Xem Nhiều 2/2023 #️ .Một Số Trò Chơi Dạy Học Luyện Từ Và Câu Lớp 2: # Top 4 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 2/2023 # .Một Số Trò Chơi Dạy Học Luyện Từ Và Câu Lớp 2: # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về .Một Số Trò Chơi Dạy Học Luyện Từ Và Câu Lớp 2: mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A. Mục đích:

– Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh.

– Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh.

Bảng phụ hoặc giấy nháp

– Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3 – 4 học sinh tham gia.

(VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật nuôi là những con vật nuôi trong nhà…), Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu:

+ Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm gia đình…).

+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2- 3 phút.

+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm nào có số điểm cao nhất sẽ đứng ở vị trí số 1, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp vào các vị trí 2, 3, 4…

Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài luyện từ và câu:

– Trong sách giáo khoa Tiếng việt 2, tập 1:

+ Kể tên các môn em học ở lớp 2 (tuần 7, Tr.59).

+ Hãy kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ (tuần 13, Tr.108).

+ Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật (tuần 15, Tr.122).

+ Viết tên các con vật trong tranh (tuần 16, Tr.134).

– Trong sách giáo khoa TV 2, tập 2:

+ Nói tên các loài chim trong tranh (tuần 22, Tr.35).

+ Tìm các từ ngữ có tiếng “biển” (tuần 25, Tr.64).

+ Kể tên các con vật sống ở dưới nước (tuần 26, Tr.74).

+ Kể tên các loài cây (tuần 28, Tr.87)

+ Tìm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp (tuần 33 Tr.129);

2. TRÒ CHƠI: TÌM NHANH TỪ ĐỒNG NGHĨA

– Nhận biết nhanh các từ ngữ đồng nghĩa, làm giàu vốn từ của học sinh

– Luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh, tay.

– Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn (xanh, đỏ, vàng…) tương tự quân bài trong cỗ tam cúc. Mỗi bộ có 10 hoặc 12 quân bài đã ghi sẵn các từ.

– Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quân bài của người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng nghĩa với từ được ghi trên quân bài của nguời chơi.

– Mỗi quân bài này đều được ghi từ ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm bài trên tay

Từ hai đến 4 nguời chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12 quân)

– Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ bài của nguời chơi).

– Những nguời chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ đồng nghĩa với quân bài của trọng tài để đánh ra.

– Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân bài đó sẽ được ”ăn”; nếu sai thì nguời đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được ”ăn”.

Trường hợp 2, 3 người cùng ra quân bài đúng thì cùng được ”ăn”.

– Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được ”ăn” nhiều nhất sẽ thắng cuộc. Như vậy, người thắng là người nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.

– Mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh.

– Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi.

– Phóng to tranh có trong hai bài luyện từ và câu ở tuần 6 (Tr.52); tuần 11(Tr.90) – sách giáo khoa TV 2 tập 1.

– Mỗi nhóm chơi (4; 5 học sinh ) cần chuẩn bị giấy, bút (ghi sẵn tên nhóm vào giấy khổ to đã chuẩn bị. VD: Nhóm Mực tím; nhóm Tuổi thơ…)

– Băng dính hoặc hồ dán.

1. Giáo viên nêu yêu cầu: Tìm số đồ vật được vẽ ẩn trong tranh (gọi là kẻ trú ẩn) rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị. Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ số lượng đồ vật (tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất.

2. Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra (hoặc trong sách giáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số lượng mỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút)

3. Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng. Giáo viên hướng dẫn cả lớp hô ”đúng” (hoặc ”sai”, hoặc ”thiếu”) giáo viên trợ giúp việc xác nhận kết quả của từng nhóm.

– Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng đồ vật tìm được để xếp giải nhất, nhì, ba (có thể xếp đồng giải nhất, nhì, ba hoặc yêu cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng).

* Chú ý: Trò chơi này áp dụng cho bài tập 3 tiết luyện từ và câu tuần 6 – Tr.52; bài tập 1 tiết luyện từ và câu tuần 11- Tr.90.

4. TRÒ CHƠI: THI GHÉP TIẾNG THÀNH TỪ

– Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.

– Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.

– Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và câu tuần 12 (sách giáo khoa TV 2 tập 1- Tr.99) Giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh tham gia thi); mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm . Mỗi bộ gồm 24 quân ghi các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6 quân); kính (3 quân).

– Băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng thành một từ (2 tiếng).

1. Căn cứ vào số bộ quân bài đã chuẩn bị, giáo viên lập các nhóm thi ghép tiếng thành từ (mỗi nhóm khoảng 4; 5 học sinh ); Cử nhóm trưởng điều hành và vào ban giám khảo.

VD: Có 4 bộ quân bài – lập 4 nhóm thi – cử 4 nhóm trưởng tham gia vào ban giám khảo cùng với giáo viên .

2. Giáo viên nêu yêu cầu:

– Mỗi nhóm có 1 bộ quân bài ghi các tiếng dùng để ghép thành các từ có 2 tiếng, các nhóm dùng bộ quân bài để ghép từ (xếp lên mặt bàn, hoặc dùng băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng lại để thành 1 từ).

– Sau khoảng 5 phút, các nhóm dừng lại; ban giám khảo (Giáo viên cùng các nhóm trưởng) lần lượt đi đến từng nhóm để ghi kết quả và cho điểm (cứ xếp được 1 từ đúng, được 1 điểm).

3. Giáo viên trao các bộ bài cho các nhóm thi ghép từ; phát lệnh ”bắt đầu” cho các nhóm làm bài. Ban giám khảo đánh giá kết quả ghép từ theo nội dung bộ bài đã chuẩn bị (mục B) như sau:

– Ghép đúng, đủ 12 từ (mỗi từ có 2 tiếng) VD: Yêu thương, thương yêu, yêu mến, mến yêu, kính yêu, yêu kính, yêu quý, quý yêu, thương mến, mến thương, quý mến, kính mến.

– Ghép đúng mỗi từ được 1 điểm; đúng cả 12 từ được 12 điểm.

– Dựa vào điểm số, ban giám khảo xếp giải nhất, nhì, ba, (hoặc đồng giải nhất, nhì, ba)

5. TRÒ CHƠI: XẾP TỪ THEO NHÓM

– Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự vật mà từ gọi tên.

– Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng.

– Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm.

VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm:

+ Ngô, khoai, bắp cải, bí.

+ Ngô, lúa, su su, sắn, mướp

– Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu.

1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ, nêu luật chơi. VD: Dựa vào những đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong bộ bài (bảng từ) hãy sắp xếp các từ trong bộ bài thành 2; 4 nhóm.

2. Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày các quân bài ra, đọc một lượt các từ rồi dựa đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động….(cũng là nghĩa của từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm hoặc dùng bút đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2)

3. Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại được đúng và nhanh sẽ được tính điểm và được khen thưởng (mỗi từ phân loại đúng được tính 1 điểm)

* Chú ý: trò chơi áp dụng cho các tiết luyện từ và câu sách giáo khoa TV 2 tập 2.

– Tuần 23 Tr.45 (bài tập 1)

– Tuần 26 Tr.73 (bài tập 1)

6. TRÒ CHƠI: ĐẶT CÂU THEO TRANH

– Luyện cho học sinh biết dựa vào ý mà các bức tranh gợi ra, đặt được câu đúng ngữ pháp, đúng nội dung tranh.

– Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, đặt câu, luyện tác phong nhanh nhẹn.

– Tranh vẽ dùng để đặt câu theo tranh đã được phóng to (theo sách giáo khoa TV 2).

– Các băng giấy, hồ dán để đính băng giấy lên bảng; bút dạ để viết câu lên băng giấy.

– Tên các nhóm chơi ghi sẵn lên bảng lớp (khoảng 3; 4 nhóm chơi mỗi nhóm 3; 4 người)

1. Giáo viên phát cho mỗi nhóm 4 hoặc 5 băng giấy để viết câu (hoặc yêu cầu viết lên bảng lớp) và hướng dẫn cách chơi.

– Treo bức tranh lên bảng, yêu cầu các nhóm quan sát.

– Mỗi nhóm chơi nhanh chóng suy nghĩ để đặt câu (có thể viết câu kể hoặc câu hỏi) và viết câu của mình lên băng giấy rồi dán lên bảng lớp đúng cột ghi tên nhóm mình (nếu không có giấy, mỗi nhóm viết các câu lên bảng lớp).

2. Hết thời gian chơi (khoảng 5 – 7 phút) giáo viên cùng các nhóm đánh giá, rà soát từng câu trên bảng. Nhóm nào có số lượng câu đặt đúng ngữ pháp, đúng nội dung, tranh nhiều nhất sẽ đựơc thắng cuộc.

VD: Trò chơi có thể áp dụng cho các bài tập 3; Tiết LT&C tuần 1 (TV2 tập 1- Tr.9)

– Bài tập 3 – tiết LT&C tuần 30 TV2 tập 2 Tr.104

7. TRÒ CHƠI: THI ĐẶT CÂU THEO MẪU: (AI LÀ GÌ?)

– Rèn kĩ năng nói, viết câu đúng mẫu: Ai là gì? có sự tương hợp về nghĩa giữa thành phần chủ ngữ và thành phần vị ngữ.

– Luyện trí so sánh, liên tưởng nhanh, tác phong nhanh nhẹn.

– Giáo viên chuẩn bị một số từ ngữ (danh từ, ngữ danh từ) phù hợp với đối tượng học sinh lớp 2, phục vụ cho việc dạy các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì? trong sách giáo khoa TV2

– Những người chơi chia thành từng cặp (2 người) hoặc thành 2 nhóm (A; B) Người thứ nhất hoặc học sinh ở nhóm thứ nhất nêu vế đầu.

(VD: Học sinh); người thứ 2 (hoặc học sinh ở nhóm thứ 2) nêu vế thứ (VD: Là người đi học). Sau đó 2 người (hoặc 2 nhóm) đổi lượt cho nhau. Người nào (hoặc nhóm nào) không nêu được sẽ bị trừ điểm. Hết giờ chơi, ai hoặc nhóm nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng cuộc.

Nguyễn Thị Thanh Tâm @ 20:36 07/10/2018 Số lượt xem: 3804

Một Số Trò Chơi Trong Dạy Học Môn Tiếng Anh

1. Car Race Xếp các flash card thành một hàng dài, một đầu là điểm xuất phát, đầu kia là đích đến. Cho mỗi trẻ một vật, ví dụ như một cái xe oto đồ chơi nhỏ, để làm vật đánh dấu.Trẻ thứ nhất tung xúc xắc, và di chuyển đến vị trí flashcard cách vị trí hiện tại số flashcard bằng số chấm trên mặt xúc xắc tung được. Trẻ phải nói được từ trên flashcard ở vị trí mới. Nếu nói đúng, trẻ được đứng tại vị trí mới và trẻ nào về đích đầu tiên sẽ thắng. Nếu nói sai, trẻ phải quay lại vị trí trước lượt tung xúc xắc vừa rồi. Đặt một tờ giấy màu đánh dấu vị trí mà trẻ phải quay lại để làm lại lượt mới. Trên con xúc xắc quy ước một mặt, ví dụ mặt số 4 là “crash number “. Nếu tung được mặt này, trẻ phải quay lại điểm xuất phát và chơi lại từ đầu. 2. Charades Chia lớp thành hai hàng. Hai bạn đứng đầu mỗi hàng tiến lên phía trước. Giáo viên thì thầm một từ hoặc chỉ một flash card cho hai bạn đó, ví dụ như ngủ, ăn, đá bóng, đánh răng…. Hai bạn sẽ cố biểu diễn để gợi ý từ đó cho hàng mình hiểu. Hàng nào nói ra được từ đó trước sẽ giành được điểm.

3. Commando Giáo viên giả làm sĩ quan chỉ huy ra lệnh cho cả lớp hoặc cho từng bạn. Trò này giúp giải phóng năng lượng rất nhiều và là cách tốt để review lại các từ chỉ hành động, màu sắc, con số hoặc nhiều thứ khác. Ví dụ “Hãy nhảy 10 lần”, “Hãy chạm vào đầu/đầu gối/…”, “Hãy sờ vào cái bảng/TV/cái bút….”, “Hãy xoay vòng tròn”, “Đứng lên, ngồi xuống”,…

4. Concentration / Memory Cho trẻ ngồi xếp thành vòng tròn. Trải 2 bộ flashcard giống nhau, úp mặt xuống. Để các con lần lượt lật 2 card và đọc từ lên. Ai lật được 2 card giống nhau, con được giữ lại cards. Nếu chúng khác nhau, con lại úp chúng xuống. Bạn nào có được nhiều card nhất thì thắng.

5. Crazy Train Cho các con xếp sau giáp viên thành một đoàn tàu. Giáo viên đưa ra các mệnh lệnh như “faster”, “slower”, “turn left”, and “stop”.

6. Dance Of The Ostriches Chia hai con thành một cặp và dán vào lưng mỗi con một flashcard. Mỗi con phải cố gắng nhìn được lưng bạn kia và hét to được từ dán trên lưng bạn trước khi bạn làm được như vậy với từ của mình.

7. Draw It Relay Chia các con thành hai nhóm. Thì thầm một từ cho bạn đầu tiên của mỗi nhóm, để hai bạn cố chạy lên bảng và vẽ ra từ đó càng nhanh càng tốt. Đội nào nhanh hơn đội đó thắng.

10. Flash Card Walk Xếp các flashcard thành một vòng tròn to. Cho các con nghe nhạc trong khi đi dạo quanh vòng trò. Khi nhạc dừng, giáo viên hô to một flashcard, bạn nào đang đứng cạnh flashcard đó thì thắng.

11. Follow The Leader Học sinh đứng xếp hàng sau lưng thầy giáo và làm theo các động tác của thầy. Sử dụng trò này để ôn lại các từ vựng về đồ dùng trong lớp hoặc động tác. Cho học sinh cơ hội thay thầy dẫn đầu để tăng phần thú vị.

12. Grab It Relay / Race to Touch Đặt một số flashcards ở cuối phòng, chia các bé ra thành các đội. Đọc tên một flashcard, bé đầu tiên trong hàng của mỗi team sẽ phải chạy lên để lấy flashcard về cho đội mình sau đó xếp vào cuối hàng, người tiếp theo tiếp tục chạy lên lấy flashcard theo hiệu lệnh của giáo viên. Đội nào lấy được nhiều flashcard hơn sẽ thắng cuộc.

13. Go Fish Cho mỗi bạn chọn hai flashcard. Các bạn phải giữ mặt flashcard úp kín xuống. Giáo viên chọn một học sinh và hỏi “Do you have a cat?”. Nếu câu trả lời là Yes, học sinh sẽ đưa cho GV flashcard tương ứng. Cho các bạn học sinh tự hỏi lẫn nhau. Bạn nào hết flashcard thì được ra ngoài.

14. I’ve Got It Cho các bé xếp vòng tròn, đưa mỗi bé một flashcard. Giáo viên sẽ đặt câu hỏi “What is it”, các học sinh sẽ đứng lên và đọc to flash card của mình, tiếp tục cho tới khi tất cả học sinh đều đứng lên. Tiếp đó, lặp lại cho tới khi các học sinh đều ngồi xuống. Thay đổi tốc độ để cho học sinh đứng lên và ngồi xuống liên tục .

15. Hot Potato và Pass it Cho học sinh ngồi xếp thành hàng. Giáo viên cầm một flashcard hoặc một vật (ví dụ ball, pen, eraser,…), đọc từ lên và chuyển nó cho học sinh bên cạnh. Học sinh nhận card/vật, nói lại từ đó và chuyển nó sang bên cạnh tiếp. Sau một vài vòng thì đảo ngược lại chiều và tăng tốc.

Tương tự như trên, nhưng đặt giới hạn thời gian cho tăng tính hấp dẫn. Đặt timer 10 giấy. Khi hết thời gian, bạn đang cầm card phải nói ra được từ vựng/cấu trúc đang cầm.

16. Jumping The Line Đặt một dải khăn/băng giữa sàn hoặc vẽ một đường kẻ để chia đôi phòng. Gán một nửa là “True” và nửa còn lại là “False”. Cho học sinh xếp hàng ở đường giữa, GV cầm một flashcard và nói một từ. Nếu học sinh nghĩ từ GV nói đúng với flashcard thì nhảy về phía “True”, sai thì nhảy về phía”False”. Học sinh nào phạm lỗi thì ra ngoài ngồi chờ cho đến vòng chơi sau.

17. Memory Tray Mang vào một khay gồm nhiều vật khác nhau để ôn các từ mới học. Nói ra tên các vật đó và cho học sinh một phút để nhớ trên khau có những gì. Cất khay đi để xem học sinh nhớ được bao nhiêu vật. Các học sinh lớn thì nên viết ra danh sách các vật. Bạn nào nhớ được nhiều nhất thì giành điểm. Có thể thay các vật thành các flashcards.

18. Memory Master Cho các bạn ngồi xếp vòng tròn. Giao cho một bạn làm Memory Master. Xếp các flashcard (ngửa mặt) vào giữa vòng. Mỗi bạn chọn một flashcard và nói từ nhưng không chạm vào flashcard. Sau khi tất cả các bạn đã chọn. bạn làm Memory Master phải trả về cho từng bạn đúng tấm flashcard mà bạn đó đã nói.

19. Musical Chairs Xếp ghế và đặt một flashcard trên mỗi ghế. Bật một bài hát và các hs phải chạy, nhảy xung quanh ghế. Khi nhạc dừng, hs phải ngồi xuống ghế và đọc to flashcard trên ghế. Để tăng thêm phần thú vị cho trò chơi, giáo viên có thể bỏ bớt 1 ghế sao cho số ghế lúc nào cũng ít hơn số học sinh

20. Pictionary Cho một em đứng lên phía trước và đưa cho em một flashcard. Em sẽ cố vẽ nó lên bảng. Em đầu tiên đoán được từ mà bạn vẽ hình lên sẽ được điểm. Có thể chia các em thành đội để chơi trò này.

21. Quick Peek Che một flashcard đi rồi lại show nó ra thật nhanh để trẻ nhìn lén. Bạn nào đoán đúng từ sẽ giành điểm.

22. Shoot The Basket Trò này có thể chơi theo nhóm hoặc cá nhân. Hỏi mỗi trẻ một câu và nếu trả lời đúng trẻ được quyền làm một việc gì đó như ném bóng vào vào rổ, quăng vòng vào mục tiêu, ném đổ lon bia… Ném trúng thì thì được ghi điểm. Slam

Cho học sinh ngồi xếp vòng tròn, tay đặt lên đầu. Trải các tấm flashcard (ngửa mặt) ở giữa vòng tròn. Giáo viên đọc to một tấm và các bạn cố lấy được tấm đó. Bạn nào lấy được trước thì được giữ nó và được một điểm. Chơi xong mà các bạn ngang điểm thì chơi thêm trò ‘Rock, Scissors, Paper’ để phân thắng bại.

23. Slow Motion Đặt flashcard ở sau một cái túi (hoặc thứ gì đó che đi flashcard), chậm rãi kéo vật che khỏi flashcard, học sinh nào đoán đúng flashcard trước sẽ được thưởng.

24. Topic Tag Giáo viên đưa ra một topic, ví dụ fruit. Học sinh phải chạy xung quanh phòng để tránh bị giáo viên bắt được. Nếu một học sinh bị bắt, em đó sẽ phải đọc tên một loại fruit trong vòng 5 giây. Nếu không đọc được tên fruit hoặc fruit đó đã được đọc ra trước đó rồi, học sinh sẽ bị thua cuộc và phải làm người đuổi bắt.

25. Touch Bảo học sinh chạm vào các thứ có trong phòng, ví dụ “Touch your book”, “Touch something red”.

26. Vocab with Rock, Scissors, Paper Xếp các flashcard thành hàng thẳng trên sàn. Chia lớp thành hai đội xếp ở hai đầu của đường flashcard. Khi giáo viên nói “Go”, bạn đầu tiên của từng đội bước lên từ điểm xuất phát, dừng chân ở từng flashcard và đọc to từng từ. Khi hai bạn gặp nhau, các bạn sẽ chơi trò Rock, Scissors, Paper (oẳn tù tì)., bạn thua thì đi về hàng mình, bạn thắng thì đi tiếp, vừa đi vẫn vừa đọc hàng flashcard. Bạn thứ hai của hàng thua bắt đầu đi và đọc từ cho đến khi hai bạn gặp nhau thì lại Rock, Scissors, Paper, cứ thế. Bạn nào đến được đầu kia trước thì thắng.

27. What’s Missing? Đặt 8-10 flashcard trên bàn (hoặc trên tường). Để cho các học sinh nhìn flashcard trong 1 phút, sau đó để các bé nhắm mắt lại và lấy đi 1 flashcard. Để các bé mở mắt ra và hỏi xem flashcard nào đã biến mất. Học sinh đưa ra câu trả lời đúng sớm nhất sẽ thắng.

28. I spy

Trong trò chơi này bé sẽ được trở thành một điệp viên, đi tìm các tấm flashcard được đặt rải rác khắp phòng. Mỗi khi thầy/ cô nói “I spy with my little eyes something that begins with “d”…” (Bằng đôi mắt nhỏ tôi sẽ đi tìm những từ bắt đầu bằng chữ cái “d”). Trẻ sẽ phải đi quanh phòng và tìm những tấm flashcard theo yêu cầu, mỗi lần tìm được sẽ đọc to từ viết trên tấm thẻ đó. Thầy/ cô cũng có thể thay thế bằng các yêu cầu như “…something red” (vật có màu đỏ) hay “…the animals that live in jungle” (những động vật sống trong rừng nhiệt đới). Hs sẽ rất thích thú với những thử thách và sẽ nhanh chóng chạy đi tìm các tấm flashcard theo yêu cầu.

32. Dice

Học sinh ngồi vòng tròn. Mỗi lần tung xúc xắc, học sinh nói n điều về bản thân mình với n là số chấm trên mặt xúc xắc tung được. Ví dụ tung được 3 thì nói 3 điều về bản thân (tên, tuổi, màu sắc yêu thích, ect) Có thể đổi thành học sinh đó có quyền hỏi các bạn khác trong lớp 3 câu bất kỳ.

Nếu bài học có chủ điểm ngữ pháp cụ thể, có thể yêu cầu học sinh nói 3 câu sử dụng cấu trúc ngữ pháp vừa học.

33. Dice maker

34. Dragon eggs

Gv sử dụng mảnh ghép trứng ép plastic hoặc chất liệu alu. Trên các mảnh trứng gv có thể ghi các mẫu hội thoại ngắn, từ trái nghĩa, phonics…. Chia đội chơi, đội nào ghép đk nhiều quả trứng đúng nhất nhanh nhất thì thắng

35. Jumping mat

Thầy cô viết từ vựng trên bảng(hoặc gắn tranh ảnh,hay trải thảm ra nền) ra hiệu lệnh cho các con bắt đầu di chuyển, ai về đích trước thì đọc to và rõ từ đó, ai đọc nhanh là thắng, hoặc có thể cô giáo đoc từ nào các con dùng búa tay đập vào từ đó, đúng là thắng.

36. BLINDFORD game

37. Blindford game

Cho hs bịt mắt sau đó dấu 1 con cá ( mình đã viết từ muốn kiểm tra lên đó) giấu đi, nhớ xếp lại cá để k lộ nha. sau đó yêu cầu con bỏ bịt măt ( hoặc hiệu lệnh bằng còi ). rồi đoán từ đó, đoán được là winner

38. Magic wheel

-Ghi các con số và chữ Lucky. Chơi giống trò Lucky Number Ghi các điểm mất lượt, phần thưởng…. Chơi giống trò Chiếc Nón Kì Diệu trên TV -Viết các từ/hình ảnh/dán tranh lên… để ôn từ vựng -Ghi tên các bạn/các nhóm. Quay wheel để lựa chọn người thực hiện yêu cầu

39. Sticky ball

Lương Thị Thanh Vân @ 21:06 03/11/2019 Số lượt xem: 129

Đề Tài Dạy Học Tiếng Việt 5 Với Một Số Trò Chơi

Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học là môn học hình thành ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, đọc, nói, viết) để học tập và để giao tiếp, có thể nói môn Tiếng Việt là môn công cụ để học các môn học khác. Do đó môn Tiếng Việt rất quan trọng.

Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện nay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là một phương pháp dạy học có hiệu quả, được các thầy, cô giáo xem như một hình thức tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảng tiếng Việt của mình. Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui và nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “Học vui – vui học”, “Học mà chơi, chơi mà học”.

MỤC LỤC TÊN NỘI DUNG TRANG PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI PHẦN NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI 1. Thực trạng chung của nhà trường : 2. Thực trạng của lớp dạy : 3. Cơ sở lí luận và thực tiễn II. GIẢI PHÁP 1. Tìm hiểu Vai trò của trò chơi trong dạy học tiếng Việt 2. Quy trình tổ chức trò chơi 3. Thiết kế trò chơi học tập 4. Sử dụng trò chơi học tập Tiếng Việt lớp 5. 5. Giới thiệu một số trò chơi học tập Tiếng Việt lớp 5 III. KẾT QUẢ PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: II. KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 2 3 4 5 5 8 25 27 27 28 30 PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học là môn học hình thành ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, đọc, nói, viết) để học tập và để giao tiếp, có thể nói môn Tiếng Việt là môn công cụ để học các môn học khác. Do đó môn Tiếng Việt rất quan trọng. Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện nay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là một phương pháp dạy học có hiệu quả, được các thầy, cô giáo xem như một hình thức tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảng tiếng Việt của mình. Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui và nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần "Học vui - vui học", "Học mà chơi, chơi mà học". Trong quá trình làm việc, học tập của con người, vui chơi là một hoạt động bổ ích ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học. Vui chơi không những giúp cho các em được thoả mãi rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổthông qua đó, các em sẽ dần được hoàn thiện những kĩ năng giao tiếp. Đó là kĩ năng được đặt ra hàng đầu trong mục tiêu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và của môn Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng. Điều đó chứng tỏ: hoạt động vui chơi là hoạt động hỗ trợ việc học. Học sinh của trường nơi tôi công tác chủ yếu là dân tộc, vốn hiểu biết và việc học môn Tiếng Việt của học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Tôi nhận thấy nếu kết hợp sử dụng hình thức trò chơi trong học tập môn Tiếng Việt trong dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao. Bởi vì : - Trò chơi giúp học sinh rèn luyện, củng cố, tiếp thu kiến thức đồng thời, phát triển vốn kinh nghiệm được tích lũy trong cuộc sống qua hoạt động chơi. - Trò chơi học tập nó là một hình thức hoạt động học tập, tạo ra bầu không khí trong lớp học dễ chịu, thoải mái làm cho học sinh tiếp thu kiến thức tự giác, tích cực trong tâm trạng hồ hởi, vui tươi. - Trò chơi phát huy năng lực cá nhân, rèn tính hòa nhập cộng đồng, nâng cao năng lực hợp tác đồng thời giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật, có tính đồng đội khi tham gia trò chơi học tập. - Trò chơi phát triển tư duy nhanh nhạy, óc sáng tạo, xử lí nhanh các tình huống khi tham gia trò chơi. Ngoài ra, trong năm học này, được tiếp cận, tập huấn các chuyên đề CCM của tổ chức Oxfam phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp tổ chức trò chơi, phương pháp sắm vai đã cung cấp cho tôi thêm nhiều ý tưởng sử dụng các trò chơi học tập vào giảng dạy nhằm phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp của học sinh. Mong muốn ý tưởng trên ngày càng hoàn thiện, giúp ích cho học sinh nên tôi chọn đề tài: "Dạy học Tiếng Việt 5 với một số trò chơi" II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI Có thể hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,...sự hiểu biết giữa các thành viên trong xã hội. Người ta thường giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ. Học sinh cũng vậy, ngôn ngữ thường là phương tiện duy nhất trong các buổi học trên lớp (nghe, đọc nói, viết). Trong quá trình dạy học, theo chương trình SGK trọng tâm là trang bị cho học sinh các kĩ năng Tiếng Việt dưới các hình thức Luyện tập, làm bài tập, phát hiện...Các kĩ năng ngôn ngữ hình thành cho học sinh trong các phân môn Tiếng Việt lớp 5 thường là trả lời câu hỏi; so sánh; làm theo mẫu; đặt câu; tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa; điền vào chỗ trống; đánh dấu vào câu trả lời đúng; xác định... Chỉ nghe thôi đã thấy khô khan, không cuốn hút học sinh. Có thu hút sự chú ý của học sinh thì cũng chưa huy động sự tư duy, kích thích sự sáng tạo của tất cả học sinh. Đó mới chỉ phát triển ngôn ngữ học sinh ở mức trung bình. Giáo viên thường không hiểu rõ và sâu sắc vai trò của trò chơi trong khi dạy học ở Tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng. Trò chơi trong quá trình dạy học ở Tiểu học không có nhiều, chủ yếu là do giáo viên sáng tạo, lồng ghép trong khi dạy giúp học sinh thay đổi không khí lớp học, tránh sự mệt mỏi. Nếu trong bài tập của một phân môn Tiếng Việt được tổ chức với một trò chơi, học sinh sẽ thật sự thoải mái, tư duy của các em sẽ tốt hơn và có nhiều sự sáng tạo. Hơn thế nữa là qua trò chơi không chỉ phát triển ở học sinh về mặt ngôn ngữ mà còn phát triển ở học sinh thái độ, tình cảm, ý thức kỉ luật tự giác, thẩm mĩ, thể lực... Vì vậy, dạy học Tiếng Việt 5 với trò chơi học tập thật sự quan trọng và cần thiết trong mỗi tiết học, trong mỗi phân môn của môn Tiếng Việt. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI - Vai trò của trò chơi trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng. - Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5. - Cách thiết kế trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5. - Sử dụng các trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5. PHẦN NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI 1. Thực trạng chung của nhà trường : Những năm học vừa qua, theo chương trình đổi mới SGK, đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt, việc sử dụng trò chơi học tập đối với một số giáo viên còn là hình thức hoặc có sử dụng trò chơi thì cũng gượng ép, miễn cưỡng. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy: Một số giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc đưa trò chơi học Tiếng Việt vào giảng dạy hoặc có đưa trò chơi vào giờ học cũng chỉ trong những giờ thao giảng. Tình trạng trên là do giáo viên chưa nhận thức được hết tác dụng, vai trò của trò chơi trong giờ học Tiếng Việt. Mặt khác, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi học tập thì chưa chọn lọc kỹ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu của bài học nên việc tổ chức trò chơi chưa thực sự hiệu quả. Với mục đích giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập. Qua đó, những kĩ năng giao tiếp ở các em sẽ ngày càng hoàn thiện và phát triển. Vì vậy, dạy học Tiếng Việt 5 với một số trò chơi là viêc làm có nhiều ích lợi. 2. Thực trạng của lớp dạy : Năm học 2009 - 2010, tôi được phân công dạy lớp 5A, trường Tiểu học Nguyễn Trãi. Lớp tôi có 26 học sinh trong đó có : 13 em nữ, 13 em nam, học sinh đồng bào dân tộc 17 em, học sinh dân tộc Kinh là 9 em nên việc giao tiếp của các em còn hạn chế, không mạnh dạn, thiếu tự tin. Các bài tập đưa ra đều các em khó hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng thiếu chiều sâu. Vốn hiểu biết của các em không được mở rộng. Các em không năng động, không có ham thích học Tiếng Việt. Với mong muốn lớp học của mình hoạt động sôi nổi hơn trong giờ học, đặc biệt là trong giờ học Tiếng Việt. Tôi thiết kế các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt đưa vào áp dụng trong các giờ học Tiếng Việt. 3. Cơ sở lí luận và thực tiễn Trong thực tế khi dạy học Tiếng Việt, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự tư duy và nhận thức trí tuệ của các em. Trò chơi học tập Tiếng Việt là những trò chơi được lồng ghép trong một giờ học, một hoạt động trong tiết học biến việc học tập trên lớp thành một cuộc chơi, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và rèn kĩ năng dễ dàng hơn, hào hứng hơn. Dạy học Tiếng Việt 5 với trò chơi cuốn hút học sinh tiểu học bởi các đặc trưng của nó: Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, không gò ép, bắt buộc. Động cơ chơi không nằm trong kết quả mà nằm trong quá trình chơi. Trò chơi mang tính tự do nên khi tham gia học sinh hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, trong hành động suốt quá trình vui chơi, do đó có thể phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình mà không bị phụ thuộc vào các yếu tố xung quanh, không bị người khác chi phối. Trong sự tự do vui chơi, trong không khí cổ vũ sôi nổi của tập thể, học sinh sẽ phát huy mọi khả năng vốn có của mình, làm cho quá trình nhận thức trở nên dễ dàng, hiệu quả hơn. Trò chơi là một hoạt động sáng tạo, đầy yếu tố mới mẻ, bất ngờ; nhiều trò chơi được sử dụng nhiều lần nhưng vẫn lôi cuốn người tham gia, người xem và người tổ chức. Bởi lẽ, cả quá trình chơi cùng kết quả vui chơi luôn là một ẩn số bất ngờ với tất cả. Trong khi tham gia, người chơi luôn thể hiện sự sáng tạo của mình, luôn tạo ra kịch tính, tạo ra những tình huống bất ngờ, khó dự đoán trước, khiến khán giả phải chăm chú, say sưa theo dõi. Dạy học Tiếng Việt với trò chơi học tập cùng lúc đáp ứng cả hai nhu cầu của học sinh, nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập. Trò chơi học tập tạo nên hình thức "chơi mà học, học mà chơi" đang được khuyến khích ở tiểu học và việc sử dụng trò chơi trong giờ học là biện pháp hữu hiệu nhất giúp học sinh học tập và tiếp thu kiến thức tốt hơn. Dạy học Tiếng Việt với trò chơi học tập sẽ kích thính sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình . Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách sử lý thông minh trong những tình huống phức tạp tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống để dễ dàng thích nghi với điều kiện mới của xã hội . Ngoài ra thông qua hoạt động trò chơi còn giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh thần cộng đồng trách nhiệm. Vì vậy trò chơi học tập Tiếng Việt rất cần thiết trong giờ học Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng và ở tiểu học nói chung. Giờ học Luyện từ & câu tại lớp 5A II. GIẢI PHÁP 1. Tìm hiểu Vai trò của trò chơi trong dạy học tiếng Việt a. Dạy học với trò chơi thực hiện chức năng luyện tập thực hành. Dạy học Tiếng Việt với trò chơi thực hiện chức năng của hoạt đ ... từ 4- 6 em và phải đủ trình độ. - Chuẩn bị bảng trò chơi Cùng về đích hình rắn kích thước, các bộ thẻ hình, xúc xắc, các vòng nhựa tròn đủ cho số nhóm đã phân. Đích Bắt đầu Nơi đặt thẻ ô Tiến hành : - GV cho các nhóm học sinh nhận một bảng trò chơi Cùng về đích, bộ ảnh chụp, thẻ tên nhân vật, các vòng nhựa màu khác nhau đủ cho các em trong nhóm và một xúc xắc hoặc thẻ số. - Các nhóm đặt úp bộ ảnh chụp, thẻ tên nhân vật vào vị trí nơi đặt bộ thẻ hình trên bảng trò chơi Cùng về đích. - Tất cả học sinh trong nhóm cùng đặt các chấm nhựa tròn của mình vào vị trí bắt đầu. Trong nhóm, lần lượt từng em đổ xúc xắc hoặc bốc thăm thẻ số. - Tùy theo số trên mặt xúc xắc hoặc số bắt thăm được mà em này sẽ di chuyển vòng nhựa của mình theo số các vòng tròn nhỏ trên bảng trò chơi Cùng về đích sau cho phù hợp. Nếu vòng nhựa của em vào vòng tròn màu đỏ lớn, em sẽ lấy một ảnh, thẻ tên nhân vật theo thứ tự từ trên xuống của bộ ảnh. - Em này xem ảnh và đặt 2- 3 câu về người trong ảnh, nhân vật có tên trong thẻ. Cả nhóm cùng xem ảnh và nhận xét câu miêu tả của bạn. - Sau khi thực hiện xong, em đặt ảnh chụp vào vị trí dưới cùng của bộ thẻ. Nếu vòng nhựa của em vào các vòng tròn nhỏ thì em hết lượt đi. - Trò chơi sẽ kết thúc khi tất cả các em trong nhóm cùng về đến đích hay tất cả các ảnh hoặc nhân vật đã được học sinh xem và miêu tả hết. Trò chơi "Tìm bạn" Mục tiêu: HS hiểu nghĩa từ, ghép đúng các cặp từ trái nghĩa. Tạo thói quen nhanh nhẹn cho học sinh Chuẩn bị: Thẻ từ ngắn dài ngày đêm chậm nhanh yêu ghét cao thấp chê khen nóng lạnh trên dưới Tiến hành: Giáo viên phát cho học sinh 1 thẻ từ. Học sinh đọc lại thẻ từ của mình. Một học sinh đính thẻ lên bảng. - Ví dụ: ngắn + Một học sinh khác tìm thẻ từ của mình trái nghĩa với nghĩa với thể từ này là dài. Trò chơi "Chọn ô số" Trò chơi sử dụng vào phân môn Tập làm văn, bài: Luyện tập tả người. Mục tiêu : - Giúp học sinh: Phát triển vốn từ ngữ miêu tả người, đặc biệt là các từ miêu tả về ngoại hình. Chuẩn bị : - Một bộ ảnh chụp nhiều người ở các độ tuổi, giới tính, nơi chốn khác nhau có đánh số từ 1 đến 9 . - Bảng phụ có kẻ sẵn ô số như sau : 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tiến hành: - Giáo viên gọi một học sinh lên bảng tham gia trò chơi . - Học sinh được gọi lên chọn một số bất kì trên bảng phụ. Sau đó giáo viên cử một học sinh khác dán bức ảnh có số tương ứng lên bảng, người chơi có nhiệm vụ miêu tả về người trong ảnh ( từ 2-3 câu ). - Giáo viên gọi tiếp một số học sinh khác tham gia trò chơi (số lượng phụ thuộc vào thời gian dành cho trò chơi). - Khi trò chơi kết thúc, giáo viên và cả lớp bình chọn người chơi miêu tả hay nhất. Học sinh nào có phiếu bình chọn nhiều nhất sẽ là người thắng cuộc. III. KẾT QUẢ - Giáo viên thấy rõ các vai trò và lợi ích của việc dạy học Tiếng Việt với một số trò chơi giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập .Bên cạnh đó hình thành đức tính trung thực, có kỉ luật, tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao. - Khi dạy học các phân môn Tiếng Việt có sử dụng các trò chơi học tập ở lớp 5, không khí trong những giờ học trở nên sôi nổi hơn, học sinh rất tích cực, các em chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh kiến thức, thích thú với những hình thức học tập mới lạ. Ngoài ra những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp của các em phát triển vượt bậc. Những học sinh giỏi thì ngày càng tự tin năng động, có trách nhiệm cao trong việc học tập còn những học sinh thụ động, học sinh nhút nhát thì trở nên tích cực hơn, bắt đầu biết chia sẻ, hợp tác với các bạn để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Trong số 26 học sinh lớp 5A của tôi áp dụng dạy học với trò chơi và một số biện pháp nâng cao chất lượng khác. Qua theo dõi và đối chiếu từng giai đoạn học tập của học sinh, tôi thấy học sinh có sự tiến bộ nhiều mặt, các kĩ năng của học sinh trở nên nhanh nhẹn. Chất lượng học tập của lớp có sự thay đổi rõ rệt. Cụ thể như sau: Loại Đầu năm học Học kì I Cuối năm học Giỏi 0 em = 0% 2 em = 7,8% 6 em = 23,2% Khá 6 em = 23,2% 8 em = 30,5% 10 em = 38,4% TB 14 em = 53,6% 13 em = 50,0% 10 em = 38,4% Yếu 6 em = 23,2% 3 em = 11,7% 0 em = 0% - Đối với giáo viên khi dạy học các môn Tiếng Việt cảm thấy nhẹ nhàng hơn, không còn nặng nề khi truyền thụ kiến thức cho học sinh. Vì kiến thức được các em tiếp thu một cách chủ động tích cực thông qua trò chơi. Kĩ năng sử dụng trò chơi của giáo viên linh hoạt hơn, thành thạo hơn. Giáo viên có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp nhất, đảm bảo rèn đúng kĩ năng cho học sinh theo mục tiêu bài tập. Từ đó khả năng sáng tạo được nâng lên một bước, Từ trò chơi đã có, giáo viên sáng tạo thêm và làm sâu sắc các trò chơi, giúp cho cho giáo viên thiết kế được nhiều trò chơi học tập một cách nhanh nhạy hơn. - Khi dạy học các phân môn Tiếng Việt với một số trò chơi, tôi đã tiếp nhận được rất nhiều ý kiến thắc mắc từ phía cha mẹ học sinh vì thấy trong tập vở của con em mình không ghi chép nhiều, có ít bài tập về nhà. Từ phía đồng nghiệp: Hoạt động chơi theo nhóm, nhiều nhóm chơi sẽ không có cơ hội đánh giá cá nhân học sinh. - Tôi đã giải thích cụ thể từng trường hợp. Qua một thời gian, tự phụ huynh thấy được các em trở nên nhanh nhẹn hơn, hoạt bát mạnh dạn hơn thích thú hơn khi đến trường và đặc biệt là các em thích học môn Tiếng Việt hơn. Ở lớp, khi các em chơi và ghi nhớ, sau đó các em về nhà hoàn thành bài tập ở trong vở bài tập. Như vậy ở lớp các em tham gia tập thể, về nhà tự củng cố lại. Các em sẽ ngày càng nắm vững kiến thức hơn. Đối việc đánh giá học sinh: Học sinh chơi theo nhóm sẽ có nhiều lợi ích như tôi đã trình bày ở trên. Nếu có nhiều nhóm chơi, đầu tiên chọn nhóm thắng cuộc, nhóm đó sẽ bình chọn cá nhân xuất sắc để giáo viên thưởng điểm 10, các thành viên còn lại điểm thấp hơn. Như vậy các nhóm sẽ thi đua, tham gia chơi sôi nổi, nhiệt tình. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: Khi được học Tiếng Việt với trò chơi các em thấy thoải mãi, tự tin mạnh dạn tham gia thể hiện trong các hoạt động. Từ đó những kĩ năng giao tiếp được phát triển. Sự say mê học tập của các em là nguồn động viên thúc đẩy tôi phải luôn sử dụng các trò chơi học tập vào tiết học. Đồng thời luôn tìm tòi, nghiên cứu thiết kế các trò chơi mới để lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Khi thiết kế, sáng tạo các trò chơi học tập cần lưu ý : - Phải phù hợp với mục tiêu bài học cũng như đặc trưng của từng phân môn cũng như tâm lí và đối tượng học sinh. - Giáo viên cần chú ý tới các khâu: chuẩn bị, tổ chức, phương tiện, cách đánh giá - Việc làm đồ dùng phục vụ cho trò chơi phải đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học. Khi sử dụng các trò chơi học tập cần lưu ý một số điều sau đây : - Trò chơi học tập phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện. - Trò chơi cần diễn ra trong một thời gian hợp lí, phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh. - Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập giúp tiết học đạt hiệu quả cao. - Không lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học gây cho học sinh sự mệt mỏi. - Tránh lặp đi lặp lại trò chơi học tập trong tiết học sẽ không hấp dẫn học sinh, không thu hút học sinh. - Việc đánh giá học sinh phải công bằng, khách quan, động viên các em là chính. II. KIẾN NGHỊ Để việc thực hiện dạy học ngày càng hiệu quả, theo kịp tiến bộ của khoa học và để sử dụng trò chơi học tập ở Tiểu học nói chung và ở môn Tiếng Việt nói riêng được hiệu quả cần có thêm sự hỗ trợ sau: - Lãnh đạo Phòng GD & ĐT cần tổ chức tập huấn, tiếp cận một số trò chơi mới như sắm vai, trò chơi dân gian, trò chơi tư duy.... - Nhà trường cần trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ dạy và học: bàn ghế, đồ dùng cho hoạt động nhóm, các phương tiện hiện đại, máy chiếu - Giáo viên thật nhiệt tình, tâm huyết với công việc giảng dạy của mình. Phải suy nghĩ tìm tòi và sáng tạo phương pháp dạy học mới tạo được sự thân thiện và sự hứng thú tích cực của học sinh. Phải thường xuyên thay đổi không khí lớp học bằng cách tổ chức các trò chơi học tập. Đặc biệt là tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt- môn công cụ để học các môn học khác. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Người thực hiện: Nguyễn Ngọc Lượng TÀI LIỆU THAM KHẢO - Nhóm tài liệu của Dự án Oxfam, Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn PEDC. - Trò chơi học tập cấp tiểu học - Nhà Xuất bản Đại học sư phạm - Dạy học lấy học sinh làm trung tâm - Nhà Xuất bản Đại học sư phạm - Hoàng Trung Thông, Đỗ Xuân Thảo (Chủ biên), "Rèn kĩ năng thực hành Tiếng Việt", Nhà xuất bản Giáo dục. - Lê Phương Nga "Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học", Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội - Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, "Trò chơi học tập tiếng Việt" Nhà xuất bản Thanh niên (2004) - Nguyễn Minh Thuyết "Hỏi đáp về dạy Tiếng Việt 5", Nhà xuất bản Giáo dục - SGK, Sách thiết kế bài dạy Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục. - Phương Anh, "Vui chơi và sự phát triển của trẻ", Báo Khoa học & Đời sống (2006) - Bạch Văn Quế, "Giáo dục bằng trò chơi", Nhà xuất bản Thanh niên (2002) . NHẬN XÉT Của hội đồng khoa học giáo dục Cấp cơ sở: - Cấp huyện (hoặc tỉnh)

Trò Chơi Tiếng Anh Dành Cho Trẻ Lớp 2 Luyện Tư Duy

Matching

Matching là một trong những trò chơi tiếng anh lớp 2 dành cho trẻ có cách chơi đơn giản nhưng rất hữu hiệu trong việc “dụ dỗ” trẻ học tiếng anh. Bố mẹ chỉ cần chuẩn bị một bìa carton khổ lớn, chia làm hai cột, một bên là các từ và một bên là tranh ảnh. Nhiệm vụ của trẻ là phải nối các từ với các hình sao cho trùng khớp với nghĩa. Mức độ trò chơi sẽ khó dần theo vòng chơi hoặc theo bài học.

Noughts and Crosses

Noughts and Crosses sẽ là trò chơi tiếng anh lớp 2 cực bổ ích trong việc giúp trẻ học từ vựng và biết cách đặt câu, hoàn thiện kỹ năng về mặt ngữ pháp.

Challenging (Trò chơi thách đấu)

Jumble words (Từ xáo trộn)

Jumble words cũng là một công cụ “trợ giảng” hữu hiệu tại nhà cho bố mẹ trong việc giúp trẻ nhớ từ. Cách chơi như sau: bạn có thể viết từ vào giấy, sau đó cắt rời thành từng mảnh, trộn lên và yêu cầu trẻ sắp xếp lại để có từ đúng.

Lucky number

Một trò chơi tiếng anh lớp 2 bạn không thể bỏ quên chính là Lucky number. Trò chơi này có vẻ sẽ quen thuộc với trẻ khi đã được chơi nhiều ở lớp. Nhưng bạn hoàn toàn có thể biến tấu để trò chơi được hấp dẫn hơn. Bước 1, bạn cần có các ô giấy ghi các con số ở một mặt, mặt còn lại sẽ ghi từ, hoặc câu kèm theo yêu cầu cần thực hiện và có một đến 2 ô mang số may mắn (mặt còn lại không có từ hay yêu cầu).

Mách nhỏ, để các ô đỡ nhàm chán, bạn có thể cắt các ô số theo nhiều hình dạng vui nhộn như bông hoa, chú bướm, xe ô tô,…Bước 2, bạn sẽ xếp các ô số theo thứ tự. Kế đến, bạn và trẻ lần lượt chọn con số. Nếu trúng ô may mắn, sẽ được hưởng trọn điểm. Với các ô còn lại, trẻ phải đọc từ và làm theo yêu cầu mới được tính điểm. Ví dụ, bạn có 10 số, trong đó số 2 và 8 là số may mắn. Khi trẻ chọn các ô còn lại có ghi từ “chair” kèm yêu cầu “Sit in a chair!” trẻ cần đến ghế và ngồi lên.

Trò chơi như thế sẽ giúp trẻ cùng lúc nhớ nghĩa của từ mà còn luyện khả năng đọc hiểu yêu cầu đề bài.

Những trò chơi tiếng Anh dành cho bé lớp 2 này rất đơn giản mà lại hiệu quả. Do đó, cha mẹ nên kiên trì dành thời gian giúp con yêu vừa chơi vừa học.

Bạn đang xem bài viết .Một Số Trò Chơi Dạy Học Luyện Từ Và Câu Lớp 2: trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!