Xem Nhiều 2/2023 #️ Giới Thiệu Sơ Lược Về Tiếng Phạn # Top 7 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Giới Thiệu Sơ Lược Về Tiếng Phạn # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Sơ Lược Về Tiếng Phạn mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bộ môn Cổ ngữ Giới thiệu sơ lược về tiếng Phạn TT Thích Nguyên Giác

iếng Phạn là ngôn ngữ cổ nhất trong họ ngôn ngữ của người Aryan Ấn Độ, một chi nhánh của họ ngôn ngữ Indo-Iranian thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Nó phát triển về hướng Đông và đã hình thành một nền văn học lớn có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc thuộc miền Đông Nam châu Á như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Nam Dương, Phù Nam, Chiêm Thành v.v… Bằng tiếng Phạn, ta có những tác phẩm văn học lớn như RigVeda, Skauntalà của Kàlidasa, các bộ sử thi như Mahàbhàrata, Ràmayàna,những tác phẩm triết học như Brhadupanisad, Samkhyakàrikà, Vaisesikakàrikà, các tác phẩm ngữ học của Pànini và Patanjali v.v… và đặc biệt những kinh điển Phật giáo nổi tiếng đã được nhiều dân tộc trên thế giới học tập và truyền dịch. Cho nên, nói đến tiếng Phạn là nói đến văn học, triết học, khoa học kỹ thuật của Ấn Độ cổ đại và trung đại.

Theo hiểu biết hiện nay, những từ tiếng Phạn đầu tiên xuất hiện trong một văn bản tiếng Hit-ti dạy về thuật cưỡi ngựa cách đây 3.500 năm, được tìm thấy ở vùng Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Từ vùng đất Tây Á này, những người nói tiếng Phạn tiến về bình nguyên sông Ấn (Indus) và sông Hằng ( Ganges), họ mang theo các bài thơ tế thần của tổ tiên đồng thời sáng tác thêm những bài mới phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng. Những bài thơ này tập thành các bộ Vệ Đànguyên thủy dưới dạng tiếng Phạn cổ. Bộ xưa nhất của nó là Rigvedađược hình thành vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước Tây lịch. Bài thơ tế thần sớm nhất được biết đến hiện nay chậm lắm là vào khoảng năm 1000 trước TL. Tại những bình nguyên ấy, họ hình thành những nước cộng hòa khác nhau, cho đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây lịch, thời Đức Phật (563-483 trước TL), vẫn còn 16 nước cộng hòa nổi tiếng với nền văn học Bramana và Upanisad, bộ luật Manu và các tác phẩm ngữ học như Astàdhyàyi. Sự ra đời của những công trình văn học này trước hết xuất phát từ quá trình ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Phạn và các thổ ngữ của cư dân bản địa trong điều kiện chưa có chữ viết và việc truyền thừa chỉ dựa vào phương tiện truyền khẩu duy nhất. Điều này khiến các bộ Vệ Đàbị thay đổi ít nhiều, và dần dần trở nên khó hiểu, dẫn đến nhu cầu phải có những giải thích về âm học, ngữ nghĩa cùng các quy định về cú pháp. Sự ra đời của tác phẩm Astàdhyàyi của Pànini đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử tiếng Phạn, giai đoạn hình thành tiếng Phạn tiêu chuẩn mà người phương Tây thường gọi là tiếng Phạn cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt với tiếng Phạn thời Vệ Đà (Vedic Sanskrit).

Đến khi Asoka (268-233 trước TL) thống nhất toàn bộ Ấn Độ, ông đã sử dụng mẫu tự Bràhmi và Kharosthi để khắc lên bia đá những sắc lệnh của mình. Thế là tiếng Phạn lần đầu tiên được ghi nhận xuất hiện tại Ấn Độ bằng văn bản và chữ viết. Nhưng phải đến thời vua Rudradamàn (thế kỷ thứ II sau TL) của vương triều Saka, một văn bản hoàn chỉnh bằng tiếng Phạn mới xuất hiện và ngày nay đã tìm thấy.

Nhờ sự đỡ đầu chính trị từ những người cầm quyền có gốc nước ngoài ở phía Tây Ấn Độ từ những thời xa xưa, sau đó lại được vương triều Guptas và giai cấp mới ksatriya dùng làm ngôn ngữ chính thức, tiếng Phạn dần dần trở thành ngôn ngữ thống trị trong các lãnh vực bi ký, thi ca, tiểu thuyết, triết học, hành chánh, y học, toán học, kỹ thuật v.v… trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Tây lịch, để hình thành nên một nền văn học lớn của Ấn Độ.

Tuy nhiên, tiếng Phạn tiêu chuẩn tuân thủ theo những quy tắc ngữ pháp do Pànini trình bày thường chỉ dành riêng cho học thuật, hành chánh, còn trong quần chúng lại thông dụng một dạng tiếng Phạn địa phương có những khác biệt so với các quy tắc do Pànini trình bày ở các mức độ khác nhau. Loại Phạn ngữ này thường được gọi là Phạn ngữ anh hùng ca, Phạn ngữ hỗn chủng Phật giáo, Phạn ngữ địa phương v.v… được tìm thấy trong hai bản anh hùng ca Mahàbhàratàvà Ràmayàna, cũng như trong các kinh điển của Phật giáo, Kỳ Na giáo, và một số bia ký.

Tryền thống của người Ấn Độ coi tiếng Phạn là do Phạm Thiên tạo ra, như Đại Bát Niết Bàn kinh8 và 26, Đại Đường Tây Vức ký 2 v.v… chép lại. Khi mới truyền vào Trung Quốc, tiếng Phạn bị coi là tiếng của người rợ Hồ (Hồ ngữ). Mãi đến thời Ngạn Tôn (557-610), một tác gia lớn của Phật giáo Trung Quốc, tiếng Phạn mới được chính thức gọi là Phạn ngữ. Vì là tiếng do Phạm Thiên tạo ra, nên chữ viết được gọi là Devanàgarì, có nghĩa là chữ viết của thành phố thiên thần, gọi tắt là mẫu tự Thiên thị.

Người Việt chúng ta là một trong những dân tộc tiếp xúc tiếng Phạn khá sớm, đặc biệt là vùng phía tổ quốc nơi mà vào thời Hùng Vương đã hình thành một nhà nước Chiêm Thành. Vương quốc này không những đã dùng tiếng Phạn làm chuyển ngữ để viết các bia ký của dân tộc họ, mà còn dùmg làm mẫu tự để ghi lại tiếng nói của họ. Theo các sử liệu được biết đến hiện nay, vào khoảng thế kỷ thứ II hoặc III trước Tây lịch, Chử Đồng Tử đã đến học đạo với một nhà sư người Ấn Độ tên là Phật Quang tại núi Quỳnh Viên ở Cửa Sót (Hà Tĩnh). Đến cuối thế kỷ thứ II sau TL, Khâu Đà La người Tây Vức cũng đã đến Giao Châu dạy đạo cho Tu Định và Man Nương, lập nên hệ thống Tứ pháp nổi tiếng ở Bắc Ninh. Rồi đến giữa thế kỷ thứ III có Khương Tăng Hội và Đạo Thanh. Khương Tăng Hội chú giải An ban thủ ý kinhdo An Thế Cao dịch thì hẳn phải biết tiếng Phạn. Còn Đạo Thanh đệ tử của Khâu Đà La nổi tiếng giỏi tiếng Phạn và là người đã bút thọ kinh Pháp Hoa tam muộido Chi Cương Lương Tiếp dịch. Những thế kỷ kế tiếp đều có các nhà sư ở Tây Vức đến như Ma Ha Kỳ Vực, Ma Ha Đề Bà, Tỳ Ni Đa Lưu Chi v.v… Chính Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch kinh Tổng trì tại Giao Châu và lập nên dòng thiền Pháp Vân tại ngôi chùa cùng tên. Vào thế kỷ thứ VII, nhiều nhà sư Việt Nam đã qua Ấn Độ chiêm bái và học tập, trong đó nổi bật nhất là Đại Thừa Đăng, người về sau đã cộng tác với Huyền Trang trong việc dịch kinh tại dịch trường chùa Từ Ân ở Trường An. Ông để lại một số tác phẩm như Câu xá luận ký, Đại thừa bách pháp minh môn luận chú v.v…

Đến kỷ thứ X, bài chú Phật đỉnh tôn thắng (Buddhosnisadhvaja) bằng tiếng Phạn đã được Đinh Liễn và vua Lê Đại Hành cho khắc lên cột đá nhiều lần. Đây là bản kinh khắc xưa nhất của dân tộc ta hiện nay tìm thấy được. Vào thời kỳ này, theo Thiền uyển tập anh, còn có nhiều nhà sư rất thông thạo tiếng Phạn như Mahàmàya, Sùng Phạm (1004-1087). Đến thế kỷ XIII, có Bồ Đề Thất Lỵ (Bodhisrì) đến nước ta và đã dịch các bài chú kinh Lăng Nghiêm từ chữ Phạn ra chữ Hán theo yêu cầu của vua Trần Nhân Tông. Hiện nay người ta đã tìm thấy được bản in ở thế kỷ XVIII của bản dịch này.

Trong những thế kỷ kế tiếp sau đó, có một số tác phẩm đề cập đến tiếng Phạn qua âm Hán, như Chỉ nam ngọc âm giải nghĩacủa Pháp Tính (1470?-1550), một quyển từ điển Hán Việt trong đó đã ghi chú một số từ chữ Phạn âm Hán như Đồ lê là Mặt bàn, Duy na là thầy na; Kiến văn tiểu lục9 của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) liệt kê các chữ Phạn phiên âm chữ Hán và Đạo giáo nguyên lưu của An Thiền (thế kỷ XIX) với một số trang dành riêng cho việc ghi lại những từ tiếng Phạn với nghĩa chữ Hán.

Hiện nay, việc mở rộng giao lưu với toàn thế giới phát sinh nhu cầu học tiếng Phạn để tìm hiểu về lịch sử, tư tưởng, văn hóa của những dân tộc đã từng sử dụng hoặc chịu ảnh hưởng thứ ngôn ngữ này, cũng như để tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của chính dân tộc ta. Vì vậy chúng tôi xin giới thiệu với độc giả nguyệt san Giác Ngộ giáo tài hàm thụ tiếng Phạn sơ cấp, giúp các bạn có một số khái niệm cơ bản về ngữ pháp của ngôn ngữ này.

Nguồn: chúng tôi

Trình bày: Nhị Tường

Sơ Lược Về Cơ Học Lượng Tử

Cơ học lượng tử (tiếng Anh: Quantum mechanics) là một trong những lý thuyết cơ bản của vật lý học. Cơ học lượng tử là phần mở rộng và bổ sung vủa cơ học Newton (còn gọi là cơ học cổ điển) đặc biệt là tại các phạm vi nguyên tử và hạ nguyên tử. Nó là cơ sở của rất nhiều các chuyên ngành khác của vật lý và hóa học như vật lý chất rắn, hóa lượng tử, vật lý hạt. Khái niệm lượng tử để chỉ một số đại lượng vật lý như năng lượng (xem hình 1, bên phải) không liên tục mà rời rạc.

Cơ học lượng tử có thể được kết hợp với thuyết tương đối để tạo nên cơ học lượng tử tương đối tính, để đối lập với cơ học lượng tử phi tương đối tính khi không tính đến tính tương đối của các vật thể. Ta dùng khái nhiệm cơ học lượng tử để chỉ cả hai loại trên. Cơ học lượng tử đồng nghĩa với vật lý lượng tử. Tuy nhiên vẫn có nhiều nhà khoa học coi cơ học lượng tử có ý nghĩa như cơ học lượng tử phi tương đối tính, mà như thế thì nó hẹp hơn vật lý lượng tử.

Một số nhà vật lý tin rằng cơ học lượng tử cho ta một mô tả chính xác thế giới vật lý với hầu hết các điều kiện khác nhau. Dường như là cơ học lượng tử không còn đúng ở lân cận các hố đen hoặc khi xem xét vũ trụ như một toàn thể. Ở phạm vi này thì cơ học lượng tử lại mâu thuẫn với lý thuyết tương đối rộng, một lý thuyết về hấp dẫn. Câu hỏi về sự tương thích giữa cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu rất sôi nổi.

Cơ học lượng tử được hình thành vào nửa đầu thế kỷ 20 do Max Planck, Albert Einstein, Niels Bohr, Werner Heisenberg, Erwin Schrödinger, Max Born, John von Neumann, Paul Dirac, Wolfgang Pauli và một số người khác tạo nên. Một số vấn đề cơ bản của lý thuyết này vẫn được nghiên cứu cho đến ngày nay.

Giới Thiệu Về Thành Phố Đài Bắc

Thành phố Đài Bắc (Trung văn phồn thể: 臺北市; bính âm: Táiběi Shì) là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc (thường gọi là “Đài Loan”), đây là thành phố trung tâm của một vùng đô thị lớn nhất tại Đài Loan.

Vị trí địa lý

Thành phố Đài Bắc nằm trên một khu vực được gọi là Bồn địa Đài Bắc ở Bắc Đài Loan. Thành phố giáp với sông Tân Điếm ở phía nam và sông Đạm Thủy ở phía tây. Địa hình nói chung thấp tại các khu vực trung tâm ở phía tây và dốc dần lên các vùng phía nam, đông và đặc biệt là phía bắc, đỉnh cao nhất có cao độ 1.120 mét (3.675 ft) tại Thất Tinh Sơn (七星山), ngọn núi lửa đã tắt cao nhất tại Đài Loan nằm ở Công viên Quốc gia Dương Minh Sơn. Quận miền bắc Sỹ Lâm và Bắc Đầu mở rộng về phía bắc của sông Cơ Long và có ranh giới là Công viên Quốc gia. Thành phố Đài Bắc có diện tích đứng thứ 16 trong số 25 huyện và thành phố tại Đài Loan.

Hai đỉnh, Thất Tinh Sơn và Núi Đại Đồn, nổi lên ở phía đông bắc của thành phố. Thất Tinh Sơn nằm trên Nhóm núi lửa Đại Đồn vốn là đỉnh núi cao nhất của bồn địa Đài Bắc, đỉnh chính trong nhóm có cao độ 1.120 mét (3.670 ft). Đỉnh chính của núi Đại Đồn cao 1.092 mét (3.583 ft). Chúng nguyên là các núi lửa và tạo thành phần phía tây của Công viên Quốc gia Dương Minh Sơn, trải dài từ núi Đại Đồn ở phía bắc tới núi Thái Công Khanh (菜公坑山). Nằm trên một nơi giống như cái võng của hai ngọn núi, khu vực cũng bao gồm vũng lầy Đại Đồn.

Các khu vực hành chính thuộc Đài Bắc :

Dân số Đài Bắc

Dân số Đài Bắc ước tính là 2.705.000 người ( Theo số liệu thống kê năm 2019). Đài Bắc, Tân Bắc, và Cơ Long tạo thành vùng đô thị Đài Bắc với dân số lên tới 6.900.273 người.Tuy nhiên, ba đơn vị này được quản lý bởi ba chính quyền địa phương khác nhau. “Đài Bắc” thỉnh thoảng được dùng để đề cập tới toàn bộ vùng đô thị, còn “thành phố Đài Bắc” sẽ chỉ dùng để đề cập tới thành phố. Thành phố Đài Bắc được Tân Bắc bao quanh tất cả các phía.

Khí hậu Đài Bắc có khá nhiều nét tương đồng với Việt Nam, khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao. Mùa hè ở Đài Bắc thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 9, thời tiết rất nóng, mùa đông ngắn nhưng rất lạnh, thông thường từ tháng 12 đến tháng 2. Thời tiết Đài Bắc rất khó dự báo và hay có nhiều biến đổi, ban ngày nhiệt độ có thể lên đến 25 – 27 độ C nhưng ban đêm có thể giảm xuống 15 độ C

Đài Bắc là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Đài Loan. Đại học Quốc lập Đài Loan nằm tại Đài Bắc, cũng như Bảo tàng Cố cung Quốc lập, vốn là nơi có một trong những bộ sưu tập cổ vật và thư họa Trung Hoa lớn nhất trên thế giới. Đài Bắc được coi là một thành phố toàn cầu,và là một phần của một vùng kỹ nghệ chính. Tàu hỏa, tàu cao tốc, quốc lộ, sân bay và các tuyến xe khách kết nối Đài Bắc với tất cả các nơi khác trên toàn Đài Loan. Nhu cầu hàng không của thành phố được đáp ứng bới hai sân bay – Sân bay Tùng Sơn và Sân bay Đào Viên.

Là thủ đô của Đài Loan, Đài Bắc là trung tâm trong sự phát triển kinh tế nhanh chóng của quốc đảo và đã trở thành một trong các thành phố toàn cầu về chế tạo các mặt hàng công nghệ cao cũng như các bộ phận thành phần của chũng. Là một phần của điều được gọi là kì tích Đài Loan, thành phố đã có mức tăng trưởng đáng kể theo sau đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thập niên 1960. Đài Loan nay là một nền kinh tế chủ nợ, giữ vị thế là một trong các nước có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới với trên 352 tỷ đô la Mỹ vào tháng 2 năm 2010.

Bất chấp Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng khoảng 5% mỗi năm, người lao động hầu như đều có đủ việc làm và lạm phát thấp. (Tính đến 2007), GDP danh nghĩa của phần lõi thành phố Đài Bắc là khoảng gần 160 tỷ đô la Mỹ, trong khi vùng đô thị Đài Bắc có GDP (danh nghĩa) là khoảng 260 tỷ đô la Mỹ, như vậy sẽ đứng thứ 13 về GDP trong số các thành phố trên thế giới. GDP trên người của Đài Bắc là 48.400 đô la Mỹ, và đứng thứ hai châu Á sau Tokyo, với 65.453 đô la Mỹ. Nếu tính cả ngoại ô, các thành phố lân cận, và các hương trấn, GDP trên đầu người sẽ là 25.000 đô la Mỹ.

Đại học Quốc gia Đài Bắc ban đầu có tên gọi là Học viện Luật và Kinh doanh tỉnh Đài Loan vào năm 1949 nhằm giáo dục và đào tạo nên những chuyên gia ưu tú về luật và kinh doanh của đất nước. Năm 2000, Đại học Quốc gia Đài Bắc được tái cấu trúc và tổ chức lại từ Học viện Luật và Kinh doanh của Đại học Quốc gia Chung-Hsin. Năm 2010, trường cuối cùng đã hoàn thành toàn bộ dự án tái định cư, chuyển 6 học viện từ khuôn viên trung tâm ở thành phố Đài Bắc, hiện nay khuôn viên chính San-Shia nằm ở Tân Bắc. Trong nhiều thập kỷ qua, NTPU truyền thống đã đóng một vai trò then chốt và quan trọng trong việc giáo dục và phát triển những tài năng tầm trung và cao cấp trong các lĩnh vực luật, kinh doanh, hành chính công, cũng như là khoa học xã hội. Trường gồm hai khuôn viên ở Đài Bắc và San-Shia.

2. Đại học giáo dục quốc gia Đài Bắc ( National Taipei University of Education – NTUE)

3. Đại học Văn hóa Trung Quốc ( National Chung Cheng University – CCU)

Trường Đại học Văn hóa Trung Quốc – CCU được thành lập từ năm 1962. Tính đến năm 2010, Trường tự hào có 12 học viện với 59 chương trình Đại học, 41 chương trình Thạc sĩ và 11 chương trình Tiến sĩ.

Đại học Văn hóa Trung Quốc đã thiết lập chương trình Thạc sĩ cho sinh viên quốc tế nhằm cung cấp các khóa học được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh cho sinh viên trên toàn thế giới kể từ năm 2010. Trong năm học 2012, chương trình sẽ được mở rộng lên đến 13 ngành học, bao gồm Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Công nghệ sinh học, Kiến trúc và tiết kế đô thị, Quản trị du lịch, Thương mại quốc tế, Quản trị thông tin, Kế toán, Báo chí, Công nghệ cơ điện tử kỹ thuật số, Văn học Anh và Mỹ, Khoa học trái đất, Khoa học huấn luyện thể thao.

4. Đại học sư phạm quốc gia Đài Loan (National Taiwan Normal University – NTNU)

Được thành lập vào năm 1946 . Được đổi tên thành Đại học Quốc gia Đài Loan (NTNU) vào năm 1967, nhưng cam kết chất lượng giáo dục và đào tạo giáo viên vẫn còn. Với việc ban hành Luật Giáo viên vào năm 1994, NTNU chuyển mình thông qua việc tạo nhiều ngành học mới và tiếp tục thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong bất kỳ hình thức nào có thể với các trường đại học có uy tín ở nước ngoài, cũng như chào đón các sinh viên quốc tế ghi danh vào các chương trình học tập. NTNU đã thiết lập các mối quan hệ với 138 tổ chức nổi tiếng ở nước ngoài, kéo dài bốn châu lục: Châu Âu, Châu Á, châu Mỹ, và Úc. NTNU là một tổ chức đa quốc gia đa dạng và cộng đồng, với một số sinh viên quốc tế gần 3.000 sinh viên, kể cả học sinh ghi danh vào Trung tâm đào tạo tiếng Quan Thoại.

Hiện nay trường có 4 khu học sở lớn, 11 trường thành viên, 17 chương trình Đào tạo Tiến sỹ, 50 chương trình Đào tạo sau Đại học và 50 khoa cùng 28.000 sinh viên. Đại học Tam Kang vinh dự nhận được rất nhiều giải thưởng trong và ngoài nước: Năm 1999 trường được Liên đoàn Thế giới về giáo dục tương lai (WFSF) bình chọn là một trong hai trường học của tương lai nhằm ghi nhận những nỗ lực trong giáo dục tương lai ở Đài Loan. Năm 2001, trường được tuần báo Kinh tế Điện tử xếp hạng nhất về cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật số hiện đại trong số các trường Đại học Đài Loan và gọi Đại học Tam Kang là “thiên đường số. Năm 2007 trường xếp hạng 463 toàn thế giới, 31 châu Á, thứ 7 Đài Loan và đứng đầu các trường tư.

Trường đào tạo đa dạng các ngành như KHXH- NV, Kinh tế – Quản trị, Ngoại ngữ – Văn học, Quốc tế học, Giáo dục, Thể dục thể thao, KHTN, Công nghệ thông tin, …

Được xây dựng vào năm 1967, đây là nơi trưng bày những kỷ yếu quân đội, huân huy chương và quân phục cũng như những hiện vật gắn liền với cuộc đời của Tưởng Giới Thạch.Đài tưởng niệm Tưởng Giới Thạch

Là một tòa nhà có bức tường trắng gạch xanh, cao 70m, năm ngay giữa khu công viên. Dù có nhìn từ hướng nào đi chăng nữa, du khách cũng đều có thể cảm nhận được sự hùng vĩ của ngôi nhà này. Tại đây, du khách sẽ được xem nghi lễ đổi gác diễn ra 60 phút và chụp hình ở bên ngoài tòa nhà chính phủ.

Ngoài ra trong khuôn viên của tòa nhà còn có phòng triển lãm, phòng hòa nhạc với sức chứa hàng nghìn

2. Mì bò Yongkang Đài Loan

5. Gà rán Đài Loan ở cửa số 5 Ga Guting

Thịt gà được cắt thành các miếng vừa ăn, ướp gia vị, tẩm bột rồi rán giòn. Sau đó, người bán sẽ rắc thêm chút muối, tiêu và húng quế rán giòn lên trên. Đây là món ăn khuya được nhiều người dân xứ Đài yêu thích. Gà rán ngon ở Đài Loan thì ở cửa số 5 Ga Guting (Guting MRT station).

Giá của món Gà Rán Đài Loan là 55 TWD/phần (khoảng 38.500đ).

Giới Thiệu Về Bảng Chữ Cái Tiếng Trung

Hướng dẫn chi tiết để học “Bảng chữ cái tiếng Trung”

Được rồi, đầu tiên, chúng ta phải đối diện với thực tế.

Trong tiếng Anh, bảng chữ cái có 26 ký tự, tiếng Việt có 29 chữ cái và tiếng Nga có 33 ký tự Cyrill (Kirin). Tuy nhiên…

Khái niệm Bảng chữ cái trong tiếng Trung vốn không tồn tại.

Học tiếng Trung là phải học viết chữ và cấu trúc của chữ Hán khác với cấu trúc của chữ Latinh. Trong tiếng Trung, mỗi chữ Hán bản thân nó đã có nghĩa.

Mỗi chữ Hán là một âm tiết. Và mỗi chữ Hán bản thân nó đã có thể là một từ, nhưng cũng có nhiều từ được tạo thành bởi hai, ba hoặc thậm chí nhiều chữ gộp lại với nhau.

Bảng chữ cái tiếng Trung không tồn tại – mà chỉ có hàng ngàn những chữ Hán khác nhau. Nhiều chữ Hán nhìn cũng cực kỳ tương tự nhau nữa! Ví dụ như sau:

Trước khi bắt đầu những phần hay ho hơn, chúng ta cũng cần lùi lại và tìm hiểu một chút về lịch sử của tiếng Trung. Suy cho cùng, đất nước Trung Hoa có bề dày văn hoá và lịch sử đáng ngưỡng một và chữ Hán cũng như Hán ngữ là một phần rất lớn trong đó.

Chương 1 – Lịch sử của chữ Hán/Bảng chữ cái tiếng Trung

Hán ngữ là một trong những ngôn ngữ lâu đời nhất trên thế giới.

Không như những ngôn ngữ khác, tiếng Trung không có bảng chữ cái và cũng không được viết bằng một chuỗi các ký tự, mà bằng một chuỗi các hình ảnh biểu nghĩa và biểu âm.

– Các sử gia đã tìm được những bản chữ viết tiếng Trung cổ với niên đại lên đến hơn 3000 năm trước, tuy vậy, chữ viết hiện đại như chúng ta có thể thấy ngày nay, cũng đã hơn 2000 năm tuổi và được phát triển trong triều đại nhà Hán.

Tất nhiên, cũng như mọi ngôn ngữ khác, “Bảng chữ cái tiếng Trung” đã tiến hoá nhiều từ những “ghi chép” đầu tiên của 2000 năm trước. Những chữ viết này đã tiến hoá thành chữ viết của rất nhiều ngôn ngữ hiện đại khác nhau như tiếng Quảng Đông (ngôn ngữ mẹ đẻ ở Hồng Kông và vùng Quảng Đông, Trung Quốc), Kanji/Hán tự (chữ Hán để biểu âm và biểu nghĩa trong tiếng Nhật) và Hán Nôm (ký tự phát triển từ chữ Hán được sử dụng ở Việt Nam trước khi chúng ta chuyển sang dùng chữ Quốc ngữ).

Ở Trung Quốc đại lục, những chữ Hán này vẫn tiếp tục phát triển đến năm 1950 khi chữ Hán giản thể được giới thiệu để giảm tỉ lệ mù chữ. Ở Trung Quốc ngày nay, chữ Hán giản thể được sử dụng phổ biến nhất, mặc dùng chữ Hán phồn thể vẫn được sử dụng ở Đài Loan và Hồng Kông.

Chương 2 – Vậy nếu không có Bảng chữ cái tiếng Trung, làm sao chúng ta có thể học Hán ngữ?

Đó là một câu hỏi hay, và câu trả lời cũng khá đơn giản (trên lý thuyết)… chúng ta sẽ học từ đầu tất cả các chữ Hán.

Một khi bạn bắt đầu học được khoảng 10 đến 20 chữ Hán đầu tiên, bạn sẽ bắt đầu nhận ra rằng những chữ Hán này xuất hiện trong rất nhiều từ, và một vài chữ Hán còn có âm đọc y hệt nhau nữa.

Ví dụ với chữ Hán cơ bản nhất này: 一 (Yī – Nhất/Một).

Tuyệt vời, vậy là chúng ta đã học được chữ Hán đầu tiên! Vậy nghĩa là mỗi khi tôi thấy chữ 一 có nghĩa là sẽ có một đơn vị gì đó đúng không? Sai rồi!

Đây là chữ Hán có nghĩa cùng, chung hoặc cộng: 共 Gòng.

Vậy là chúng ta đã học được hai chữ Hán, nhưng chúng ta chuẩn bị được học chữ thứ ba, và chỉ đơn giản là ghép hai chữ Hán bên trên lại để tạo thành…

Hãy thử đoán xem từ 一共 có nghĩa là gì nào? Nó có nghĩa là tất cả.

Cũng khá hợp lý phải không nào? Đây là trường hợp điển hình cho mọi bài học tiếng Trung của bạn, chỉ cần ghép các chữ Hán lại với nhau là bạn đã học được cách tạo nên một từ mới rồi.

Vậy là chúng ta có hai chữ Hán có nghĩa riêng, “thời gian” và “khu vực”.

Vậy nếu chúng ta ghép hai chữ này lại với nhau thì sao?

Từ 时区 này nghĩa là gì?

“Thời gian” và “khu vực” ghép lại với nhau sẽ có nghĩa là “múi giờ” trong tiếng Trung. Vậy thì, kể cả khi không có một bảng chữ cái tự nhiên, việc học tiếng Trung lại cần một sự nhất quán trong suy nghĩ.

Chương 3 – Lô-gíc của tiếng Trung

Bạn có thể dễ dàng nhìn vào một bài báo, một tờ báo hay thậm chí chỉ cần một câu tiếng Trung thôi, và nghĩ rằng ” Không, mình không học nổi tiếng này đâu “, nhưng hãy nghe chúng tôi.

Mặc dù có số lượng từ vựng nhiều khủng khiếp, có rất nhiều ví dụ để cho bạn thấy chữ Hán thông minh đến mức nào…

Ví dụ chữ Hán của Điện là 电 diàn

Và ba chữ sau:

Vậy là chúng ta đã có bốn từ mới. Bây giờ nếu ghép từ “Điện” vào trước mỗi từ này, bạn sẽ có được từ mới mà nghĩa hoàn toàn có thể đoán được như sau:

Điện + Nhìn = TV 电视/diànshì/điện thị

Điện + Não = Máy tính 电脑/diànnǎo/điện não

Điện + Bóng = Rạp chiếu phim 电影/diànyǐng/điện ảnh

Quá hợp lý phải không nào! Vậy nên mặc dù Hán ngữ không có bảng chữ cái để ghép các ký tự thành một từ, bạn có thể làm tương tự với chính các chữ Hán đã có.

Một vài từ được cấu thành bởi chỉ một chữ, những từ khác có thể được tạo thành từ hai, ba (hoặc thậm chí bốn hay năm chữ khác trong một số trường hợp hiếm gặp).

Chương 4 – “Bảng chữ cái tiếng Trung có bao nhiêu ký tự?”

Để giao tiếp thoải mái hàng ngày bằng tiếng Trung, bạn sẽ cần biết khoảng 500-750 chữ Hán.

2,000 chữ Hán – là số lượng chữ bạn cần biết để đọc được một bài báo

2,633 chữ Hán – là số lượng chữ bạn cần biết để đậu kỳ thi HSK bậc 6.

8,000 chữ Hán – là số lượng chữ một người Trung Quốc được học hành tử tế sẽ biết

20,000 chữ Hán – là số lượng chữ có trong một quyển từ điển Hán ngữ hiện đại

Từ từ, vẫn chưa hết đâu!

Từ điển Trung Hoa Tự Hải (中华字海/Zhōnghuá zì hǎi) thậm chí còn nâng mọi thứ lên một tầm cao mới nữa. Quyển từ điển khá “ngắn gọn” này có đủ định nghĩa của chỉ 106,230 chữ Hán mà thôi!

Vậy nên nếu có ai đó hỏi bạn bảng chữ cái tiếng Trung có bao nhiêu ký tự, bạn không những có thể chỉ ra sự không chính xác của câu hỏi này, mà còn có thể khiến họ ngưỡng mộ với những con số khổng lồ này nữa!

Ồ, tiện thể khi nhắc đến các con số, các bạn hãy xem qua video này để xem học các con số LỚN trong tiếng Trung dễ như thế nào!

Quay trở lại với bảng chữ cái…

Về việc học tiếng Trung, các con số thực sự không quá đáng sợ. Cụ thể như sau…

Như bạn có thể thấy bên trên – trong việc học tiếng Trung, một khi bạn đã biết được vài trăm chữ Hán, bạn sẽ có thể vận hành cuộc sống hàng ngày một cách ổn thoả và số lượng từ cũng sẽ tăng lên nhanh chóng từ đó.

Những chữ Hán giống nhau mà bạn phải biết.

Chương 5 – Bộ thủ: Có những bộ thủ nào trong tiếng Trung?

Định nghĩa sau được lấy từ trang Wikipedia về bộ thủ trong tiếng Trung …

Một bộ thủ trong tiếng Trung (Tiếng Trung: 部首, bính âm: bùshǒu) là thành tố đồ họa của chữ Hán trong truyền thống để sắp xếp các chữ trong từ điển tiếng Trung. Thành tố này thường dùng để chỉ nghĩa của chữ, mặc dù trong một vài trường hợp, mối liên kết với nghĩa gốc của chữ cũng mất dần khi nghĩa thay đổi theo thời gian.

Điều này tuyệt vời ở chỗ là kể cả khi bạn không nhận biết được mặt chữ, càng học nhiều bạn sẽ càng biết nhiều hơn những từ có bộ Thuỷ để giới hạn những nghĩa có thể của chữ lạ đó.

Vậy giờ bạn sẽ muốn biết có bao nhiêu bộ thủ trong tiếng Trung phải không?

Một số bộ thủ nằm bên trái của chữ, một số nằm trên đầu, bên dưới hoặc bên phải, và một số bộ thủ sẽ xuất hiện thường xuyên hơn những bộ khác.

Một số bộ thủ không dễ nhận biết như bộ Thuỷ, nhưng có lại có những hàm ý khác.

Bộ thủ của Người là 亻(rén/nhân)

Một ứng dụng của bộ Nhân là chữ 你 (nǐ/nễ) dành cho ngôi nhân xưng thứ 2 số ít như bạn, anh, chị, ông, bà, con, v.v.

Bộ thủ của Băng là 冫(bīng/băng)

Một ứng dụng của bộ Băng là chữ 你 (dòng/đông) nghĩa là đóng băng.

Bộ thủ của Cánh cửa là 门 (mén/môn)

Một ứng dụng của bộ này là chữ 间 (jiān/gian) nghĩa là căn phòng.

HÃY XEM LẠI NHÉ – Bạn có thấy bộ thủ thứ ba门 bọc bên ngoài chữ để tạo nên chữ间 thay vì nằm bên trái của chữ không? Các bộ thủ có muôn vàn hình dáng và kích thước, nhưng thường đưa ra những gợi ý về nghĩa của chữ ngay khi bạn vừa nhìn vào chữ đó.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các bộ thủ trong tiếng Trung, chúng tôi đã chuẩn bị Bộ hướng dẫn cho người mới bắt đầu này cho bạn:

Chương 6 – Thứ gần nhất với Bảng chữ cái Tiếng Trung – Xin giới thiệu: Bính âm (Pinyin)

Mặc dù Bảng chữ cái tiếng Trung không tồn tại, sự xuất hiện của Bính âm (Pinyin) đã trở thành cứu cánh cho rất nhiều người nước ngoài có nhu cầu học tiếng Trung.

Vậy Bính âm là cái gì? Theo định nghĩa của người bạn thân thiết Wikipedia của chúng ta:

Bính âm Hán ngữ (Trong Hán ngữ Giản thể: thường được gọi tắt là Bính âm, là hệ thống ký âm bằng chữ la-tinh chính thức của tiếng Quan Thoại ở Trung Quốc đại lục và một phần của Đài Loan. Bính âm thường được dùng để dạy và học tiếng Quan Thoại viết bằng chữ Hán. Hệ thống Bính âm được phát triển vào những năm 1950s.

Bạn có thể đã để ý thấy những từ diễn tả cách phát âm nằm bên cạnh mỗi chữ Hán mới được giới thiệu. Đó chính là Bính âm.

Ví dụ:

Mỗi chữ Hán sẽ được tạo thành bởi một phụ âm và một nguyên âm (với thanh điệu nằm phía trên phần cuối).

Bính âm là một cách rất tuyệt để giúp học sinh tiếng Trung bắt đầu học tiếng Quan Thoại dễ dàng hơn. Bước đầu tiên là học các thanh âm và cách phát âm các nguyên âm và phụ âm. Chẳng mấy chốc mà bạn sẽ có thể đọc được bính âm, rồi bạn sẽ dần biết cách liên kết các chữ Hán với bính âm của nó. Đơn giản vậy thôi !

Bạn cũng nên lưu ý là một số nguyên âm và phụ âm có cách phát âm tương tự như trong tiếng Anh, một số thì không. Một vài âm cũng nghe cực kỳ giống nhau. Luyện tập và thời gian sẽ giúp bạn phân biệt được chúng.

Một số ví dụ có thể là :

shàng (như trong Shanghai – Thượng Hải) – cách phát âm sẽ giống như cách phát âm chữ “s” trong tiếng Việt.

fēn – tương tự như ví dụ trên, cách phát âm giống chữ ” ph ” trong tiếng Việt.

C – đây là một âm cần phải lưu ý. Ký tự “C” luôn được phát âm là “ts”, giống như cách phát âm phần đuôi của chữ “bits” trong tiếng Anh hoặc chữ “x” ở một số vùng miền trong tiếng Việt.

Q – đây cũng là một âm cần để ý. “Q” được phát âm giống chữ “chee” trong tiếng Anh hoặc chữ “sờ chờ” trong tiếng Việt.

Zh – đây là một âm không phổ biến. Chữ “Zh” đọc nghe giống chữ “J” trong tiếng Anh hoặc chữ “tr” trong tiếng Việt. Ví dụ chữ Zhang đọc nghe giống chữ “Jang” trong tiếng Anh hoặc chữ “Trang” trong tiếng Việt.

Như bạn thấy đấy, mặc dù một vài nguyên âm và phụ âm có cách phát âm tương tự như trong tiếng Anh hoặc tiếng Việt, một số khác được phát âm khác hoàn toàn. Lời khuyên tốt nhất cho bạn ở đây là hãy tiếp cận tiếng Trung bằng chính cách phát âm của nó, thay vì cố gắng “dịch” cách phát âm này sang những âm tương tự trong tiếng Việt. Chắc chắn nghe thì có vẻ dễ lắm, nhưng đừng cố gắng đọc những từ tiếng Hán bằng âm tiếng Việt, vì trong nhiều trường hợp, người Trung Quốc bản địa sẽ không hiểu bạn đang nói gì đâu!

Wade-Giles

Chương 7 – Các ví dụ khác của Bảng chữ cái tiếng Trung

Trước khi hệ thống Bính âm trở nên phổ biến ở Trung Quốc đại lục, đã có nhiều hệ thống khác được dùng để ký âm tiếng Quan Thoại. Một trong những hệ thống ký âm bằng chữ la-tinh chính được dùng là hệ thống Wade-Giles.

Hệ thống ký âm này ban đầu được phát triển bởi một Đại sứ người Anh ở Trung Quốc – Thomas Francis Wade. Ông đã trở thành Giáo sư tiếng Quan Thoại đầu tiên ở đại học Cambridge và đã xuất bản quyển sách dạy tiếng Quan Thoại đầu tiên của mình vào năm 1867.

Theo lô-gíc, hệ thống này được gọi là hệ thống Wade-Giles.

Ông đã tạo nên hệ thống ký âm của riêng mình để phát âm các chữ Hán. Hệ thống này sau đó được hoàn thiện bởi Herbert Allen Giles và con trai của mình là Lion Giles, một nhà ngoại giao người Anh ở Trung Quốc và sau này là một người sưu tầm của bảo tàng Anh Quốc.

Hệ thống này có một vài điểm chung với hệ thống Bính âm nhưng có những biến thể riêng biệt trong cách phát âm các nguyên âm và phụ âm. Ngày nay hệ thống này đã hoàn toàn bị hệ thống Bính âm thay thế ở Trung Quốc đại lục. Mặc dù vậy, ở Đài Loan hệ thống Wade-Giles vẫn được sử dụng trong một vài trường hợp như tên địa danh. Ví dụ cách viết của Đài Bắc trong Bính âm là Taipei thay vì Táiběi (台北) và Cao Hùng là Gāoxióng (高雄) thay vì Kaohsuiung trong Bính âm.

Chú âm phù hiệu (Zhuyin Fuhao/Bopofomo)

Chú âm phù hiệu (Zhuyin Fuhao/注音符號) hay còn được gọi là Bopofomo hoặc Chú âm, là một cách chú âm khác chủ yếu được dùng để ký âm tiếng Quan Thoại ở Đài Loan. Nó có 37 ký tự và 4 thanh âm để ký hiệu tất cả các âm trong tiếng Quan Thoại.

Bốn ký tự đầu tiên của bộ ký âm này là “bo” “po” “fo” và “mo” (ㄅㄆㄇㄈ) và cũng là nguồn gốc tên gọi của hệ thống ký âm này.

Không như Bính âm và Wade-Giles, Chú âm là một hệ thống ký âm riêng biệt, không sử dụng bảng chữ cái La Mã. Trong một số trường hợp, đây là một lợi thế vì các ký tự không dễ bị lẫn với cách phát âm của các ngôn ngữ khác.

Những ký hiệu này vốn dựa trên chữ tốc ký của Triết học gia và Nhà văn Chương Bỉnh Lân (Zhang Binglin).

Hệ thống này được phát triển vào đầu những năm 1900 trong thời kỳ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Một hội đồng do học giả, nhà ngôn ngữ nổi tiếng – Ngô Trĩ Huy (吳稚暉) – lãnh đạo đã thống nhất cách phát âm Hán ngữ.

Chú âm phù hiệu vẫn được sử dụng rộng rãi ở Đài Loan, đặc biệt là ở bậc Tiểu học và Trung học để dạy trẻ em cách phát âm. Người ta có thể dễ dàng tìm thấy cách ký âm này bên cạnh chữ Hán trong sách giáo khoa hoặc từ điển.

Học cách viết chữ Hán chủ yếu xoay quanh vận dụng kiến thức chữ Hán, nhưng bạn sẽ phải ngạc nhiên khi nhận ra những chữ Hán phổ biến nhất được sử dụng nhiều như thế nào trong cuộc sống hàng ngày.

Bạn thấy đấy, có rất nhiều cách sử dụng khác nhau cho 一, đó là lý do vì sao đây là từ thông dụng thứ hai trong tiếng Trung.

Ví dụ, khi nói “Tôi là người Việt Nam” bạn sẽ sử dụng chữ 是 để nối từ “Tôi” và “người Việt Nam”. Để nói “Tôi đang vui”, bạn bỏ chữ 是 và nói 我很开心. Cách dùng 我是开心 là sai.

Như bạn có thể thấy, chữ 人 như được thổi thêm sức sống qua thẻ chữ minh hoạ của Chineasy. Chúng tôi cũng đã viết một bài đánh giá cho ứng dụng Tinycards cách đây không lâu. Tinycards dùng một cách khá tương đồng với Chineasy (thẻ từ vựng) để dạy tiếng Trung và nếu bạn thích học Hán ngữ theo cách này thì bài đánh giá sẽ rất đáng đọc.

我很好Wǒ hěn hǎo

Một chữ tưởng như sẽ nằm ở vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng, 我 có nghĩa là “tôi”, “của tôi” hoặc các danh xưng ngôi thứ I khác, và có thể được dùng để chỉ số nhiều. Ví dụ, “chúng tôi” trong tiếng Trung là 我们 (Wǒmen) với chữ “men” mang nghĩa số nhiều.

Wǒmen shì yìdàlì rén

Tôi rất khoẻ.

Wǒ 34 suì

Chúng tôi là người Ý.

Wǒ xǐhuān chī bǐsà

Tôi 34 tuổi.

Tôi thích ăn Pizza.

在 là một động từ để xác nhận địa điểm hoặc sự tồn tại của một thứ gì đó. Nó có nghĩa là “ở” hoặc “tại”.

我在上海。Wǒ zài Shànghǎi.

Với ví dụ bên trên, một lỗi thường gặp với những người học tiếng Trung là dùng chữ 是 cùng với chữ 在. Đây là cách dùng sai. Ví dụ, dùng 我是在上海 là sai về mặt ngữ pháp. Thay vào đó, chúng ta hãy xem cách sử dụng đúng trong các ví dụ sau:

Tāmen zài Yīngguó.

Tôi đang ở Thượng Hải.

Shéi zài lóushàng?

Họ đang ở nước Anh.

nǐ zhù zài nǎ lǐ

Ai đang ở trên lầu?

Bạn sống ở đâu?

Từ tā thực ra là một ví dụ tuyệt vời cho việc vì sao học Hán ngữ lại không khó đến vậy. Nếu như trong tiếng Việt, chúng ta có từ riêng cho anh ấy, của anh ấy, cô ấy, của cô ấy, và nó, người Trung Quốc chỉ dùng 1 bính âm để chỉ ngôi thứ ba số ít (mặc dù cách viết chữ Hán của nam và nữ khác nhau). Đây là một lý do thường thấy cho trường hợp người Trung Quốc khi học tiếng Anh hoặc tiếng Việt lại dễ bị nhầm lẫn giữa cách dùng “he/anh ấy” và “she/cô ấy” khi nói.

Nếu bạn muốn biết thêm 100 chữ Hán phổ biến nhất, bạn đã gặp may rồi…

Chương 9 – Các chuyên gia nói gì?

Vậy là chúng ta đã điểm qua nhiều khía cạnh của tiếng Trung từ Bảng chữ cái cho đến Ký tự, nhưng còn

Simon từ Omniglot

Người đầu tiên là AGER SIMON, người sáng lập của website chúng tôi Simon có bằng Cử nhân Hán ngữ Hiện đại và Nghiên cứu Nhật ngữ từ trường Đại học Leeds, đã học tiếng Nhật ở Đại học Ngoại ngữ Kansai ở Osaka, và Văn học Hán ngữ hiện đại và truyền thống ở Đại học Sư Phạm Quốc Gia Đài Loan ở Đài Bắc. Anh hiện đang điều hành chúng tôi một bách khoa toàn thư về các hệ thống chữ viết và ngôn ngữ. Anh ấy có thể nói trôi chảy tiếng Phổ thông, khá tốt tiếng Nhật và có hiểu biết cơ bản về tiếng Qunảg Đông và Đài Loan. Anh cũng biết nói vài ngôn ngữ khác nữa.

Tôi đã học Hán ngữ và Nhật ngữ ở các trường Đại học ở nước Anh, Đài Loan và Nhật Bản, nên có một ít kinh nghiệm về việc học các chữ Hán. Tôi đã học cả chữ Hán phồn thể và giản thể, cũng như Hán tự trong tiếng Nhật. Việc này tốn khá nhiều thời gian và công sức, nhưng cũng khá thú vị và xứng đáng, và đã giúp tôi kiếm được việc ở Đài Loan và nước Anh. Tôi đã phát hiện ra rằng học cách viết các nét theo đúng thứ tự và viết tay các chữ nhiều lần giúp tôi ghi nhớ được chúng. Tôi cũng dùng thẻ từ vựng, và liên kết hình dạng của chữ với ý nghĩa và cách phát âm của từng chữ bằng cách mường tượng ra những hình ảnh sinh động trong đầu. Càng học được nhiều chữ thì việc học các chữ sau sẽ càng dễ hơn, vì tôi có thể thấy được sự liên kết giữa các chữ và nhận ra được cấu trúc của chúng.

Bạn có thể theo dõi blog Omniglot của Simon, tài khoản YouTube, trang Instagram và các kênh Mạng Xã hội khác, rất đáng để theo dõi.

Lindsay từ trang Lindsay học Ngôn ngữ

Tiếp theo, chúng ta có chuyên viên ngôn ngữ Lindsay Williams, người điều hành website chúng tôi Thật thú vị là trong website cô ấy có nói rằng mình chưa đầu tư học ngôn ngữ một cách nghiêm túc cho tới khi cô phải học một khoá GCSE Tiếng Tây Ban Nha để có thể dịch các bài hát của Shakira! Đó cũng là một cách thông minh để bắt đầu học một ngôn ngữ mới!

Lindsay học Ngôn ngữ bắt đầu như một sở thích và đã dần phát triển thành một mô hình kinh doanh khi Lindsay bắt đầu dạy trực tuyến song song với các nhóm trường và nhóm tập đoàn. Lindsay thật tuyệt vời!

Lindsay đã rất tốt bụng khi dành chút thời gian trong lịch trình bận rộn của mình để liên lạc với chúng tôi và gửi đến các bạn lời khuyên sau…

“Khi tôi học tiếng Trung trong quá khứ, các chữ Hán luôn tạo thành một lớp nghĩa mới cho ngôn ngữ mà bạn sẽ không có được khi học một ngôn ngữ dùng bảng chữ cái mà bạn đã biết. Điều này có vẻ đáng sợ lúc ban đầu nhưng khi bạn thay đổi cách suy nghĩ của mình, hãy coi như đây là một cách nhìn mới, và tìm cách của riêng mình để học và nhớ chữ, nó có thể sẽ trở thành một trong những thứ bạn thích nhất khi học tiếng Trung!”

Olly từ trang Tôi Sẽ Dạy Bạn Một Ngôn Ngữ

Cuối cùng, chúng tôi xin giới thiệu đến bạn, Tôi Sẽ Dạy Bạn Một Ngôn Ngữ. Trang website này là một nguồn trực tuyến tuyệt vời để học ngôn ngữ do Richards Olly quản lý. Chúng tôi rất vui vì Olly đã gửi đến các bạn, người đọc đáng quý của chúng tôi, một vài thông tin hữu ích khi học tiếng Trung.

“Học cách đọc Hán ngữ là một việc khó, và rất dễ bị để dành làm sau! Thực ra, chính tôi cũng đã mắc phải lỗi này khi học tiếng Nhật và tiếng Trung, và chọn chỉ tập trung vào kỹ năng nói. Đừng đi vào vết xe đổ của tôi! Nếu bạn thực sự muốn sử dụng ngôn ngữ này một cách trôi chảy vào một ngày nào đó, bạn phải biết đọc hiểu ngôn ngữ đó. Tất cả bắt đầu từ việc học đọc! Việt biết đọc sẽ giúp bạn mở ra lượng nội dung vô giới hạn, và những nội dung đó sẽ trở thành giáo viên tốt nhất của bạn!”

Học Hán ngữ qua điện thoại – Ngày nay có hàng trăm ứng dụng học tiếng Trung nhưng đâu là những cái tốt nhất?

Hẹn hò ở Trung Quốc – Như có nói ở trên, văn hoá Trung Hoa rất giàu đẹp, nhưng nó không chỉ gói gọn trong việc học tập! Văn hoá hẹn hò ở Trung Quốc khác biệt như thế nào? Chắc chắn sẽ không giống như những gì bạn vẫn biết rồi!

Tục ngữ Trung Quốc – Vừa tìm hiểu thêm về sự thông thái của văn hoá Trung Hoa truyền thống vừa học được thêm những từ và cụm từ mới.

BẠN CÓ BIẾT KHÔNG – Số đếm trong tiếng Trung cũng có những chữ Hán cho riêng mình đấy.

Chúng tôi đã dành riêng một bài blog khác cho Số đếm trong tiếng Trung, nhưng chúng tôi cũng đã dành một chút thời gian để làm những video hữu ích cho bạn để có một hướng dẫn ngắn gọn về cách học số đếm trong tiếng Trung!

Muốn tìm hiểu thêm về LTL?

Dịch từ bản tiếng Anh của Max Hobbs từ trang của Trường Hán Ngữ LTL.

Trường Hán Ngữ LTL tin rằng việc học tiếng Trung không nên bị giới hạn trong khuôn khổ của lớp học. Khi học ở Trung Quốc, bạn sẽ có thể hoàn toàn đắm mình trong văn hóa Trung Hoa để có sự thấu hiểu sâu sắc hơn về ngôn ngữ này.

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Sơ Lược Về Tiếng Phạn trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!