Xem Nhiều 1/2023 #️ Một Số Biện Pháp Gây Hứng Thứ Để Giúp Trí Nhớ Học Tiếng Anh Về Ngữ Pháp Cơ Bản Và Từ Vựng Dang Sua Doc # Top 4 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 1/2023 # Một Số Biện Pháp Gây Hứng Thứ Để Giúp Trí Nhớ Học Tiếng Anh Về Ngữ Pháp Cơ Bản Và Từ Vựng Dang Sua Doc # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Gây Hứng Thứ Để Giúp Trí Nhớ Học Tiếng Anh Về Ngữ Pháp Cơ Bản Và Từ Vựng Dang Sua Doc mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phòng giáo dục đào tạo tam kỳTrường trung học cơ sở chu văn anNăm: 2005-2006

Sáng kiến kinh nghiệm

Đề tài:Một số biện pháp gây hứng thú để giúp trí nhớ học tiếng anh về ngữ pháp cơ bản & từ vựng

Người thực hiện: đặng tài

Tam Kỳ, 15/3/2006

I. ĐẶT VẤN ĐỀ CHUNGGIÚP TRÍ NHỚ ĐỂ HỌCMỘT SỐ ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ TỪ VỰNG TIẾNG ANH

Khả năng Nghe, Nói, Đọc, Viết sẽ biểu lộ rõ nét và phản ánh trung thực chất lượng và cấp độ năng lực sử dụng ngoại ngữ của một người bất kỳ (kể cả tiếng mẹ đẻ). Chính vì thế, đối với bộ môn ngoại ngữ thì bốn kỹ năng – Nghe, Nói, Đọc,Viết – là mục tiêu phấn đấu của người học và là mục đích truyền thụ của người dạyï, hay nói đơn phương, mục đích của người dạy là truyền thụ sao cho học sinh đạt được bốn kỹ năng trên. Trong nhà trường phổ thông, đối tượng người học là hocï sinh cùng độ tuổi, cùng có một khả năng nhất định không đồng đều về – Nghe , Nói, Đọc, Viết tiếng mẹ đẻ – gây sự khó khăn cho giáo viên trong giảng dạy bộ môn ngoại ngữ. Bên cạnh những bước lên lớp, những nguyên tắc sư phạm là kỹ năng truyền thụ mẫu mực thì yếu tố sinh động là một trong những tác nhân kích thích làm tăng tính hiệu quả truyền thụ và tiếp thu bài học. Thực hiện được điều nầy thì giờ dạy, giờ học sẽ trở nên nhẹ nhõm hơn, lại có tác dụng giúp người học nhớ nhạnh và nhớ được lâu hơn bài học của mình. Tiếc thay, có một điều bất lợi ở nước ta so với một số nước khác, rõ nét là giữa thành thị và nông thôn, là bộ môn ngoại ngữ (Tiếng Anh chẳng hạn) quá thiếu môi trường thực hành tiếng. Học sinh phổ thông của chúng ta chưa có phòng lab (language laboratory) để thực hành tiếng chứ đừng nói đến đem cái vốn ngoại ngữ của mình ra thử thách cùng ai (!) nên việc Nói – Nghe – Đọc – Viết dường như chỉ xảy ra giữa Thầy và Trò trong những giờ lên lớp; hay nói cách khác sở trường không có điều kiện để biến thành sở dụng nên rất dễ mai một. Qua quá trình học Tiếng Anh và qua một số năm dạy Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông , chúng tôi tích luỹ được một số kinh nghiệm có thể giúp cho học sinh phổ thông, nói riêng, và người học tiếng Anh, nói chung, nắm bắt một số điểm về ngữ pháp, từ, tiếng … nhanh hơn và dễ nhớ hơn, hầu có thể vớt vát được phần nào cái sự mai một kia. Đó chính là nội dung của tài liệu nầy và cũng là mục đích của tác giả. Tác giả xin cảm ơn sự đón nhận của các bạn và mong nhận được góp ý của đồng nghiệp và mọi người.Lưu ý! Một số thơ, vè … cần được đọc theo chú dẫn để hiệp vận với gạch nhịp (/) giúp dễ nhớ. Đây là chủ ý của tác giả.

Chính BÀI HÁT và vần này là bài học đầu tiên giúp học sinh đọc đúng và đủ Bảng Chữ Cái Tiếng Anh một cách dễ dàng nhất. Để hoàn thành bài dạy “Bài hát tiếng Anh” như đã trình bày, Giáo viên có thể mở rộng thêm bằng cách gọi nguyên âm (VOWEL) trong tiếng Anh thành “UỂ OẢI” trong tiếng Việt để kích thích sự tò mò, gây hứng thú khi tiếp thu bài học vì chữ “uể oải” trong tiếng Việt khi đọc lên sẽ có một cái gì đó gần gần như đọc chữ “vowels” trong tiếng Anh, lại thêm 5

Một Số Biện Pháp Gây Hứng Thứ Để Giúp Trí Nhớ Học Tiếng Anh Về Ngữ Pháp Cơ Bản Và Từ Vựng Skkntai Doc

Phòng giáo dục đào tạo tam kỳTrường trung học cơ sở chu văn anNăm: 2004-2005

Sáng kiến kinh nghiệm

Đề tài:Một số biện pháp gây hứng thú để giúp trí nhớ học tiếng anh về ngữ pháp cơ bản & từ vựng

Người thực hiện: đặng tài

Tam Kỳ, 15/3/2005

1.ÂÀÛT VÁÚN ÂÃÖ CHUNGGIÚP TRÍ NHỚ ĐỂ HỌCMỘT SỐ ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ TỪ VỰNG TIẾNG ANH

Khả năng Nghe, Nói, Đọc, Viết sẽ biểu lộ rõ nét và phản ánh trung thực chất lượng và cấp độ năng lực sử dụng ngoại ngữ của một người bất kỳ (kể cả tiếng mẹ đẻ). Chính vì thế, đối với bộ môn ngoại ngữ thì bốn kỹ năng – Nghe, Nói, Đọc,Viết – là mục tiêu phấn đấu của người học và là mục đích truyền thụ của người dạyï, hay nói đơn phương, mục đích của người dạy là truyền thụ sao cho học sinh đạt được bốn kỹ năng trên. Trong nhà trường phổ thông, đối tượng người học là hocï sinh cùng độ tuổi, cùng có một khả năng nhất định không đồng đều về – Nghe , Nói, Đọc, Viết tiếng mẹ đẻ – gây sự khó khăn cho giáo viên trong giảng dạy bộ môn ngoại ngữ.Bên cạnh những bước lên lớp, những nguyên tắc sư phạm là kỹ năng truyền thụ mẫu mực thì yếu tố sinh động là một trong những tác nhân kích thích làm tăng tính hiệu quả truyền thụ và tiếp thu bài học. Thực hiện được điều nầy thì giờ dạy, giờ học sẽ trở nên nhẹ nhõm hơn, lại có tác dụng giúp người học nhớ nhạnh và nhớ được lâu hơn bài học của mình.Tiếc thay, có một điều bất lợi ở nước ta so với một số nước khác, rõ nét là giữa thành thị và nông thôn, là bộ môn ngoại ngữ (Tiếng Anh chẳng hạn) quá thiếu môi trường thực hành tiếng. Học sinh phổ thông của chúng ta chưa có phòng lab (language laboratory) để thực hành tiếng chứ đừng nói đến đem cái vốn ngoại ngữ của mình ra thử thách cùng ai (!) nên việc Nói – Nghe – Đọc – Viết dường như chỉ xảy ra giữa Thầy và Trò trong những giờ lên lớp; hay nói cách khác sở trường không có điều kiện để biến thành sở dụng nên rất dễ mai một. Qua quá trình học Tiếng Anh và qua một số năm dạy Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông , chúng tôi tích luỹ được một số kinh nghiệm có thể giúp cho học sinh phổ thông, nói riêng, và người học tiếng Anh, nói chung, nắm bắt một số điểm về ngữ pháp, từ, tiếng … nhanh hơn và dễ nhớ hơn, hầu có thể vớt vát được phần nào cái sự mai một kia. Đó chính là nội dung của tài liệu nầy và cũng là mục đích của tác giả.Tác giả xin cảm ơn sự đón nhận của các bạn và mong nhận được góp ý của đồng nghiệp và mọi người.Lưu ý! Một số thơ, vè … cần được đọc theo chú dẫn để hiệp vận với gạch nhịp (/) giúp dễ nhớ. Đây là chủ ý của tác giả.

II. GIAI QUYET VA DAT VAN DE CHO TUNG MUC1. BÀI HÁT VỀ BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG ANH THE ALPHABET SONGsau đây là bài thơ theo vần RHYME và bài hát đã in trong nhiều sách giáo khoaTHE ALPHABET SONG & RHYME.A(ei( B(bi( C(ci( D(di( E(i:( F(ef( G(dzi(.H(eit(( I(ai( J [dzei] K(kei( L(el( M [em]N(en( O(ou( P(pi( Q(kju( R(a:( S(es( T(ti:( U(ju:( V(vi:( W(d(blju( X(eks( Y(wai( Z (zed( oh,well, you see.Now I know the ABC!

Chính BÀI HÁT và vần nầy là bài học đầu tiên giúp học sinh đọc đúng và đủ Bảng Chữ Cái Tiếng Anh một cách dễ dàng nhất. Để hoàn thành bài dạy “Bài hát tiếng Anh” như đã trình bày, Giáo viên có thể mở rộng thêm bằng cách gọi nguyên âm (VOWEL) trong tiếng Anh thành “UỂ OẢI” trong tiếng Việt để kích thích sự tò mò, gây hứng thú khi tiếp thu bài học vì chữ “uể oải” trong tiếng Việt khi đọc lên sẽ có một cái gì đó gần gần như đọc chữ “vowels” trong tiếng Anh, lại thêm 5 nguyên âm đơn trong tiếng Anh là

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3.

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 3

I.1: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo các thế hệ học sinh thành những con người năng động,sáng tạo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .Những con người biết tiếp thu tri thức khoa học kĩ thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp,phương pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội .Thì giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu .Nhờ có giáo dục mới đào tạo các thế hệ tương lai của đất nước . Để đạt được những thành quả nói trên,các em phải trải qua các cấp học từ mẫu giáo đến đại học và sau đại học vì vậy môn tiếng việt ở tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh .Mục tiêu của môn tiếng việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (đọc,viết , nghe ,nói ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của trẻ. Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người, nền văn học Việt Nam và nước ngoài.Đồng thời bồi dưỡng tình yêu tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng việt góp phần hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa. Chương trình tiếng việt lớp 3 các em phải học gồm 6 phân môn . Mỗi phân môn có một nhiệm vụ quan trọng, đối với phân môn tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kĩ năng đọc:đọc thành tiếng và đọc hiểu nghe và nói.Bên cạnh đó thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm, Các em đọc đúng và đọc trôi chảy,rành mạch câu, đoạn, bài và biết được cách đọc thầm hiểu được nội dung chính của bài nhằm khai thác nội dung bài đọc cung cấp cho các em những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người,cung cấp vốn từ, cách diễn đạt những tác phẩm văn học như đề tài,cốt truyện,nhân vật,góp phần hình thành nhân cách học sinh.Phân môn luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt bằng con đường quy nạp và kĩ năng dùng từ đặt câu khi nói và viết bỗ sung thêm từ ngữcho phần đọc.phân môn chính tả chủ yếu rèn cho học sinh viết chữ hoa,viết được đoạn văn,khổ thơ bằng cách nghe viết,hoặc nhớ viết,các emviết đúng chính tả,trình bày sạch sẽ.Bên cạnh đó, học sinh phải làm một số bài tập để nắm vững từ ngữ và biết cách dùngtừ đặt câu cho phù hợp.Phân môn tập làm văn giúp học sinh biết làm mẫu đơn theo hướng dẫn,viết được đoạn văn tả ngắn về người thân,biết diễn đạt ý trọn vẹn, Ở phần đọc yêu cầu các em đọc đúng,rõ ràng rành mạch các đoạn đối thoại,các văn bản nghệ thuật, hành chính báo chí,tốc độ đọc nhanh hơn lớp 2.Biết dựa vào câu hỏi trả lời ýchính của bài,biết nhận xét một số hình ảnh nhân vật hoặc đặt tên cho đề bài cốt truyện, biết kể chuyện từng đoạn dựa vào phần gợi ý ở sách giáo khoa.Ở phần viết yêu cầu các em viết đúng chính tả rõ ràng,biết tìm hình ảnh so sánh,nhân hóa trong khổ thơ,đoạn văn.Qua thực dạy trên lớp,tôi nhận thấymột số học sinh vẫn học chưa tốt các em đọc và viết thể hiện ý vănchưa trọn vẹn,dùng từ đặt câuchưa đúng,viết chưa chính xác từ ngữ. vì vậy tôi mạnh dạn viết ra đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 3”2) Nội dung và cách thức thực hiên giải pháp biện pháp : Để học tốt môn tiếng việt,trước hết các em phải đọc và viết tốt,nói và viết cho trọn câu,dùng từ đặt câu cho phù hợp biết dùng các dấu câu trong đoạn văn phù hợp với nội dung cần thể hiện.Biết nghe và khi nhận thông tin xử lí thông tin nhanh chống .Vì vậy những nội dung tôi quan tâm nghiên cứu thực hiện đó là: Giải pháp thứ nhất: Dạy học sinh biết thể hiện giọng điệu ngắt nghỉ,đọc đúng,đọc trơn câu văn,đoạn văn,bài thơ và trả lời câu hỏi trong giờ tập đọcvà kết hợp cử chỉ điệu bộ khi kể chuyện. Khi dạy bài tập đọc hay bài học thuộc lòng trong chương trình tiếng việt lớp ba,trước hết giáo viên phải bám vào mục đích yêu cầu của bài soạn,bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng.Trong giờ dạy tập đọc chủ yếu rèn luyên cho học sinh hai kĩ năng: Kĩ năng đọc thành tiêng và kĩ năng đọc hiểu.Đối với từng bài dạy khi mở bài giáo viên dùng tranh ảnh,vật thật để giới thiệu bài có nội dung hướng học sinh vào bài học hôm nay,khi đọc giáo viên đọc mẫu bài giọng đọc rõ ràng,đọc đúng từng câu biết cách ngắt nghỉ sau những câu văn có cụm từ dài hay sau những dấu câu.Biết nhấn giọng những câu đối thoại giữa nhân vật hay sự vật hiện tượng một cách tự nhiên không bị gò bó tạo cho học sinh thấy được sự hấp dẫn ở phần đọc.Sau đó người giáo viên điều khiển cách đọc cho học sinh,học sinh biết dấu hiệu một câu,dấu hiệu một đoạn,hay một bài thơ có mấy khổ thơ.Khi đọc các em phải đọc ngắt, nghỉ ở dấu câu,đọc đúng từ ngữ trong câu .Chẳng hạn,trong quá trình học học sinh hay mắc lỗi đọc từ có phụ âm s/x ;tr/ ch; l/n và vần iêt/ iêc; oi/ oai; ưu/ ươu; ât/âc; um/uôm….. Để đọc đúng các âm vần trong từ ngữ thì giáo viên phải dùng phương pháp làm mẫu phối hợp răng, lưỡi, miệng để học sinh quan sát cách phát âm của giáo viên mà đọc.Ngoài ra giáo viên dùng các đồ dùng trực quan để đi sâu khai thác kênh hình và kết hợp kênh chữ gây hứng thú học tập cho các em .Khi đọc đoạn văn có nhiều câu đối thoại của nhân vật hay những câu có dấu chấm than thì giáo viên phải nhấn giọng để tạo ra hình ảnh gợi hình gợi cảm lôi cuốn người đọc.Trong khi luyện đọc cho học sinh giáo viên theo dõi cách đọc câu,đoạn, cách ngắt nghỉ trong câu để phát hiệncáichưa chính xác,kịp thời sửa cho các em.Giaó viên không để cho học sinh đọc tự do,mà phải hướng dẫncho các em đọc . Học sinh đọc phần luyện đọc thì tiếp đến giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, những bài có câu hỏi khó giáo viên có thể tách ra những câu hỏi nhỏ và gợi ý cho các em trả lời tránh tình trạng dùng câu hỏi lặp đi lặp lại nhiều lần để hỏi học sinh .Gây hứng thú cho các em khi trả lời nội dung câu hỏi.Giáo viên phải đầu tư cả hình thức nội dung để tiết học có hiệu quả chọn phương pháp sử dụng cho phù hợp mang lại kiến thức mới cho học sinh đạt hiệu quả nhất.Khi luyện đọc lại bài thường đọc theo cách phân vai có thể các em chọn vai và nhập vai đọc chọn vai và nhập vai theo nhân vật có thể các em chọn vai và đọc thành từng nhóm.Nhóm nào đọc tốt nhất thì đọc mẫu,giáo viên nhận xét sau đó rút kinh nghiệm để các nhóm đọc chưa chính xác thì đọc chính xác hơn .Cho các nhóm thi đọc lại với nhau rồi tự nhận xét giữa các nhóm và giáo viên nhận xét đánh giá khả năng đọc của từng nhóm . * VÍ DỤ: Tập đọc: Người mẹ ( SGK Trang 39 tập một lớp3 )Khi dạy phần luyện đọc theo đoạn . Giaó viên chọn đoạn4. -Thấy bà,Thần Chết ngạc nhiên hỏi: -Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây-Bà mẹ trả lời:-Vì tôi là mẹ.Hãy trả con cho tôi. Giaó viên hướng dẫn cách đọc đoạn trên: cách ngắt,nghỉ ở chỗ câu có dấu phẩy thì nghỉ ngắn hơi hơn so với dấu chấm và ngắt nghỉ nhấn giọng đúng chỗ ở câu hỏi và câu trả lời của nhân vật . Thể hiện giọng đọc các nhân vật(bà mẹ,Thần Chết,Người dẫn chuyện: Giaó viên hướng dẫn giọng đọc từng nhân vật như sau giọng Thần chết ngạc nhiên,giọng người mẹ khi nói câu:vì tôi là mẹ giọng điềm đạm khiêm tốn, khi yêu cầu Thần Chết:Hãy trả con cho tôi giọng dứt khoát. – Thấy bà/Thần Chết ngạc nhiên/hỏi://.- Làm sao ngươi có thể tìm đếntận nơi đây// – Bà mẹ trả lời:// -Vì tôi là mẹ.//Hãy./ trả con cho tôi.//Sau khi đã hướng dẫn đoạn văn trên, giáo viên cho học sinh đọc cá nhân, chú ý cách đọc của từng học sinh, học sinh đọc chưa chính xác từ ngữ, cách nhấn giọng giữa nhân vật, giáo viên hướng dẫn lại cho học sinh đọc lại đoạn đó, từ đó khắc phục học sinh đọc và đọc chính xác. Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc cách phân vai các nhân vật, rồi phân học sinh thành bốn nhóm cho các nhóm luyện đọc.Sau đó gọi từng nhóm lên đọc các nhóm còn lại theo dõi nhận xét -đánh giá để các em rút kinh nghiệm.Cuối giờ luyện đọc cả lớp bình bầu nhóm bạn đọc hay nhất tuyên dươngvà khen thưởng. Bên cạnh giờ tập đọc,có nửa tiếtdành cho kể chuyện,chủ yếu ở tiết này rèn kĩ năng nói:Dựa vào các gợi ý trong sách giáo khoa học sinh biết nhập vai kể lại được từng đoạn của câu chuyện theo lời nhân vật.Các em biết thay đổi giọng kể phù hợp với nội dung,biết phối hợp lời kể với điệu bộ,nét mặt. Rèn kĩ năng nghe:Chăm chú theo dõi bạn kể chuyện,biết nhận xét đánh giá lời kể của bạn,kể tiếp được lời kể của bạn. Ví dụ: Kể lại đoạn ba và đoạn bốn trong bài “Người mẹ” Đoạn 3. Bà đến một hồ lớn.Không có một bóng thuyền.Nước hồ quá sâu.Nhưng bà nhất định vượt qua hồ để tìm con .Hồ bảo:– Tôi sẽ giúp bà,nhưng bà phải cho tôi đôi mắt .Hãy khóc đi,cho đến khi đôi mắt rơi xuống. Bà mẹ khóc,nước mắt tuôn rơi lã chã,đến nổi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ,hóa thành hai hòn ngọc.Thế là bà được đưa đến nơi ở lạnh lẽo của Thần Chết. Đoạn 4. Thấy bà thần chết ngạc nhiên ,hỏi:– Làm sao ngưoi có thể tìm đến tận nơi đây ?– Bà mẹ trả lời :– Vì tôi là mẹ.Hãy trả con cho tôi. Khi kể hai đoạn trên giáo viên phân vai các nhân vật (người dẫn chuyện,bà mẹ,Thần Chết,Hồ nước ) hướng dẫn học sinh nhập vai nhân vật. Học sinh nhớ lại chuyện kể lại đoạn chuyện thể hiện nhấn giọng từng từ ngữ:nhỏ xuống,tuôn rơi lã chã,hãy khóc đi, đôi mắt hóa thành hai hòn ngọc…giọng kể người mẹ điềm đạm,khiêm tốn nhưng cương quyết, tha thiết toát lên được sự sẳn lòng hi sinh của người mẹ trên đường đi tìm con .Nhân vật Thần Chết khi thấy người mẹ ngạc nhiên.Từng học sinh nhập vai nhân vật khi kể kết hơp mọi cử chỉ và thể hiện điệu bộ, nét mặt phù hợp với từng nhân vật .Giaó viên tổ chức cho các em thi kể chuyện theo nhóm,các nhóm nhập vai nhân vật và trình bày đoạn truyện như đã hướng dẫn.Đại diện từng nhóm thi kể, sau đó giáo viên và các nhóm nhận xét,đánh giá chọn ra nhóm kể hay nhất tuyên dương trước lớp Song song với việc dạy luyện đọc kể chuyện cho học sinh thì kĩ năng thực hành viết, nghe viết không kém phần quan trọng Giải pháp thứ hai:Thực hành luyện viết: Trong phần cơ sở lí luận chúng ta đã biết phương pháp luyện tập là rất cần thiết đối với học sinh Tiểu học. Thật vậy,trong giờ dạy tập viết,chính tả kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh được phải thể hiện thành kĩ năng, kĩ xảo.Muốn vậy, cần phải thường xuyên luyện tập thực hành cho học sinh. Việc luyện tập ở đây có nghĩa là luyện đọc và luyện viết.Khi học sinh luyện tập chữ viết giáo viên cần uốn nắn cách ngồi viết với nhiều hình thức luyện tập Tập viết chữ vào bảng con học sinh luyện tập viết bằng phấn hoặc bút bảng để trước khi viết vào vở, những chữ cái vần khó giáo viên hướng dẫn kĩ cách viết , những chữ viết chưa chính xác để dễ sữa chữa bằng dẻ lau, từ đó học sinh luyện viết vào vở. Muốn học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết giáo viên cần hướng dẫn tỉ mĩ nội dung và yêu cầu về kĩ năng . Viết ở từng bài ( mẫu chữ,các dấu chỉ khoảngcách giữa các chữ,dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét) giúp các em viết đủ,viết đúng số dòng quy định. Ngoài ra,giáo viên cho học sinh viết thêm các tiếng ngoài bài. cho học sinh viết càng nhiều càng tốt . Giáo viên có thể quán xuyến được lớp, bám sát học sinh .Giáo viên phân nhóm cho học sinh viết ở nhà, khi học sinh viết đúng được từ ngữ, câu, chuyển sang giai đoạn viết chính tả học sinh viết đúng một đoạn văn,bài thơ học sinh nhìn bảng giáo viên viết mẫu học sinh viết vào vở . Đối với những loại bài nghe viết học sinh viết một bài hoặc một đoạn văn dài trên 70 tiếng,học sinh viết đúng chính tả, trình bày chữ viết đẹp và cẩn thận. Khi dạy chính tả giáo viên đọc to chậm rãi từ ngữ,câu,phát âm đúng những từ ngữ học sinh hay mắc lỗi có phụ âm ( c/ k; g/gh; ng/ g; l/n; s/x ) Cùng với một số vần như ( an/ ang;ac/at; ưu/ ươu; ât/ ăc…)và những tiếng lẫn lộn giữa (dấu hỏi và dấu ngã ) để các em viết đúng. khi học sinh viết giáo viên cho học sinh đánh vần trước các âm,vần khó và luyện viết ở bảng con nhiều lần. khả năng một số em đọc tốtthì các em viếtnhanh, chính xác . Bên cạnh đó còn một số học sinh chưa đọc thành thạo, khả năng nghe và viết chưa tốt .Để giúp các em viết đúng chính tả giáo viên đọc chậm từng câu nhiều lần quan sát cách viết xem các em viết được chưa mà điều chỉnh khi đó các em mới hoàn thành bài viết . Cuối giờ chính tả, còn thời gian làm lại các bài tập phân biệt tiếng có âm đầu và vần để tạo thành tiếng, từ, viết đúng chính tả . Mục đích giúp các em viết đúng chính tả. Ngoài hai giải pháp vừa nêu trên,giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, biết nghe và trả lời câu hỏi phục vụ cho việc học tập và giao tiếp . Giải pháp thứ ba: Thực hành kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu khi nói và viết để học tốt môn luyện từ và câu và môn tập làm văn: Ở lớp 3, phân môn luyện từ và câu giúp các em mở rộng vốn từ,biết đặt các kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì ? Ai thế nào? Và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy. ngoài ra , có những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi khi nào? ở đâu ? như thế nào? Và các dấu câu,dấu chấm,dấu chấm hỏi,dấu chấm than,dấu phẩy…. ngoài ra dưạ vào khổ thơ đoạn văn tìm các hình ảnh so sánh hay nhân hóa.Khi dạy các dạng bài trên đặt câu thì giáo viên luôn hướng cho học sinh biết mỗidạng có cách đặt câu khác nhau .Khác ở cách dùng từ,nghĩa của các từ trong câu .Để hỏi và trả lời câu hỏi có nội dung cần gì ?Ví dụ :Tìm các bộ phận câu :-Trả lời câu hỏi Ai(cái gì,con gì) ?-Trả lời câu hỏi Làm gì ?a)Đàn Sếu đang sải cánh trên cao.b)Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về.c)Các em tới chỗ ông cụ,lễ phép hỏi.Giaó viên giúp học sinh nắm yêu cầu của bài.Đây là những câu đặt theo mẫu câu Ai làm gì ?nhiệm vụ các emlà tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi ai(cái gì, con gì)và bộ phận câu trả lời cho câu hỏi làm gì ?) Sau đó giáo viên chỉ định từng cặp học sinh khá giỏi lên tìm ý a a)Đàn Sếu/đang sải cánh trên cao. Congì ? làm gì ?Giáo viên gọi học sinh nhận xét cặp bạn tìm đã chínhxác chưa ? Học sinh trả lời bạn làm đã chính xác rồi.Giaó viên chỉ định từng cặp học sinhlên tìmb)Sau một cuộc dạo chơi,đám trẻ/ ra về. Ai ? làm gì ?

c) Em yêu nhà em Hàng xoan trước ngõ Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùmKhi dạy bài trên giáo viên gọi học sinhđọc kĩ yêu cầu của bài,học sinh đọc lần lượt từng câu thơ.Giáo viên hướng dẫn trước hết các em tìm những hình ảnh sự vật hiện tượng ở trongkhổ thơ.sau đó,ta thấy các sự vật trên so sánh như thế nào?Từ đó,các em tìm sự vật được so sánh a)Hai bàn tay em Như hoa đầu cành

b) Mùa đông, trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè,trời là cái bếp lò nung.

Đạt Chưa đạtCK I 24(92,3%) 2 (7,7%)

4KẾT LUẬN: Việc áp dụng một số giải pháp trong môn tiếng việt lớp 3 tôi đã đạt những bước tiến bộ rõ rệt.Học sinh tiếp thu bài nhanh, viết ít mắc lỗi chính tả,khả năng nhận biết các kiểu câu dễ dàng hơn so với trước.Cách diễn đạt ý văn trọn vẹn giúpngười đọc hiểu được vấn đề cần thể hiện trong bài. Các phương pháp phải được áp dụng một cách đồng bộ, thường xuyên và linh hoạt. Không có phương pháp nào là vạn năng và chẳng có phương pháp nào là tối ưu cả, mà tối ưu hay không là phụ thuộc chủ yếu vào cách sử dụng của GV vào điều kiện cụ thể của đối tượng HS lớp mình, tùy nội dung từng bài mà quyết định áp dụng một hay một số phương pháp thích hợp. GV cần lưu ý làm mới cách tổ chức các hoạt động học để luôn hấp dẫn các em. Giáo viên phải tận tụy, nhiệt tình, theo dõi sát sao từng HS, qua đó phát hiện những thiếu sót của từng em, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục cho từng nhóm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời; có hiệu quả, không nôn nóng, không vội vã để rồi quở trách HS. Cần có sự đánh giá, rút kinh nghiệm qua từng tháng, học kỳ để kịp thời điều chỉnh phương pháp nhằm đạt hiệu quả tốt nhất. Phải có sự hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ từ phía phụ huynh HS để việc áp dụng các biện pháp được thuận lợi, có hiệu quả.

Phương Pháp Dạy Và Học Tiếng Nhật Cơ Bản.doc

Embed Size (px)

DESCRIPTION

Phương Pháp Dạy Và Học Tiếng Nhật Cơ Bản

Ngun tham kho ti: Trung Tm Ting Nht H Ni

Dy ting Nht cn c nhng phng php v cch thc ring t c hiu qu nh mong mun. xin chia s mt s phng php dy hc ting Nht, dnh cho nhng ngi mi bt u. Nn nh, vic hc khng ch l hc tng th ring l di y, m phi bit cch kt hp, vn dng hiu qu tt c cc k nng v kin thc hc. Khng ch vy, trc khi hc, bn cng nn t ra mt mc tiu r rng, t a ra phng n ti u sp xp thi gian v tp trung tinh thn vo vic hc

1. Hc t vng v pht m- Tp pht m t vng theo cc bi nghe trong gio trnh c ngi bn ng pht m- Nghe ngi dy pht m v vit li. Vit cho n khi no bn c th t mnh vit ra c t vng m khng cn s dng bi nghe.2. Hc t mi- u tin bn nn in cc b, cng nh ch Hn theo dng Flashcard: L mt dng th t mi (Mt mt l ting Nht, mt mt l ngha), rt tin dng, c th b ti o ti qun, lc no rnh th b ra n mt lt. Cc bn c th vit tay hoc nh my ri in ra cng c.- Khng nn hc cch vit ngay t u m nn nh c mt ch ln sau ch cn nhn vo ch c th c c v bit c ngha- Cc bn ch khi hc t mi bn nn va vit v va va c thnh ting, nh vy s nh rt nhanh. Nhng bn phi pht m cho chun theo ngi Nht hoc theo bng i. y l iu quan trng cho cc bn luyn nghe sau ny.

3, Ng phpNg php ting Nht rt rm r, d gy nhm ln. Mun hc c ng php ting Nht cn phi:- Nm r c ngha v cch dng ca mu cu- t cu tng ng vi ting Vit- Phn bit vi nhng mu cu d gy nhm ln- ng dng tht nhiu trong tng bi cnh, tnh hung2, Nghe- Nn to cho mnh mi trng nghe ting Nht hng ngy thng qua cc bn tin, ca nhc, phim nh Nht Bn- Luyn nghe theo cc bi hc trong gio trnh- Khi nghe c th memoch thch ni dung m mnh nghe c

Cc bn c th tham kho cc phng php hc ting nht hiu qu ti website Vy nh. Chc cc bn lun thnh cng trong cuc sng. D rng cc bn lm ngh g? Hc g? cng cn c am m nh. Ngoi ra phi lun hc hi, hc trng, bn b, thy c, i sng lun c s pht trin. Nu khng hc th chng ta s b tt kin thc so vi thi chúng tôi thng tin xin lin h:TRUNG TM TING NHT SOFLa ch: S 365 – Ph vng – ng tm -Hai B Trng – H NiEmail: nhatngusofl@gmail.comin thoi: (84-4) 62 921 082 Hoc: (84-4) 0964 66 12 88

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Gây Hứng Thứ Để Giúp Trí Nhớ Học Tiếng Anh Về Ngữ Pháp Cơ Bản Và Từ Vựng Dang Sua Doc trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!