Xem Nhiều 12/2022 #️ Dạy Học Theo Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục,Quá Trình Triển Khai Và Kết Quả Bước Đầu / 2023 # Top 17 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 12/2022 # Dạy Học Theo Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục,Quá Trình Triển Khai Và Kết Quả Bước Đầu / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dạy Học Theo Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục,Quá Trình Triển Khai Và Kết Quả Bước Đầu / 2023 mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sau 2 vòng thẩm định, Hội đồng thẩm định đã đánh giá: Tài liệu TV1- CNGD về cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ GD-ĐT). Năm học 2018-2019 toàn quốc có 48/63 tỉnh thành áp dụng dạy học theo tài liệu, tỉ lệ 76.1% với 469 huyện, 7872 trường, 27981 lớp, 75.3211/1.4587285 học sinh theo học, chiếm tỉ lệ 50,64% tổng số học sinh lớp 1 của cả nước. Tại Lâm Đồng, trường học đầu tiên áp dụng là Trường Tiểu học thực nghiệm Lê Quý Đôn sau đó tiếp tục thực hiện Chương trình tiểu học năm 2000. Năm học 2013-2014 tài liệu này được áp dụng dạy học tại 60 trường tiểu học tham gia Chương trình SEQAP và các trường tham gia dạy học theo mô hình trường học mới. Qua quá trình áp dụng và hiệu quả của tài liệu này đã mang lại, các phòng GDĐT đã áp dụng rộng rãi tại nhiều trường tiểu học. Năm học 2018-2019 toàn tỉnh có 208/255 trường áp dụng dạy học đối với lớp 1 theo tài liệu TV1 CGD với 676 lớp, 20635/28894 học sinh tham gia, tỉ lệ 71,4% học sinh lớp 1 toàn tỉnh.

Tiết làm quen phương pháp học của Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục tại Trường Tiểu dọc Đoàn Thị Điểm, thành phố Đà Lạt năm học 2018-2019.

1. Quá trình dạy học của Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục a) Chuẩn bị tâm thế cho trẻ học tiếng Việt Cấu trúc tài liệu Tiếng Việt 1 CGD có 02 tuần chuẩn bị tâm thế cho trẻ đi học (trong trường tiểu học được gọi là 2 tuần 0 theo tài liệu), 2 tuần này học sinh chưa học chữ chưa học âm, vần mà chỉ mới làm quen cách học, đây là điều hết sức ý nghĩa và quan trọng cho trẻ làm quen phương pháp học ở trường tiểu học khi mà các em đang quen hoạt động vui chơi ở trường Mầm non nay chuyển sang hoạt động học ở trường tiểu học, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được làm quen và rèn luyện các kĩ năng, kỹ thuật khi mới vào lớp 1 như: Sử dụng bảng con, cách vẽ mô hình vào bảng, tên gọi các nét, cách cầm bút chì, phấn, tư thế ngồi học, cách xưng hô, trong 2 tuần này giáo viên hình thành nền nếp học của học sinh rất quan trọng đối với các em. Nếu không thực hiện tốt 2 tuần này thì học sinh sẽ học không có hiệu quả. b) Phương pháp và kỹ thuật dạy học theo công nghệ – Mục tiêu của TV1 CGD là: Đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả và không bao giờ tái mù (nếu nghe được thì nhắc lại được, viết ra được và đọc được). Học sinh nắm vững cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt và luật chính tả để viết không sai. Các em được phát triển tư duy khoa học theo các việc làm bằng sức lao động và sản phẩm của mình. – Đặc điểm của TV1 CGD Về tính khoa học, tất cả nội dung kiến thức là thành tựu về ngữ âm tiếng Việt được đưa vào nhẹ nhàng, vật liệu đơn giản, dễ làm, tài liệu phát triển có hệ thống và vững chắc bắt đầu từ tiếng, âm, vần, từ, câu, đoạn (không làm việc 1 thì không làm được việc 2…) tạo nên sự kiểm soát của giáo viên và học sinh. Giáo viên làm chu đáo, cẩn thận sẽ cho ra sản phẩm đồng loạt, đều và đẹp. Về tính phân hóa, học sinh tiến bộ với chính mình, có yêu cầu cơ bản và yêu cầu nâng cao, không có sản phẩm bị rơi rớt hoặc bỏ qua. Điểm nổi bật là tính vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy và cảm thấy hạnh phúc trong quá trình học. – Bản chất của công nghệ giáo dục là quản lý quá trình tự học. Trẻ tự làm ra sản phẩm của trẻ và từ đó phát triển sự tự tin. Mỗi bài học các em được học rất nhiều tiếng và từ. Ví dụ khi dạy bài ênh, êch, các em sẽ được học và tự chiếm lĩnh hết tất các tiếng có chứa hai vần đó (khác với chương trình hiện hành các em chỉ học vần, các từ khóa và từ ứng dụng). Ngoài ra, học sinh còn nắm được luật chính tả vần êch chỉ có dấu thanh sắc, thanh nặng đi kèm. Nội dung bài đọc đa dạng, phong phú về thể loại, kiểu bài phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, tạo được sự hứng thú cho các em. Ví dụ bài Bé xách đỡ mẹ; Cáo và quạ… Ngoài ra, tác giả còn bước đầu muốn bồi dưỡng sớm cho các em tình yêu quê hương đất nước, lòng tự tôn tự hào về nòi giống và truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua các bài đọc về lịch sử như bài: Các vua Hùng, Bà Triệu, chiến thắng Bạch Đằng… Trong tài liệu TV1 CGD còn một số từ ứng dụng cho học sinh đọc không có nghĩa hoặc phương ngữ như các từ: gà qué, tào lao, quện nhau …..nên mọi người băn khoăn. Điều này lý giải như sau: Khi học sinh mới bắt đầu học Tiếng Việt lớp 1 nên quan điểm của tài liệu này là chân không về nghĩa. Giai đoạn này học sinh lớp 1 mới bắt đầu học âm, vần, đọc từ ứng dụng, các em chưa thể nhận biết nghĩa của từ. Do vậy giáo viên chưa giải thích nghĩa từ ngữ cho học sinh nên các bậc cha mẹ học sinh không băn khoăn vấn đề này. Tuy nhiên các từ này đã được góp ý tác giả để chỉnh sửa. – Kỹ thuật dạy học của TV1 CGD là giáo viên giao việc, học sinh nhận việc; giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc để các em tự chiếm lĩnh kiến thức, chứ không làm trước, làm hộ. Giáo viên chỉnh sửa cho học sinh và học sinh chỉnh sửa cho nhau. Các lệnh của giáo viên đều được thay thế bằng mã hóa ký hiệu nên giờ dạy nhẹ nhàng, có tính khoa học và hiện đại. – Phương pháp của tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục cụ thể là: sử dụng cụm từ “luật chính tả” (cách gọi được dùng nhiều trong tài liệu TV1-CGD); hướng dẫn đánh vần dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc âm tiết tiếng Việt và sử dụng những thuật ngữ ngữ âm học như nguyên âm, âm đệm, âm chính, âm cuối, ….; chú ý phân biệt rạch ròi âm và chữ, ví dụ phân biệt âm /k/ (cờ) và chữ “k” (ca), “q” (cu) đây là kỷ thuật dạy học của giáo viên tiểu học. Âm /c/ được viết bằng 3 con chữ c,k,q. Âm /c/ viết chữ c khi đi với nguyên âm tròn môi như: a, o, ô, ơ, u, ư. Âm /c/ được viết bằng con chữ /k/ kh đi với i, e, ê là những nguyên âm không tròn môi. Âm /c/ được viết bằng con chữ /q/ khi đi với âm đệm u. – Trong TV1 CGD, học học sinh phải học thông qua các khái niệm khoa học. Với môn Tiếng Việt CGD, các em sẽ học cấu trúc ngữ âm của tiếng, không phải đi từ chữ rồi trở lại âm như chương trình hiện hành, mà công nghệ giáo dục đi từ âm đến chữ, tức là đi từ trừu tượng đến cụ thể. Từ khái niệm khoa học, học sinh sẽ phân tích những khái niệm đó và dần dần sẽ hiểu được cụ thể. – Bài đầu tiên được học trong sách CGD là “tiếng”. Khi phát âm chưa biết được “tiếng” đó có thành phần như thế nào. Từ phân tích “tiếng”, học sinh sẽ biết “tiếng” đó phần đầu như thế nào, phần vần như thế nào, phần vần gồm những âm nào, có thanh điệu nào. Học sinh học CGD được học luật chính tả rất kỹ, gặp luật chính tả ở đâu các em sẽ được giới thiệu và học. Nhờ đó, các em không viết sai, ví dụ sẽ phân biệt khi nào viết c, k, q; khi nào viết l, n và do đó giáo viên khi dạy phải chuẩn phát âm mới dạy cho học sinh. Nguyên tắc đánh vần trong CGD là theo âm, không phải theo chữ. – Phương pháp sử dụng ô vuông, tam giác, hình tròn này là để giúp các em học sinh hiểu về “tiếng” (hay âm tiết) trước khi nhận mặt chữ. Bởi vì về mặt bản chất, tiếng hay âm thanh chúng ta phát ra là thứ có trước, chữ viết chỉ là các ký hiệu được quy ước dành cho tiếng mà thôi. Trước khi nhận mặt chữ, các em học sinh hiểu ngôn ngữ là cấu tạo từ các “tiếng”, và các ô vuông là để hỗ trợ cho sự tưởng tượng đó được tốt hơn, tránh gây nhầm lẫn. Các ô vuông này chỉ được dạy trong một vài buổi đầu để học sinh làm quen với khái niệm “tiếng”. Còn sau đó sẽ được áp dụng vào bảng chữ Quốc ngữ như bình thường, để hỗ trợ cho cách đánh vần của học sinh. – Các mô hình bằng ô vuông, tam giác, hình tròn và đọc thơ lục bát trong tuần đầu nhằm giúp học sinh biết dùng vật thật thay thế các tiếng trẻ đọc, tách tiếng thành 2 phần là phần đầu và phần vần, biết nhận ra tiếng gống nhau và tiếng khác 3 nhau để từ đó học sinh tập đánh vần theo mẫu sau này. Giai đoạn này học sinh làm quen chứ chưa học âm, vần nên chưa đọc trơn được do vậy phụ huynh còn băn khoăn. Theo tâm lý học sinh tiểu học lớp 1 mới 6 tuổi nhận thức các em được tri giác các mô hình vật thật để não các em ghi nhớ và sau đó các em nhớ được các nét và ghép thành chữ để đọc. – Quy trình dạy học của TV1 CGD rất rõ ràng, thể hiện ở 4 việc. Việc 1 là chiếm lĩnh ngữ âm. Việc 2 là hình thành kỹ năng viết. Việc 3 là đọc (kết quả của việc 1 và 2) và việc 4 là đọc lại (tổng hợp lại việc 1, 2, 3). Kiến thức, kỹ năng luôn được củng cố một cách chắc chắn trong từng việc của tiết học. Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố: giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội. 2. Kết quả học theo tài liệu Tiếng Việt 1 CGD – Về kiến thức: Đa số học sinh nắm chắc cấu tạo ngữ âm Tiếng Việt nên đều đọc được và đọc tốt; nắm chắc các quy tắc chính tả, học đến đâu chắc đến đó, không bị nhầm lẫn khi viết chính tả; đặc biệt học sinh được rèn nền nếp học tập ngay từ những ngày đầu vào lớp 1. – Về kỹ năng: Học sinh thành thạo các thao tác; hiểu và thực hiện tương đối tốt các lệnh trong quá trình học; được tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, học sinh có kĩ năng đọc và nghe – viết chính tả tốt. – Về thái độ: Học sinh hứng thú học, yêu thích môn học. – Về năng lực, phẩm chất: Học sinh chủ động, tự tin tham gia các hoạt động học tập; thông qua việc làm, các thao tác học, tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của bản thân một cách nhẹ nhàng, hứng thú. Học sinh được làm việc theo một trình tự khoa học có tính hiệu quả, nghiêm túc và kỷ luật. Các em được làm việc nhiều, làm thế nào, nói thế ấy; làm được nói được và nói được làm được. Các kỹ năng hợp tác, chia sẻ, đánh giá được phát triển. Học sinh đọc tốt, viết tốt, nắm chắc luật chính tả và cấu tạo âm tiết Tiếng Việt. Học chương trình này thấy rõ học sinh nhanh nhẹn, năng động và hứng thú. Hiện nay đang đổi mới phương pháp dạy học, các em học sinh không thể học thụ động, dạy học không chỉ truyền thụ kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực, trong đó các phẩm chất “chăm học, chăm làm, trách nhiệm, trung thực, kỷ luật”, các năng lực “hợp tác, tự quản, tự học và giải quyết vấn đề”. phải được hình thành và phát triển. Do vậy cả 3 yếu tố: Kiến thức, phẩm chất, năng lực phải được hình thành và phát triển của một đứa trẻ và vững như ‘kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay coi nhẹ 1 yếu tố tức là chưa phát triển hài hòa đối với quá trình phát triển nhân cách, tư duy của học sinh tiểu học. Muốn hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học, các em phải được được hình thành từ lớp 1 và các kĩ năng sống thông qua các hoạt động thực tiễn, trong đó tổ chức các hoạt động học hợp lý để chính các em được tham gia, được tự học, tự hoàn thiện bản thân mình. Và học theo tài liệu TV1 CGD là cách làm hợp lý. Phương pháp dạy học theo tài liệu của TV1- CGD qua thực tế đã áp dụng cho thấy, tài liệu này đã giúp học sinh phát triển khá hiệu quả kĩ năng đọc thành tiếng và viết đúng chính tả. Đây cũng chính là những điểm mạnh của tài liệu TV1-CGD. Phương pháp dạy học đánh vần của tài liệu Tiếng Việt 1 CGD không thuộc nội dung được quy định trong Chương trình Tiếng Việt – Ngữ văn mới (sắp được ban hành), cũng như Chương trình Tiếng Việt năm 2000 (Chương trình hiện hành). Chương trình Tiếng Việt – Ngữ văn mới cũng như Chương trình Tiếng Việt hiện hành chỉ quy định các yêu cầu cần đạt về kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Cụ thể là sau một năm học, học sinh có khả năng đọc, viết, nói và nghe đến mức độ hoặc trình độ nào đó, chứ không bắt buộc học sinh phải được học theo phương pháp nào. Nói cách khác, chương trình giáo dục chỉ quy định mục tiêu cần đến, còn con đường đi đến mục tiêu, trên thực tế, khá đa dạng và sẽ được lựa chọn bởi tác giả sách giáo khoa và giáo viên. Sắp tới, khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, với chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 của các nhóm tác giả khác nhau có thể sử dụng những phương pháp dạy học đánh vần khác nhau. Chắc hẳn cuốn sách giáo khoa nào giúp học sinh đạt được các yêu cầu của chương trình bằng phương pháp hiệu quả nhất sẽ được nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh ưu tiên lựa chọn./.

Nguyễn Duy Hải – Trưởng phòng GDTH Sở GDĐT

Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục / 2023

Học cái gì là làm ra cái đó Bản chất việc dạy học Tiếng Việt Công nghệ giáo dục là dạy khái niệm khoa học. Thông qua việc tự chiếm lĩnh tri thức của học sinh, phát triển năng lực tối ưu của từng cá nhân: khả năng phân tích, tổng hợp, mô hình hóa. Học sinh học mônTiếng Việt Công nghệ giáo dục là học cách làm việc trí óc, học cách học, học cách tự nhận xét- đánh giá quá trình và kết quả làm việc của mình

Theo TS Ngô Hiền Tuyên, mục tiêu của dạy học môn tiếng Việt lớp 1 theo Công nghệ Giáo dục là giúp các em học sinh đọc thông viết thạo, học đâu chắc đấy. Nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt.

Đồng thời giúp các em phát triển tư duy và biết cách làm việc trí óc, phát huy năng lực tối ưu của từng cá nhân học sinh.

Cách học cái gì là làm ra cái đó trong nhà trường. Quá trình học là quá trình nhà giáo dục tổ chức cho trẻ em thực hiện quá trình tự giáo dục. Việc học có thực hiện được hay không là do phương pháp giáo dục của nhà trường.

Ví dụ ở phần học “Tách lời thành tiếng” trong bài học về “Tiếng”, giáo viên có thể đưa ra câu thơ:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.

Để giúp học sinh có được những kỹ năng trên, giáo viên có thể làm theo cách sau: Nói: to – nhỏ – mấp máy môi – thầm hoặc phân tích bằng mô hình.

Giáo viên cũng có thể tách tiếng thành 2 phần rồi phân tích bằng phát âm SEN và CHEN

Hay như với bài học về vần, từ 2 phần của tiếng, có mẫu giáo viên phân tích vật liệu bằng phát âm. Mô hình hóa – ghi lại – đọc lại luyện tập với nhiều vật liệu khác.

Cách học Tiếng Việt Công nghệ giáo dục

Tiến sỹ Tuyên – cho biết: Bản chất việc học là làm ra khái niệm. Phân tích được mối quan hệ bản chất, bên trong của khái niệm. Đồng thời mô hình hoá được quan hệ này ở dạng tổng quát và cụ thể hóa khái niệm qua luyện tập sử dụng.

Thao tác hình thành khái niệm gồm: Phân tích, cụ thể hóa. Thao tác này là luyện tập thành kỹ năng. Học sinh có một công cụ và có thể tự học lấy các kiến thức khác trong phạm vi của khái niệm vừa hình thành.

Những điều cần biết đối với phụ huynh Nên khuyến khích con tự học. Nên khen con thường xuyên. Nên kiên nhẫn, biết đợi và biết lắng nghe những điều con nói. Nên kiểm soát việc học của con bằng cách đặt câu hỏi. Không nên dạy con học trước. Không nên chê con khi con chưa làm được. Không nên nóng giận và áp đặt suy nghĩ của mình cho trẻ. Không nên tạo áp lực về điểm số, thành tích.

Chuyên Đề Dạy Học Tiếng Việt 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục / 2023

HỘI NGHỊ

TẬP HUẤN CHƯƠNG TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC TIÕNG VIÖT 1 – C¤NG NGHÖ GI¸O DôC ( ViÕt t¾t lµ CGD)

Ngày…. tháng 8 năm 2016

NỘI DUNG TẬP HUẤN :

*Giới thiệu chung về TV1- CGD của Hồ Ngọc ĐạiI. Giới thiệu chương trình, SGKII. Phương pháp dạy họcIII. Tiến trình của 1 bài học IV. Cách đánh giá HSV. Giới thiệu 1 số nếp HS được hình thành ở tuần oI. Công nghệ giáo dục (CGD) là gì?CÔNG NGHỆ

– Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;– Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề.– Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau.

CGD là một cách làm giáo dục.CGD là một cách làm giáo dục có công nghệ.CGD được diễn giải bằng một hệ thống khái niệm khoa học.CGD đi liền với kĩ thuật thực thi.CGD có một hệ thống thuật ngữ tương ứng.CGD là một cách làm giáo dục được kiểm nghiệm trên thực tiễn.CGD là một giải pháp giáo dục.Theo HỒ NGỌC ĐẠIBản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.Công nghệ học (CnH)- Công nghệ giáo dục (CGD)

– Công nghệ học là quá trình làm ra một khái niệm khoa học– Công nghệ giáo dục là quy trình làm ra sản phẩm là các môn nghệ thuật, đạo đức.

– Công nghệ học làm ra khái niệm như một sản phẩm chính thức, dứt khoát, với giá trị đúng. – Công nghệ giáo dục coi khái niệm là bán thành phẩm, phải làm tiếp mới có được sản phẩm mong muốn, với giá trị gần đúng

2. Học để làm gì?(Mục đích giáo dục)

– Học để sống hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày của cá nhân. Đi học là hạnh phúc. Đi học là phương thức mỗi cá nhân tự khẳng định mình, vì hạnh phúc của chính mình

3. Học cái gì?(Nội dung giáo dục)

Khoa họcNghệ thuậtCách sống 4. Học như thế nào?(Phương pháp giáo dục)

– Cách học cái gì là làm ra cái đó trong nhà trường, Học CÁCH cư xử khái niệm. – Quá trình giáo dục là quá trình nhà giáo dục tổ chức cho trẻ em thực hiện quá trình tự giáo dục Quan điểm dạy học theo công nghệ giáo dục ?1. HS là trung tâm– Thầy thiết kế- trò thi công Cơ chế việc làm

2. HS tự chiếm lĩnh kiến thức – Xác định đối tượng chiếm lĩnh. – Tách đối tượng chiếm lĩnh ra thành các phạm trù riêng biệt: lời nói, tiếng, âm, vần.3. Phát triển tư duy học sinhMỗi cá nhân được phát triển (về mặt tinh thần) đều bằng lao động, học tập của chính mình. Mỗi học sinh muốn phát triển, phải TỰ MÌNH học tập, lao động. Ai làm nhiều có nhiều, ai làm ít có ít, giá trị của mình do mình tự làm ra.Chiếm lĩnh đối tượng theo sự phát triển của phương pháp làm ra sản phẩm khoa học: Con đường chiếm lĩnh từ trừu tượng đến cụ thể.Phân tích Khái niệm xuất phát từ đâu, lôgic của nó như thế nào, có bao nhiêu thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố, sự tác động qua lại giữa các thành tố.Mô hình hóa Mô hình hóa được mối quan hệ này ở dạng tổng quát, giữ lại các thành tố cốt lõi của khái niệm và mối quan hệ qua lại giữa chúng.Phần đầu Phần vần baVí dụ: Tiếng ba – áp dụng sang các vần

Tiếng ba phần vần có 1 âm chính:VD: Tiếng có âm chính a : bao a a no a n * Mục tiêu của chương trình CGD là:1. HS đọc thông viết thạo, không tái mù.2. Nắm chắc luật chính tả.3. Nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt.*. Đối tượng: Cấu trúc ngữ âmTiếngÂm và chữVầnI. Nội dung chương trình, SGKA. Nội dung chương trình1. Bài 1: Tiếng Tiếng là một khối âm toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Tiếp đó bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn, tiếng khác nhau một phần. Tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh. Đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước:– Bước 1: b/a/ba (tiếng thanh ngang)– Bước 2: ba/huyền/bà (thêm các thanh khác)Tách lời thành tiếng

Vật liệu: Tháp mười đẹp nhất bông sen Nước nam đẹp nhất có tên Bác Hồ Nói to – nhỏ – mấp máy môi – thầmPhân tích bằng mô hình:Tiếng có 2 phần

Phõn tớch b?ng phỏt õm

SEN v CHEN

??2. Bài 2: ÂmHọc sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị. Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái Tiếng Việt. Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng ký hiệu để ghi lại. Như vậy CGD đi từ âm đến chữ.Một âm có thể viết bằng nhiều chữ và có thể có nhiều nghĩa nên phải viết đúng luật chính tả.Do đó, các luật chính tả được đưa vào ngay từ lớp 1, CGD xử lý mối quan hệ âm và chữNguyên âm và phụ âm

T? 2 ph?n c?a ti?ng, cú m?u

ba3. Bài 3: VầnBài này giúp học sinh nắm được: – Cách tạo 4 kiểu vần Tiếng Việt – Cấu trúc vần Tiếng Việt: âm đệm, âm chính, âm cuối – Phát triển kiến thức về ngữ âm, phát triển năng lực phân tích và tổng hợp ngữ âm để tạo ra tiếng mới, vần mới.Các kiểu vần Kiểu 1: Vần chỉ có âm chính : la Kiểu 2: Vần có âm đệm và âm chính: loa Kiểu 3: Vần có âm chính và âm cuối: lan Kiểu 4: Vần có âm đệm, âm chính và âm cuối: loanCác kiểu vần

Phân tích vật liệu bằng phát âmMô hình hóa – ghi lại – đọc lạiLuyện tập với nhiều vật liệu khác .

bao a a no a n Bài 4: Nguyên âm đôi– Các Nguyên âm đôi: iê, uô, ươ – Cách ghi nguyên âm đôiBÀI Luyện tập tổng hợp1.Phần LTTH bao gồm:– Hệ thống tri thức ngữ âm và luật chính tả.– Hệ thống bài đọc.2. Phần LTTH nhằm mục đích:Ôn tập lại kiến thức về cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt Rèn các kĩ năng N-N-Đ-V (chú trọng Đ-V) cho HS.

B-TÀI LIỆU * DÀNH CHO HỌC SINH1. Bộ tài liệu Tiếng Việt 1. CGD ( 3 tập)a.Cấu trúcTập 1: Tiếng và ÂmTập 2: Vần và Nguyên âm đôiTập 3: Tự họcb.Cách sử dụng– Dùng trên lớp trong từng tiết học– HS có thể mang về nhà để luyện tập thêm2. Bộ tài liệu tập viếta.Cấu trúcGồm 3 tập: Nội dung tương ứng với SGK (trang ăn trang)Hướng dẫn cách nhận biết chữ in dựa trên tọa độDựa trên tọa độ của chữ in thường, in hoa để viết chữ viết thường, chữ viết hoa.b.Cách sử dụngDùng luyện tập thêm về kỹ năng viết.GV chủ động về thời gian và căn cứ vào tình hình của lớp mình để triển khai vở Tập viết.Quy trình viết cụ thể của từng đã được hướng dẫn cụ thể trong thiết kế.*TÀI LIỆU CHO GV1. Tài liệu tập huấn (Công nghệ học môn Tiếng Việt lớp 1).Trình bày lý luận CGDNhấn mạnh kĩ thuật thực thi cho từng loại tiết học, từng mẫu (Trong mỗi phần đều có phần phân tích sư phạm)2. Tài liệu thiết kế (3 tập):Mẫu thiết kế tương ứng với các mẫu trong sách giáo khoaPhân phối chương trìnhCác tiết luyện tậpII. PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1.CGD

Phương pháp Mẫu:Lập mẫu, sử dụng mẫuLàm mẫu, tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có *Hs tự làm lại theo lệnh của GVIII. QUY TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT LỚP chúng tôi Loại 1: Tiết lập mẫuViệc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm 1.1: Giới thiệu vật liệu mẫu 1.2: Phân tích ngữ âm 1.3: Vẽ mô hìnhViệc 2: Viết 2.1: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường 2.2: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ viết thường 2.3: Viết tiếng có âm (vần) vừa học 2.4: Viết vở Em tập viếtLoại 1: Tiết lập mẫu

Việc 3: Đọc3.1: Đọc trên bảng3.2: Đọc trong sách

Việc 4: Viết chính tả4.1: Viết bảng con/Viết nháp4.2 : Viết vào vở chính tảLoại 2: Tiết dùng mẫu

* Quy trình: Giống quy trình của tiết lập mẫu* Mục đích:Vận dụng quy trình từ tiếp Lập mẫuLuyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết Lập mẫu.* Yêu cầu GV:Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫuChủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với HS lớp mình.Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợpViệc 2: Đọc Bước 1: Chuẩn bịĐọc nhỏĐọc bằng mắtĐọc to Bước 2: Đọc bàiĐọc mẫuĐọc nối tiếpĐọc đồng thanh Bước 3: Hỏi đápViệc 1:Ngữ âm – Đưa ra một số tình huống về ngữ âm TV và LCT. – Vận dụng Làm một số bài tập ngữ âm và LCT – Tổng hợp kiến thức ngữ âm theo hệ thống đã sắp xếpViệc 3: Viết 3.1.Viết bảng con 3.2.Viết vở Em Tập viết

Việc 4: Chính tả 4.1. Ôn LCT (nếu có) 4.2. Nghe – viết

Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợpIV. TỔ CHỨC, KIỂM SOÁT, ĐÁNH GIÁCGD đã xây dựng một quy trình lô gic, có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống Việc làm- thao tác cụ thể, tường minh.Đánh giá HS trong cả quá trình. Có 4 mức độ đánh giá : 1.làm được 2.làm đúng 3.làm đẹp 4.làm nhanh (Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học sinh. Mức 3,4 thể hiện sự phân hóa HS rõ nét trong quá trình dạy học).IV. Một số hoạt động HS cần nắm được ở Tuần 0:1. Làm quen – Cô giáo, bạn cùng bàn, bạn trong lớp – Biết tự giới thiệu và hỏi bạn. – Biết đứng lên chào khi thầy cô vào lớp.2. Làm quen với đồ dùng học tập: – Sách giáo khoa – Vở em tập viết – Hộp đồ dùng, bảng con, giẻ lau, phấn.3. Làm quen với các kí hiệu, tín hiệu. To – nhỏ – nhẩm – thầm

B – S – V – N : Bảng, sách, vở, nhóm lật bảng, xóa bảng …* Ưu điểm của TV1.CGDGV – Nghiệp vụ được nâng lênHS – Phân biệt rõ phụ âm, nguyên âm, nguyên âm đôi.– Nắm chắc luật chính tảĐọc, viết nhanhRèn kĩ năng nói tốt, mạnh dạn

Công Nghệ Giáo Dục Tiếng Việt 1 / 2023

Thực hiện 25. 9.2013CHUYÊN ĐỀCÔNG NGHỆ GIÁO DỤC(CGD)TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN TỪNĂM HỌC 2013- 2014 GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại (77 tuổi)Quan điểm: Cần có 1 nền GD mới.Một nền GD phải mới tận nguyên lý của nó.Một nền GD tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho DT, nơi trẻ em là những anh hùng thời đại.Và một nền GD không bị thần bí hóa bằng lời hô hào” Sáng tạo” suông. Mà là một nền GD công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà KH tạo ra bằng thực nghiệm.Và nếu muốn đổi mới tận gốc nền GDVN thì phải bắt đầu từ lớp 1. Một người “chịu thua tất cả chỉ để được CNGD”PHẦN 1CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC(CGD)

PHẦN 2TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1-CGD

PHẦN 3 DỰ GIỜ MINH HỌA DẠY TIẾNG VIỆT 1-CGD I.Công nghệ giáo dục là gì? chúng tôi là một cách làm giáo dục có công nghệ 2.Bản chất của Công nghệ giáo dụcII.Quan điểm dạy học theo CGD:1.HS là trung tâm2.HS tự chiểm lĩnh tri thức3.Phát triển tư duy HS PHẦN 1CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC (CGD)PHẦN 2TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1-CGD 1.Mục tiêu: Giúp HS -Đọc thông, viết thạo, không tái mù -Nắm chắc Luật chính tả -Nắm chác hệ thống cấu trúc ngữ âm TV 2. Đối tượng: -Tiếng – Âm và chữ – vần 3.Nguyên tắc xây dựng chương trình -NT phát triển -NT chuẩn mực -NT tối thiểu

4.Nội dung chương trình : Tổng số 35 tuần= 350 tiết(Mỗi tuần 10 tiết), chương trình chia làm các dạng bài cơ bản sau: Bài 1: Tiếng Bài 2: Âm Bài 3: Vần Bài 4: Nguyên âm đôi Bài 5: Luyện tập tổng hợp -Hệ thồng tri thức ngữ âm và Luật chính tả – Hệ thống bài đọc5. Quy trình dạy một bài Tiếng Việt lớp 1.CGD

Loại bài: Lập mẫuViệc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm Việc 3: Đọc(Đọc trơn- Đọc PT)Việc 2: Viết Việc 4:Viết chính tả Loại bài: Dùng mẫu QT giống như bài Lập mẫuLoại bài: Luyện tập tổng hợpViệc 1: Ngữ âm Việc 3:ViếtViệc 2: Đọc Việc 4:Chính tả

6. Phương pháp cơ bản trong dạy họcTV1.CGD -Phương pháp Mẫu -Phương pháp Việc làm7. Đánh giá HS Có 4 mức độ Đánh giá: 1.Làm được 3.Làm đẹp 2.Làm đúng 4.Làm nhanh

100% HS phải đạt mức 1, 2. Mức 3, 4 thể hiện sự phân hóa rõ nét.

PHẦN 3

GIỜ MINH HỌA DẠY TIẾNG VIỆT 1-CGD Câu hỏi thu hoạchQua tiết dạy minh họa, ĐC cho biết:1.Giáo viên đã áp dụng các phương, hình thức tổ chức dạy học nào?(VD…)2.Tiết dạy đã đem lại những hiệu quả nào?.Tiết 1Vần có âm chính và âm cuối( Mẫu 3: an)

Bạn đang xem bài viết Dạy Học Theo Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục,Quá Trình Triển Khai Và Kết Quả Bước Đầu / 2023 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!