vào năm 1981 tại Hoa Kỳ.26 Cho tới năm 1990, ước tính có khoảng 10 triệu người bị nhiễm virút HIV. Từ đó đến nay đã có 25 triệu người tử vong vì AIDS và thêm 40 triệu người bị nhiễm virút HIV. Số liệu cho thấy HIV/AIDS trở thành một trong các bệnh dịch truyền nhiễm có sức phá huỷ ghê gớm nhất được ghi nhận trong lịch sử (Hình 1.8).28

Hình 1.8. Dịch AIDS trên toàn cầu 1990–200328

Trong tổng số 3,1 triệu người tử vong do AIDS trong năm 2005, gần 95% xảy ra ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, với 70% xảy ra ở các nước châu Phi khu vực cận Sahara và 20% ở các nước châu Á. Một bộ phận đa số trong tổng số từ 4,3 tới 6,6 triệu người mới nhiễm HIV trong năm 2005 sống ở những khu vực này. Tuy nhiên, ở các khu vực hay các nước này, mức độ nhiễm bệnh và đường lây rất khác nhau (Hộp 1.7).

Hộp 1.7. Dịch tễ học và dự phòng HIV

Các nghiên cứu dịch tễ học và xã hội học đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định dịch và phương thức lây truyền, xác định các yếu tố nguy cơ và các yếu tố mang tính xã hội, và đánh giá các chương trình can thiệp phòng chống, điều trị và kiểm soát. Sàng lọc máu của những người cho máu, tăng cường tình dục an toàn, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, tránh sử dụng chung bơm kim tiêm và phòng lây truyền từ mẹ sang con bằng thuốc kháng virút hiện là những cách chính để kiểm soát lây truyền HIV/AIDS.

Với việc tìm ra các loại thuốc kháng virút mới và điều trị kết hợp, cuộc sống của những người nhiễm HIV ở các nước phát triển được kéo dài. Tuy nhiên chi phí quá cao của các loại thuốc này, rõ ràng hạn chế việc sử dụng, và chúng không được đa số những người nhiễm bệnh sử dụng. Một cố gắng quốc tế lớn nhằm tăng cường cơ hội sử dụng thuốc điều trị HIV/AIDS – chiến dịch mang tên “chiến dịch 3×5” (3 triệu người được điều trị cho đến cuối năm 2005).25 đã đạt được con số là 1 triệu người được điều trị và ngăn ngừa được khoảng từ 250.000 đến 350.000 trường hợp tử vong. Mục đích mang tính toàn cầu tiếp theo là nhằm đạt được tiếp cận toàn cầu với điều trị HIV trước 2010. Dịch tễ học đã có đóng góp to lớn vào hiểu biết đại dịch AIDS; tuy nhiên sự hiểu biết đơn thuần không đảm bảo cho các hành động dự phòng phù hợp được triển khai.  

AIDS có thời gian ủ bệnh dài; nếu không được điều trị, thì khoảng một nửa số người nhiễm virút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) sẽ tiến triển thành bệnh AIDS trong khoảng 9 năm nhiễm (xem Chương 7). Virút được tìm thấy ở một số chất dịch cơ thể, đặc biệt là trong máu, tinh dịch và dịch âm đạo. Việc lây nhiễm chủ yếu thông qua quan hệ tình dục hoặc dùng chung kim tiêm bị nhiễm virút. Virút cũng có thể được truyền qua khi truyền máu hoặc các sản phẩm máu bị nhiễm virút, và từ mẹ bị nhiễm sang con trong khi mang thai hay khi cho con bú.

SARS

Mặc dù tử vong hay gánh nặng bệnh tật là nhỏ, vụ dịch hội chứng đường hô hấp cấp (severe acute respiratory syndrome – SARS) đã nhắc nhở thế giới về một mối nguy hiểm chung là bệnh truyền nhiễm. Vụ dịch cũng đã làm nổi bật tình trạng yếu kém của các dịch vụ y tế công cộng không chỉ ở các nước châu Á mà còn cả ở các nước có thu nhập cao như Canada. Hội chứng SARS đầu tiên xuất hiện vào tháng 11 năm 2002 ở miền nam Trung Quốc với 2 trường hợp viêm phổi không điển hình và không rõ nguyên nhân. Việc lây truyền bệnh – được tạo điều kiện thuận lợi do những người bệnh đi lại bằng đường hàng không – đã xảy ra nhanh chóng trong các tháng tiếp theo làm cho 8.000 người bị mắc bệnh và khoảng 900 trường hợp tử vong ở 12 quốc gia.31 Tỷ lệ tử vong do SARS lây truyền ở cộng đồng thấp hơn do SARS lây truyền ở bệnh viện, nơi mà các cán bộ y tế có tiếp xúc gần và liên tục với những người nhiễm bệnh.30

Nhiều bài học quan trọng được rút ra từ các hoạt động ứng phó với dịch SARS. Ví dụ, SARS đã cho thấy rằng các vụ dịch tương tự có thể dẫn đến hậu quả kinh tế và xã hội vượt xa tác động lên sức khoẻ.32 Tác động này đã chỉ ra tầm quan trọng của một bệnh nghiêm trọng mới trong một thế giới có sự tương tác chặt chẽ và biến đổi nhanh.

Tài liệu tham khảo

Johansen PV, Brody H, Rachman S, Rip M. Cholera, Cholorform, and the Science of Medicine: a life of John Snow. Oxford, Oxford University Press, 2003

Snow J. On the mode of communication of cholera. London, Churchill,1855. (Reprinted in: Snow on cholera: a reprint of two papers. New York, Hafner Publishing Company, 1965).

Doll R, Hill A. Mortality in relation to smoking: ten years’ observations on British doctors. BMJ 1964;1:1399–410.

Doll R, Peto R, Boreham J, Sutherland I. Mortality in relation to smoking: 50 years’  observations  on  British  doctors.  BMJ   2004;328:1519–28.  Medline doi:10.1136/bmj.38142.554479.AE

Lee JW. Public health is a social issue.  Lancet  2005;365:1005–6. Medlinedoi:10.1016/S0140–6736(05)66541–5

Irwin A, Valentine N, Brown C, Loewenson, R, Solar O, et al. The Commission on Social Determinants of Health: Tackling the social roots of health inequities. PLoS Med 2006;3:e106. doi:10.1371/journal.pmed.0030106

Marmot M. Social determinants of health inequalities. Lancet 2005;365:1099–104. Medline

Last JM. A dictionary of epidemiology, 4th ed. Oxford, Oxford University Press, 2001.

Cochrane AL. Effectiveness and Efficiency. Random Reflections on Health Ser– vices. London: Nuffield provincial Provinces Trust, 1972. (Reprinted in 1989 in association with the BMJ; reprinted in 1999 for Nuffield Trust by the Royal Society of Medicine Press, London. ISBN 1–85315–394–X).

Zimmern RL. Genetics in disease prevention. In: Puncheon D ed, Oxford Hand– book of Public Health Practice. Oxford, Oxford University Press, 2001:544–549.

Moore ZS, Seward JF, Lane M. Smallpox. Lancet  2006;367:425–35. Medline doi:10.1016/S0140–6736(06)68143–9

Pennington  Hình   Smallpox  and  bioterrorism.   Bull  World  Health  Organisation 2003;81:762–7. Medline

Global smallpox vaccine reserve: report by the secretariat. Geneva, World Health Organization, 2004. http://www.who.int/gb/ebwha/pdf_files/EB 115/B115_36_en.pdf

McCurry J. Japan remembers Minamata. Lancet  2006;367:99–100. Medline doi:10.1016/S0140–6736(06)67944–0 

Methylmercury (Environmental health criteria, No 101). Geneva, World Health Organization, 1990.

Taranta A, Markowitz M. Rheumatic fever: a guide to its recognition, preven– tion and cure, 2nd ed. Lancaster, Kluwer Academic Publishers, 1989.

Hetzel BS. From Papua to New Guinea to the United Nations: the prevention of  mental  defect  due  to  iodine  deficiency  disease.  Aust  J  Public  Health 1995;19:231–4. Medline

De Benoist B, Andersson M, Egli I et al., eds. Iodine status: worldwide WHO data base on iodine deficiency.  Geneva, World Health Organization, 2004.

Hetzel BS. Towards the global elimination of brain damage due to iodine deficiency – the role of the International Council for Control of Iodine Deficiency Disorders. Int  J  Epidemiol  2005;34:762–4. Medline doi:10.1093/ije/dyi073

Thun MJ. When truth is unwelcome: the first reports on smoking and lung cancer. Bull World Health Organ  2005;83:144–53. Medline  

Hammond EC, Selikoff IJ, Seidman Hình  Asbestos exposure, cigarette smoking and death rates. Ann N Y Acad Sci 1979;330:473–90.

Meerding WJ, Mulder S, van Beeck EF. Incidence and costs of injuries in the Netherlands. Eur J Public Health 2006;16:272–78.

Johnell O. The socio–economic burden of fractures: today and in the 21st cen– tury.  [Medline].  Am  J  Med 1997;103:S20–26. Medline doi:10.1016/S0002– 9343(97)90023–1

Cumming RG, Nevitt MC, Cummings SR. Epidemiology of hip fractures. Epi–demiol Rev 1997;19:244–57. 

Gottlieb MS, Schroff R, Schanker HM, Weisman JD, Fan PT, Wolf RA, et al. Pneumocystis carinii pneumonia and mucosal candidiasis in previously healthy homosexual men: evidence of a new acquired cellular immunodeficiency. N Engl J Med 1981;305:1425–31. Medline

2004 Report on the global AIDS epidemic: 4th global report. Geneva, Joint United Nations Programme on HIV/AIDS, 2004

AIDS Epidemic Update: December, 2005. Geneva, UNAIDS/WHO, 2005.

Jong–wook  L.  Global  health  improvement  and  WHO:  shaping  the  future. Lancet       2003;362:2083–8. Medline  doi:10.1016/S0140–6736(03)15107–0

SARS. How a global epidemic was stopped. Manila, WHO Regional Office for the Western Pacific, 2006.

Wang MD, Jolly AM. Changing virulence of the SARS virút: the epidemiological evidence. Bull World Health Organ 2004;82:547–8. Medline

Assessing the impact and costs of SARS in developing Asia. Asian development outlook update 2003. Asian Development Bank, 2003. http://www.adb.org/ Documents/Books/ADO/2003/update/sars.pdf.

“Zim Người Thầy Chỉ Lối Trên Con Đường Ielts Của Mình”

Mình là Đào Nhật Anh, khởi điểm là một học sinh ban A, không phải là không biết gì về tiếng Anh nhưng thực sự việc học ngôn ngữ này không phải là ưu tiên của mình từ bé đến lớn. Suốt những năm phổ thông, mặc dù điểm tiếng Anh của mình cũng tương đối nhưng khả năng thực sự của mình chỉ gói gọn trong mấy cấu trúc ngữ pháp học vẹt để lấy điểm, còn về nghe hiểu, giao tiếp và đọc những văn bản bằng tiếng Anh đối với mình là điều vô cùng vất vả.

Mình bắt đầu theo đuổi tiếng Anh thực sự chủ động và quyết liệt từ năm 3 đại học, khi bắt đầu có ý tưởng về việc xây dựng một ứng dụng hỗ trợ học từ vựng tiếng Anh một cách tốt hơn. Không có người quen biết nào làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, là đứa mù tịt tin học, học phí học lập trình tại các trung tâm lại khá đắt, mình loay hoay một thời gian không biết làm cách nào để biến ứng dụng kia thành hiện thực. Mò mẫm mãi mới quyết định đăng kí một khoá học lập trình từ một trang nước ngoài, điều khó là người ta lại dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Lúc đầu mình cũng bỡ ngỡ lắm, sợ trình độ ngoại ngữ của mình dở không theo được nhưng hoá ra chương trình học ở trang web đó lại dễ hiểu đến bất ngờ. Họ giảng bằng ví dụ và ngôn ngữ rất thông dụng, mỗi khi gặp phải những từ hoặc khái niệm mà mình không biết, mình đều kiên trì dịch nghĩa trước khi chuyển sang nội dung mới. Nước chảy mãi thì đá cũng mòn, sau vài tháng, đến mình cũng không thể tin được là đứa đầu óc chậm như mình cũng có thể học lập trình được bằng tiếng Anh. Kể từ đó, mình nhìn nhận tiếng Anh hoàn toàn khác đi, nó không còn là một môn học mà giống như một cây cầu dẫn mình tới một chân trời trí thức. Mình tìm tòi mọi thứ bằng việc băng qua cây cầu này. Những kiến thức trước đây Google bằng tiếng Việt thì giờ tìm bằng tiếng Anh. Điều đó đồng nghĩa với việc mình phải đọc nhiều tiếng Anh hơn, dịch nhiều tiếng Anh hơn nhưng kết quả cũng mỹ mãn hơn vì lượng thông tin tìm bằng tiếng Anh phong phú hơn gấp rất nhiều lần so với tiếng

Phần Reading, do mình quen đọc các mẩu thông tin hoặc đoạn văn kể chuyện đơn giản nên khi tiếp xúc với một bài đọc IELTS mang tính học thuật cao dành cho trình độ đại học, mình rất choáng vì cách tác giả nước ngoài họ hành văn phức tạp hơn nhiều so với tiếng Việt. Văn tiếng Việt thường hay viết xuôi, đọc đến đâu là hiểu được đến đấy, còn văn tiếng Anh thì nhiều khi phải đọc cả câu, thậm chí là vài ba câu mới hiểu được là người viết muốn nói gì. Mình nghĩ, ngoài việc kiên trì luyện đọc thật nhiều để làm quen với các văn bản bằng ngôn ngữ khác, việc học từ mới cũng rất quan trọng. Mình thường xuyên ghi và học các từ mới trong các bài đọc, tuy mất thời gian nhưng điều này rất có ích vì nó làm giàu vốn từ, không những giúp cải thiện kỹ năng đọc mà các kỹ năng khác cũng tốt lên trông thấy.

Phần Listening, có lẽ luyện tập là con đường duy nhất để có được một đôi tai nghe tiếng Anh tốt. Nhiều bạn bè của mình chia sẻ nên nghe và chép chính tả, tuy nhiên bản thân mình thấy phương pháp này quá tốn thời gian, một người thầy của mình ở trung tâm anh ngữ Zim là anh Đức đã chỉ ra là việc nghe chép chính tả thực chất có tác dụng giúp ta chuyển đổi tốt hơn từ âm thanh của từ vựng sang mặt chữ của từ ấy. Như vậy, thay vì chép chính tả cả một bài dài lê thê, mình chỉ cần đọc trước tape script, học vần những từ không biết sau đó nghe lại băng để xem người ta đọc từ ấy như thế nào. Cách làm này không những có tác dụng tương đương mà còn giúp tiết kiệm đáng kể thời gian. Ngoài ra, nhiều dạng bài như trắc nghiệm 4 phương án hay điền bản đồ, nghe từng từ không thôi là không đủ, chúng ta cần phải có khả năng hiểu được nội dung bài mới có thể chọn đáp án đúng được. Mình luyện tập nghe rất nhiều, không chỉ nghe các bài nghe IELTS không mà thêm cả các podcast, xem phim phụ đề tiếng Anh (hoặc không phụ đề) hoặc xem các video trên youtube. Kết quả là từ một người nghe kém và thiếu tập trung, mình đã đạt mức điểm 8.5 cho kỹ năng này trong kỳ thi IELTS.

Kỹ năng Speaking theo mình thực ra không khó, chỉ cần có một môi trường để bạn được tập nói thật nhiều, chúng ta sẽ trở nên tự tin và có độ trôi chảy tốt hơn. Hãy tìm kiếm cho mình một partner có cùng trình độ để cùng nhau luyện tập, bạn có thể tìm kiếm “người ấy” trên các diễn đàn luyện thi IELTS trên mạng xã hội, hoặc tới các trung tâm tiếng Anh để có mội trường “bắn” tiếng Anh chuyên nghiệp. Tại Zim, các thầy cô rất kỹ tính trong việc lắng nghe bạn nói, sau khoá học ở đây, mình thấy khả năng triển khai ý trong khi nói của mình tốt lên rất nhiều. Áp dụng chiến thuật “chân gà” mà chị Quỳnh Anh chỉ dạy, bài nói trong part 2 của mình luôn nằm trong khoảng thời gian xấp xỉ 2 phút và nói không bao giờ sót hay lạc ý, ngoài ra việc mắc lỗi sai về ngữ pháp, phát âm của mình cũng giảm đi trông thấy.

Kinh nghiệm phòng thi rất quan trọng và thi thử là cách rất tốt để tích lũy kinh nghiệm. Đề thi IELTS tại ZIM rất sát đề thi thật, đánh giá trình độ chính xác, nhận kết quả ngay sau khi thi, và phần thưởng 1.000.000đ cho giải nhất ….

Với kết quả overall 7.5, tuy chưa phải là quá cao nhưng cũng đã phản ánh nỗ lực của mình sau 3 tháng ôn luyện. Theo mình, tiếng Anh đơn giản chỉ là một ngôn ngữ, chẳng phải một loại tài năng gì đặc biệt, bạn có thể là thần đồng toán học hay thần đồng âm nhạc chứ chẳng thể là thần đồng tiếng Anh, mưa dần thấm lâu, tiếng Anh thì cứ học nhiều là tất sẽ ngấm. Thực tế các cao thủ 8.5, 9.0 hầu hết đều học tiếng Anh rất lâu, thậm chí nhiều người còn học tập và làm việc nhiều năm ở nước ngoài. Bởi vậy, quan trọng là tinh thần phải thoải mái, đừng đặt áp lực và so sánh mình với ai cả. Mình làm được điều đó thì mình tin ai cũng làm được, quan trọng chỉ cần bạn mong muốn và có mục tiêu thì mình tin bạn chắc chắn sẽ thành công.

Nếu bạn mới bắt đầu, hãy tìm cho mình một người hướng dẫn tốt, IELTS là kỳ thi khó, là một chặng đường dài, đôi chân của bạn phải khoẻ mới đi tới được đích, tuy vậy, có một người thầy giỏi vạch đường, chỉ lối để đi được đường vòng lối tắt vẫn cứ là hơn đúng không nào. Hãy cân nhắc Zim như một lựa chọn đáng tin cậy trên chặng đường của bạn.

Người Thầy “Gọi Hồn” Cho Tiếng Mường

Gắn bó với sự nghiệp giáo dục hơn 30 năm qua, thầy giáo Hà Quang Phùng (sinh năm 1948) tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) được biết đến là người “gọi hồn” tiếng Mường. Là người con dân tộc Mường, thầy Phùng vốn có nhiều kiến thức sâu sắc về văn hóa đồng bào Mường và đã truyền dạy ngôn ngữ Mường cho rất nhiều thế hệ cán bộ, con em các dân tộc trên địa bàn.

Sinh ra và lớn lên ở đất Mường cổ Thạch Khoán, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Việt Bắc, sau đó được cử đi đào tạo tại Trung tâm giáo dục không chính quy Viện ngôn ngữ về tiếng Mường, năm 1982, thầy Phùng về công tác tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Thanh Sơn. Luôn đau đáu gìn giữ những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thầy Phùng hiểu rằng đây là cách để trở về với nguồn cội. Chính vì vậy, những năm tháng gắn bó với sự nghiệp giáo dục đã thôi thúc thầy cống hiến, tìm tòi, nghiên cứu truyền dạy tiếng Mường cho các thế hệ con em, nhất là khi ngôn ngữ Mường đang có nguy cơ mai một. Bên cạnh việc hoàn thành tốt vai trò của một giáo viên dạy Văn, thầy tự mình đi đến khắp các thôn bản nơi có đồng bào Mường sinh sống để sưu tầm và tìm lại những trang sách cổ, trên cơ sở lấy tiếng Mường Bi- Hòa Bình làm gốc, về địa phương thầy dày công biên soạn lại ngôn ngữ Mường.

Năm 2004 khi Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Thanh Sơn (nay là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – GDTX) triển khai chương trình dạy tiếng dân tộc Mường, khi ấy thầy là người đầu tiên và duy nhất giảng dạy ngôn ngữ Mường cho các thế hệ người Mường cũng như cán bộ đang công tác ở huyện Thanh Sơn. Từ đó đến nay, thầy Phùng đã giảng dạy hàng chục lớp tiếng Mường đạt kết quả chất lượng cao. Những lớp tiếng Mường thực sự có ý nghĩa không chỉ với bản thân con em đồng bào Mường mà còn đặc biệt quan trọng với các cán bộ đang công tác. Nó chính là chiếc cầu nối đưa cán bộ đến gần dân hơn, giúp cho việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với bà con dân tộc một cách nhanh chóng, hiệu quả. Thầy Phùng truyền dạy tiếng Mường cũng chính là cách giúp cán bộ hiểu được phong tục tập quán của đồng bào, tạo điều kiện thuận lợi để cấp ủy, chính quyền làm tốt công tác dân vận ở cơ sở.

Thầy chia sẻ: Người Mường phát âm khác nhau về ngữ điệu, do đó để dạy cho học viên hiểu ý nghĩa của từng từ, từng chữ, từng câu thì cần phải biên soạn thành một phương ngữ chung nhất để khi truyền đạt học viên sẽ nghe, hiểu và nói được tất cả âm điệu trong ngôn ngữ của người Mường trên khắp các vùng miền.

Là người nặng lòng và tâm huyết với ngôn ngữ dân tộc, thầy Hà Quang Phùng luôn dành nhiều thời gian để nghiên cứu. Với thầy những cuốn sách tìm được về ngôn ngữ Mường là những tài sản vô giá, được thầy gìn giữ như một cuốn cẩm nang quan trọng giúp thầy truyền dạy cho các thế hệ người Mường.

Thầy Phùng cho biết thêm: Để có giáo án dạy cho học viên, tôi luôn phải đổi mới và tìm ra phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất. Tôi tập trung soạn ra những bài giảng gần gũi, thiết thực gắn với đời sống sinh hoạt hàng ngày giúp học viên dễ dàng tiếp cận, dễ hiểu, dễ tiếp thu và nhanh chóng giao tiếp được. Trong đó tôi kết hợp sử dụng những từ Mường cổ và những từ gần với tiếng Việt nhất. Có như vậy mới làm ngôn ngữ Mường giữ được tính nguyên bản của nó.

Với tấm lòng luôn trân trọng ngôn ngữ của ông cha và niềm đam mê mang ngôn ngữ Mường đến với nhân dân, thầy giáo Hà Quang Phùng đã góp phần làm cho tiếng Mường sống lại trong đồng bào, đồng thời qua đó cũng là để tìm lại những nét đẹp trong văn hóa của dân tộc Mường.

Cả cuộc đời luôn khát khao đem tri thức cho đồng bào vùng cao, không chỉ truyền dạy ngôn ngữ và văn hoá Mường cho cán bộ và con em đồng bào trong huyện, hiện nay Thầy Phùng đã mở rộng việc giảng dạy ở nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Là một người con dân tộc Mường, đau đáu những trăn trở về việc giữ gìn nguồn cội văn hóa của cha ông mình, thầy Phùng vẫn ngày ngày âm thầm cống hiến sức lực của mình trong việc bảo tồn, lưu giữ và phát triển ngôn ngữ Mường.

Tình yêu với ngôn ngữ dân tộc đã trở tiếp thêm sức mạnh để Thầy sáng tạo, đổi mới không ngừng. Thầy luôn được các thế hệ học trò kính trọng, đồng nghiệp tin yêu. Những gì Thầy Phùng đã làm hôm nay đã góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Đặc biệt, đời sống hiện đại luôn đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo tồn văn hóa, việc dạy tiếng Mường của thầy Phùng sẽ là động lực để đồng bào tiếp tục lưu giữ và phát triển văn hóa dân tộc trên quê hương Thanh Sơn – Phú Thọ./.

Bài, ảnh: Phùng Huyền TrangUBND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Bạn đang xem bài viết Người Thầy Của Dịch Tễ Học trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!