Xem Nhiều 12/2022 #️ Cách Học 214 Bộ Thủ Tiếng Trung / 2023 # Top 20 Trend | Lienminhchienthan.com

Xem Nhiều 12/2022 # Cách Học 214 Bộ Thủ Tiếng Trung / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Học 214 Bộ Thủ Tiếng Trung / 2023 mới nhất trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cách học 214 bộ thủ trong tiếng Trung

Bộ Thủ là bộ kiện có tác dụng phân loại kiểu chữ, là chữ đầu tiên của các bộ trong từ điển. Theo Khang Hy tự điển (1716), Trung Hoa đại tự điển (1915), và Từ hải (1936) công nhận có 214 bộ. Trong các cuốn từ điển tiếng Trung, chữ Hán thường được quy lại thành từng nhóm theo bộ thủ, thứ tự của các bộ thủ căn cứ vào số nét. Bộ thủ đơn giản nhất chỉ có một nét, bộ thủ phức tạp nhất có 17 nét.

2, Ý nghĩa, tác dụng của bộ thủ trong việc học chữ Hán

Dựa theo bộ thủ chúng ta có thể tra cứu chữ Hán một cách dễ dàng hơn. Khi gặp phải chữ Hán mà bạn không biết nghĩa và cách đọc của nó, bạn có thể dựa vào bộ thủ để tra từ điển, hiện nay các cuốn từ điển đều có phần tra cứu chữ Hán theo các bộ, các chữ Hán đều đã được phân loại theo các bộ và việc của bạn là chỉ cần nhớ xem đó là bộ gì và giở trang chứa bộ đó để tra cứu thôi. Việc tra cứu bằng bộ thủ sẽ nhanh và thuận tiện hơn tra bằng nét, vì bạn phải mất thời gian để đếm nét chữ, và rất có thể bạn sẽ đếm sai.

Để viết được bộ thủ cũng như chữ Hán, chúng ta cần nắm được các nét và quy tắc viết chữ Hán.

Các nét cơ bản trong chữ Hán bao gồm 8 nét cơ bản lần lượt là: Ngang (一), Sổ (丨) , Phẩy (丿), Chấm (丶), Mác (㇏), Gập (乛), Móc (亅), Hất (㇀)

Quy tắc viết chữ Hán: 7 quy tắc cơ bản

– Ngang trước sổ sau: viết các nét ngang trước sau đó viết các nét sổ, ví dụ như 十, 王 , 干 – Phẩy trước mác sau: viết các nét phẩy trước rồi viết các nét mác sau, ví dụ như 人, 八, 入 – Trên trước dưới sau: viết lần lượt từ trên xuống dưới, ví dụ như 三, 竟, 音 – Trái trước phải sau: viết các nét bên trái trước rồi đến các nét bên phải, ví dụ như: 利, 礼, 明, 湖 – Ngoài trước trong sau: ví dụ như 问, 同, 司 – Vào trong trước đóng cửa sau: viết xong bên trong rồi mới đóng lại, ví dụ như: 国, 圆, 园, 圈 – Giữa trước hai bên sau: ví dụ như 小, 水

– Bộ thủ ở bên trên: trong chữ 家 bộ Miên (宀) nằm bên trên. Các bộ thủ thường nằm bên trên: bộ Miên (宀), bộ Quảng (广), bộ Thi (尸),bộ Thảo đầu (艹 ),… – Bộ thủ ở bên dưới: trong chữ 想 bộ Tâm (心) nằm ở bên dưới, trong chữ 尘 bộ Thổ (土) cũng nằm bên dưới,.. Các bộ thủ thường nằm bên dưới: bộ Hỏa (灬), bộ Tâm (心),… – Bộ thủ ở bên trái: trong chữ 说 bộ Ngôn (讠) nằm bên trái, trong chữ 打 bộ Tài Gẩy (扌) cũng nằm bên trái,… Các bộ thường nằm bên trái gồm có : bộ Ngôn 讠, bộ Tfai Gẩy 扌, bộ Nhân đứng 亻, bộ Dẫn 廴, bộ Quai Xước 辶, bộ Nhân kép 彳, bộ Thực 饣, bộ Tâm đứng 忄,… – Bộ thủ ở bên phải: trong chữ 我 bộ Qua戈 nằm bên phải, trong chữ 吗 bộ Mã(马) cũng nằm bên phải,… Các bộ thủ thường nằm bên phải: bộ Qua戈, … – Bộ thủ ở bên ngoài: Trong chữ 同, bộ Quynh (冂) bao bên ngoài, trong chữ 问 thì bộ Môn (门) cũng nằm bao bên ngoài,… các bộ thủ thường nằm bên ngoài: bộ Quynh (冂),bộ Môn (门), bộ Vi (囗),…

Học bộ thủ quả hình ảnh: Tiếng Trung thuộc loại chữ tượng hình nên việc học các chữ qua những hình ảnh tương quan tương đồng với chữ hay tương đồng với ý nghĩa của chữ là khá phổ biến. Việc học chữ qua hình ảnh sẽ giúp cho người học nhớ được nhanh hơn, nhớ được lâu hơn. Ví dụ ta có thể học các bộ thủ bộ Mộc, bộ Thủy, bộ Kim, bộ Hỏa, bộ Thổ qua các hình ảnh bên dưới

Học bộ thủ qua thơ: Chúng ta cũng có thể học các bộ thủ qua bài thơ diễn thủ ca. Để tải toàn bộ bài thơ 214 bộ thủ các bạn vào link https://goo.gl/zMG16m. Tiếng Trung Ánh Dương giới thiệu sơ lược với các bạn 10 câu đầu tiên trong bài thơ về 214 bộ thủ tiếng Trung

1. MỘC (木) – cây, THỦY (水) – nước, KIM (金) – vàng 2. HỎA (火) – lửa, THỔ (土) – đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) – trời 3. XUYÊN (川) – sông, SƠN (山) – núi, PHỤ (阜) – đồi 4. TỬ (子) – con, PHỤ (父) – bố, NHÂN (人) – người, SỸ (士) – quan 5. MIÊN (宀) – mái nhà, HÁN (厂) – sườn non 6. NGHIỄM (广) – hiên, HỘ (戶) – cửa, cổng – MÔN (門), LÝ (里) – làng 7. CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang 8. TỊCH (夕) – khuya, THẦN (辰) – sớm (4), Dê – dương (羊), HỔ (虍) – hùm 9. NGÕA (瓦) – ngói đất, PHẪU (缶) – sành nung 10. Ruộng – ĐIỀN (田), thôn – ẤP 邑 (5), què – UÔNG (尢), LÃO (老) – già

Cách Học 214 Bộ Thủ Kanji Qua Thơ / 2023

Bất kỳ ai khi tìm hiểu về tiếng Nhật đều biết rằng tiếng Nhật có tất cả 3 bảng chữ cái Hiragana, Katakana và Kanji. Trong 3 bảng chữ cái này, bảng chữ cái Kanji được coi là bảng chữ cái khó học nhất, trong đó bộ thủ lại được coi là phần cơ bản của Kanji, cấu tạo nên các chữ Kanji giúp sắp xếp lại để cấu hình nên các chữ Hán tự. Bộ thủ giúp cho việc học và tìm kiếm các chữ Kanji dễ dàng hơn rất nhiều.

Từ trước đó rất lâu, vào đời nhà Hán, được phân thành 540 nhóm hay còn được gọi là 540 bộ. Tuy nhiên trải qua thời gian cho tới ngày nay, các bộ thủ chỉ còn lại 214 bộ, phần nhiều đều là chữ tượng hình, khi học cần có sự liên tưởng tới những sự vật hiện tượng xung quanh ta. Đa số các chữ Hán tự là chữ hình thanh, vì vậy mà chỉ cần nắm vững được các bộ thủ Kanji sẽ giúp bạn có thể dễ dàng hiểu rõ hơn về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa của chữ Kanji.

Bài thơ về 214 bộ thủ trong tiếng Nhật

MỘC (木) – cây, THỦY (水) – nước, KIM (金) – vàng

HỎA (火) – lửa, THỔ (土) – đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) – trời

XUYÊN (川) – sông, SƠN (山) – núi, PHỤ (阜) – đồi

TỬ (子) – con, PHỤ (父) – bố, NHÂN (人) – người, SỸ (士) – quan

MIÊN (宀) – mái nhà, HÁN (厂) – sườn non

NGHIỄM (广) – hiên, HỘ (戶) – cửa, cổng – MÔN (門), LÝ (里) – làng

CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang

TỊCH (夕) – khuya, THẦN (辰) – sớm, Dê – DƯƠNG (羊), HỔ(虍) – hùm

NGÕA (瓦) – ngói đất, PHẪU (缶) – sành nung

Ruộng – ĐIỀN (田), thôn – ẤP 邑, què – UÔNG (尢), LÃO(老) – già

DẪN 廴- đi gần, SƯỚC 辶 – đi xa

BAO 勹 – ôm, TỶ 比 – sánh, CỦNG 廾 – là chắp tay

ĐIỂU 鳥 – chim, TRẢO 爪 – vuốt, PHI 飛 – bay

TÚC 足 – chân, DIỆN 面 – mặt, THỦ 手 – tay, HIỆT 頁 – đầu

TIÊU 髟 là tóc, NHI 而là râu

NHA 牙 – nanh, KHUYỂN 犬 – chó, NGƯU 牛- trâu, GIÁC 角 – sừng

DỰC 弋 – cọc trâu, KỶ 己 – dây thừng

QUA 瓜 – dưa, CỬU 韭 – hẹ, MA 麻 – vừng, TRÚC竹 – tre

HÀNH 行 – đi, TẨU 走 – chạy, XA 車 – xe

MAO 毛 – lông, NHỤC 肉 – thịt, Da 皮 – Bì, CỐT 骨 – xương.

KHẨU (口) là miệng, Xỉ (齒) là răng

Ngọt CAM (甘), mặn LỖ (鹵), dài TRƯỜNG (長), kiêu CAO (高)

CHÍ (至) là đến, NHẬP (入) là vào

BỈ (匕) môi, CỮU (臼) cối, ĐAO (刀) dao, MÃNH (皿) bồn

VIẾT (曰) rằng, LẬP (立) đứng, lời NGÔN (言)

LONG (龍) rồng, NGƯ (魚) cá, QUY (龜) con rùa rùa

LỖI (耒) cày ruộng, TRỈ (黹) thêu thùa

HUYỀN (玄) đen, YÊU (幺) nhỏ, MỊCH (糸) tơ, HOÀNG (黃) vàng

CÂN (斤) rìu, THẠCH (石) đá, THỐN (寸) gang

NHỊ (二) hai, BÁT (八) tám, PHƯƠNG (方) vuông, THẬP (十) mười

NỮ (女) con gái, NHÂN (儿) chân người (1)

KIẾN (見) nhìn, MỤC (目) mắt, XÍCH (彳) dời chân đi

Tay cầm que gọi là CHI (支 )

Dang chân là BÁT (癶), cong thì là Tư (厶)

Tay cầm búa gọi là THÙ (殳)

KHÍ (气) không, PHONG (風) gió, VŨ (雨) mưa, TỀ (齊) đều

LỘC (鹿) hươu, MÃ (馬) ngựa, THỈ (豕) heo

Sống SINH (生), LỰC (力) khoẻ, ĐÃI (隶) theo bắt về

VÕNG (网) là lưới, CHÂU (舟) thuyền bè

HẮC (黑) đen, BẠCH (白) trắng, XÍCH (赤) thì đỏ au

Thực (食) đồ ăn, Đấu (鬥) đánh nhau

Thỉ (矢) tên, Cung (弓) nỏ, Mâu (矛) mâu, Qua (戈) đòng

Đãi (歹) xương, Huyết (血) máu, Tâm (心) lòng

Thân (身) mình, Thi (尸) xác, Đỉnh (鼎) chung, Cách (鬲) nồi

Khiếm (欠) thiếu thốn, Thần (臣) bầy tôi

Vô (毋) đừng, Phi (非) chớ, Mãnh (黽) thời ba ba

Nhữu (禸) chân, Thiệt (舌) lưỡi, Cách (革) da

Mạch (麥) mỳ, HÒA (禾) lúa, Thử (黍) là cây ngô

Tiểu (小) là nhỏ, Đại (大) là to

Tường (爿) giường, Suyễn (舛) dẫm, Phiến (片) tờ, Vi (韋) vây

TRỈ (夂) bàn chân, TUY (夊) rễ cây,

TỰ (自) từ, TỴ (鼻) mũi, NHĨ (耳) tai, THỦ (首) đầu.

THANH (青) xanh, THẢO (艹) cỏ, SẮC (色) màu,

TRĨ (豸) loài hổ báo, KỆ (彑) đầu con heo.

THỬ (鼠) là chuột, rất sợ mèo,

HƯƠNG (香) thơm, MỄ (米) gạo, TRIỆT (屮) rêu, DỤNG (用) dùng.

ĐẤU (斗) là cái đấu để đong,

Chữ CAN (干) lá chắn, chữ CÔNG (工) thợ thuyền.

THỊ (示) bàn thờ cúng tổ tiên,

NGỌC (玉) là đá quý, BỐI (貝) tiền ngày xưa.

ĐẬU (豆) là bát đựng đồ thờ,

SƯỞNG (鬯) chung rượu nghệ, DẬU (酉) vò rượu tăm.

Y (衣) là áo, CÂN (巾) là khăn,

HỰU (又) bàn tay phải, CHỈ (止) chân tạm dừng.

ẤT (乙) chim én, TRÙNG (虫) côn trùng,

CHUY(隹) chim đuôi ngắn, VŨ (羽) lông chim trời.

QUYNH (冂) vây 3 phía bên ngoài,

VI (囗) vây bốn phía, KHẢM (凵) thời hố sâu.

PHỐC (攴) đánh nhẹ, THÁI (采) hái rau,

KỶ (几) bàn, DUẬT (聿) bút, TÂN (辛) dao hành hình.

VĂN (文) là chữ viết, văn minh,

CẤN (艮) là quẻ Cấn, giống hình bát cơm.

Ma là QUỶ (鬼), tiếng là ÂM (音),

CỔ (鼓) là đánh trống, DƯỢC (龠) cầm sáo chơi.

THỊ (氏) là họ của con người,

BỐC (卜) là xem bói, NẠCH (疒) thời ốm đau.

Bóng là SAM (彡), vạch là HÀO (爻)

Á (襾) che, MỊCH (冖) phủ, SƠ (疋) ĐẦU (亠) nghĩa nan.

SỔ (丨) PHẾT (丿) MÓC (亅) CHỦ (丶) nét đơn,

HỄ (匸) PHƯƠNG (匚) BĂNG (冫) TIẾT (卩), thì dồn nét đôi.

VÔ (无) là không, NHẤT (一) mộ thôi,

Diễn ca bộ thủ muôn đời không quên

Học 214 Bộ Thủ Trong Tiếng Trung / 2023

Học tốt 214 bộ trong tiếng Trung giúp bạn học từ vựng trở nên dễ dàng hơn. Chinese chúng tôi xin gửi đến các bạn 214 bộ trong tiếng Trung và cách nhớ các bộ nhanh nhất

Các nét trong bộ thủ tiếng Trung

Bộ 1 Nét

Bộ thủ 9 Nét

Bộ 10 Nét

Bộ 11 Nét

Bộ 12 Nét

Bộ thủ 13 Nét

205. 黽 mãnh : con ếch; cố gắng (mãnh miễn) 206. 鼎 đỉnh : cái đỉnh 207. 鼓 cổ : cái trống 208. 鼠 thử : con chuột

Bộ 14 Nét

209. 鼻 tỵ : cái mũi 210. 齊 tề (斉, 齐 ) : ngang bằng, cùng nhau

Bộ 15 Nét

211. 齒 xỉ (齿, 歯) : răng

Bộ 16 Nét

212. 龍 long (龙 ) : con rồng 213. 龜 quy (亀, 龟 ) : con rùa

Bộ 17 Nét

Cách nhớ và học thuộc bộ thủ tiếng Trung

Như chúng ta đã biết chữ Trung Quốc là chữ tượng hình được chia làm hai loại là chữ đơn thể (人,口,女,手,…) và chữ hợp thể (你,难,笑,男,…). Chữ hợp thể chiếm đa số trong tiếng Trung, thường có kết cấu trái – phải, trên – dưới, ngoài – trong, một phần biểu nghĩa, một phần biểu âm đọc. Từ đó chỉ cần nhìn chữ chúng ta sẽ có thể đoán được nghãi và cách đọc của từ.

Ở đây chúng ta cũng cần tìm hiểu bộ thủ là gì? Và học bộ thủ thì có lợi ích gì?

“Bộ thủ: là thành phần cốt yếu của chữ Trung Quốc. Trong tiếng Trung có tất cả 214 bộ thủ, phần lớn những bộ thủ này không thể phân tách ra nữa nếu không chúng sẽ trở nên vô nghĩa, Vì vậy muốn học tốt chữ Trung Quốc chúng ta nên học thuộc các bộ thủ..

Học thuộc các bộ thủ mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích. Khi chúng ta không biết cách đọc một từ chúng ta có thể dựa vào bộ thủ để tra nghĩa cũng như cách đọc của từ ấy. Như đã nói ở trên chữ hợp thể chiếm hần lớn. trong tiếng Trung vì vậy có những chữ được ghép từ hai hoặc nhiều bộ thủ lại với nhau, Vì vậy học thuộc bộ thủ cũng là một cách để ghi nhớ chữ Trung Quốc.

Phương pháp chiết tự (chẻ chữ, phân tích chữ) là một cách nhớ chữ Trung Quốc nhanh và hiệu quả.

Vd: Chữ “休” nghĩa là nghỉ ngơi, chữ này được ghép từ chữ “人” : người và chữ “木”: gốc cây. Có nghãi là khi người ta làm việc mệt nhọc thì ngồi nghỉ tại gốc cây.

Đoán nghĩa của chữ dựa vào bộ thủ:

Khi biết bộ thủ chúng ta có thể đoán được phần nào nghĩa của từ.

Mỗi bộ thủ đều mang một ý nghĩa riêng, vì vậy chúng ta nên chú tâm học thuộc các bộ thủ để giúp ích cho việc học chữ Trung Quốc của chúng ta.

Ghi nhớ chữ tượng hình và chữ hội ý.

Trong tổng số chữ Trung Quốc có những chữ mô phỏng theo hình dáng của sự vật, là những hình vẽ, kiểu phác thảo những vật có thể thấy bằng mắt như: Mặt trăng, mặt trời, con ngựa,…tính chất tượng hình của chữ Trung Quốc nằm ở chữ độc thể, cũng là các bộ chữ, tạo trực quan sinh động cho người học.

Vd: “月”: Mặt trăng; “日”: Mặt trời; “水”: Nước,…

Chữ hội ý và chữ chỉ sự là loại chữ thể hiện lối tư duy trí tuệ của người xưa.

Vd: “木” có nghĩa là cây, 2 chữ “木”sẽ tạo thành chữ “林”. Chữ “好”nghĩa là tốt được ghép từ chữ “女”và chữ”子”, ý chỉ người phụ nữ sinh được con trai là việc tốt.

Ghi nhớ qua chữ hình thanh: là loại chữ được cấu tạo theo cách kết hợp giữa bộ thủ biểu thị âm thanh và bộ thủ biểu thị ý nghĩa.

Vd: 青-情-清-请。

Nguồn: www.chinese.edu.vn Bản quyền thuộc về: Trung tâm tiếng Trung Chinese Vui lòng không copy khi chưa được sự đồng ý của tác giả

214 Bộ Thủ Chữ Hán / 2023

214 bộ thủ chữ Hán – nhớ nhanh bộ thủ tiếng Trung qua thơ. Hôm nay thầy Phạm Dương Châu gửi tới các bạn cách học từ vựng tiếng Trung – cách nhớ chữ Hán qua thơ rất nhanh sau 24h đồng hồ, bạn có thẻ nhớ hết 214 bộ thủ trong tiếng Hán

214 bộ thủ tiếng Trung

Ghi chú : Những chữ viết Hoa là âm Hán việt, những chữ viết thường là nghĩa. Vd: Mộc 木 – cây, tức là chữ Mộc 木 nghĩa là cây cối.(Thực ra mộc là gỗ) THỦY 水 – nước, tức là chữ THỦY 水 có nghĩa là nước. v.v…

Giải thích : 1,2: nói đủ thất diệu (mặt trăng, mặt trời và 5 ngôi sao trong hệ mặt trời Kim, mộc , thuỷ, hoả , thổ)-tức là nói về Thiên. 3,4: nói về Địa và Nhân (các thứ trên mặt đất, và các dạng người) 5,6: những khái niệm do con người tạo ra, sử dụng, cư trú. 7,8: nói về thời hồng hoang, ở trong hang núi, bắt đầu có khái niệm về buổi sáng , buổi tối, cũng như thiên địch (hổ) và thức ăn (dê). Người TQ cổ đại nuôi dê rất sớm. thực ra Dương = cừu. 9,10: 2 câu cuối nói về thời kỳ đã tìm ra lửa, biết nung ngói. nung gốm sứ. Làm ruộng, đời sống con người tốt hơn, nâng cao tuổi thọ, nên có chữ Lão = người già.

Phụ chú : (1).Phụ nghĩa gốc là quả đồi đất, thường dùng trong các chữ Hán chỉ địa danh. (2).Sỹ là người có học, ở đây vì bắt vần, nên tôi cho Sỹ = quan lại. Vì chỉ có người có học mới có thể làm quan. (3)Hán nghĩa gốc là chỗ sườn núi(non) rộng rãi, dùng để làm nơi sản xuất, vì vậy mà người ta mới lấy nó làm chữ Chang3(công xưởng) (4).Chữ Thần nghĩa là Thìn (1 trong 12 con giáp),cũng có nghĩa là ngày giờ (vd: cát nhật lương thần = ngày lành giờ tốt).Cổ văn dùng giống như chữ 晨 là buổi sớm, ở đây vì bắt vần, tôi cho Thần = buổi sớm. (5).Chữ Ấp nghĩa là đất vua ban, nhưng người vn ở miền nam thường dùng chữ Ấp với nghĩa là 1 khu vực, 1 thôn làng, vì vậy tôi cho thôn = Ấp.

Giải thích : 11,12: nói về các động tác của con người (chân và tay) 13: nói đến loài chim 14: có tính biền ngẫu : Túc, Diện, Thủ, Hiệt- Thủ

Phụ chú : (1)Hai bộ Dẫn, Sước có ý nghĩa rất rộng, thường chỉ về hành động, đặcbiệt là sự đi lại, ở đây tôi tạm dịch Dẫn=đi trong phạm vi gần, Sước=đi trong phạm vi xa. (Cũng là để cho bắt vần) (2) Bao = bao bọc, ôm ấp,bao che. Nên tôi viết Bao = ôm. Bỉ = sosánh. Bộ Củng có nghĩa là 2 tay chắp lại để nâng 1 vật nào đó , hoặcchắp tay lại. (Cổ văn vẽ bộ Củng là hình 2 bàn tay) (3) Bộ Hiệt vẽ cái đầu người . Chú ý phân biệt với bộ Thủ(vẽ đầu con thú, nghĩa gốc Thủ= đầu con thú- Lý Lạc Nghị) (4) Bộ Tiêu nghĩa là tóc dài, các chữ chỉ về râu tóc thường có bộnày. Bộ Nhi vốn là 1 chữ tượng hình, vẽ chòm râu dưới cằm (Lý LạcNghị). Sau này người ta giả tá (mượn chữ Nhi này để chỉ 1 nghĩa khác).Cho nên ngày nay bộ Nhi trở thành 1 hư tự trong tiếng Hán.Trong 1 vàichữ Hán có chứa bộ Nhi, bộ Nhi vẫn mang ý nghĩa là râu cằm. 耐 (nhẫn nại, bị nhổ râu,đau, phải nhẫn nại), 耍 (chơi đùa, đàn bà vốn ko có râu, thế mà bộ Nữ lại đi với bộ Nhi(râu). (5) Bộ Dực = cọc buộc mũi tên, hoặc súc vật. Ở đây tôi dịch là cọc buộc trâu, cũng chỉ là để liên tưởng mà thôi. Bộ Kỷ cũng là vẽ 1 sợi dây thừng(Lý Lạc Nghị) sau đó, người ta cũng giảtá nó làm 1 trong 10 thiên can. (vd: năm Kỷ mùi).Và còn giả tá làmnghĩa Kỷ= tôi, bản thân, mình.Nghĩa gốc của chữ Kỷ 己là chữ Kỷ 紀. Người nguyên thủy ghi nhớ bằng cách lấy 1 sợi dây thừng thắt lại nhiều nút. Mỗi nút là 1 sự kiện. (6) 芝麻 Nghĩa là Vừng(hoặc Mè trongtiếng miền nam).Người miền nam VN gọi vừng là Mè vì họ bắt chước cách đọc chữ zhima của người Quảng đông.Bộ Ma còn có nghĩa là cây gai v.v

50. Tường (爿) giường, Suyễn (舛) dẫm, Phiến (片) tờ, Vi (韋) vây (10)

Giải thích: 1. Thực (食) là đồ ăn, bởi vì ăn uống mà con người tranh giành (đấu, đánh nhau). Bộ Thực gồm Nhân (人) và Lương (良, nghĩa gốc là lương thực). Bộ Đấu có 2 chữ Vương (王 vua), có thể coi như 2 ông vua vác cây mâu đến gần để đánh nhau. 2. Đánh nhau thì phải dùng đến vũ khí nên có : Thỉ (矢) là mũi tên, Cung (弓) là cái cung (để bắt vần, nên gọi là Nỏ), Mâu (矛), cái mâu (vũ khí của Trương Phi là cái Bát xà mâu), Qua (戈) là cái đòng, 1 thứ vũ khí cổ xưa (Truyện kiều có câu : Vác Đòng chật sân). 3. Đánh nhau thì máu đổ xương rơi nên có bộ Đãi (歹) là xương tàn, Huyết (血) là máu, và Tâm là tim (心), tấm lòng (luôn đi cùng với chữ Huyết). 4. Đánh nhau thì có kẻ còn sống, giữ được Thân (身), kẻ bỏ xác (bộ Thi 尸), kẻ làm vua thì có Đỉnh (鼎) tượng trưng thân phận (như cửu đỉnh ở Huế), có nồi to (Cách 鬲, cái nồi rất lớn). 5. Kẻ thua trận phải thần phục làm bề tôi (bộ Thần 臣), bề tôi thì luôn luôn thiếu thốn hơn chủ, thiếu sót (bộ Khiếm欠) 6. Câu này chuyển ngoặt, khuyên răn bề tôi, chớ làm điều phi pháp (Vô 毋, Phi 非) và nói về động vật Mãnh (黽, con baba). 7. Tiếp theo nói về động vật, Nhữu (禸) là vết chân thú, Thiệt (舌) là lưỡi, và Cách (革) là da thú đã thuộc, có thể làm giày, quần áo, túi v.v… là nguyên liệu làm vật dụng. 8. Tiếp đến là các loài ngũ cốc. Mạch (麥) chính là lúa mạch, gồm chữ Mộc (木) và 2 chữ Nhân (人tượng trưng cho 2 bông lúa mạch) và bên dưới vẽ rễ cây lúa mạch. 木+人+人+夂. Bộ Hòa (禾) gồm bộ Mộc 木 thêm 1 phết bên trên ngụ ý bông lúa gạo. Bộ Thử (黍) gồm bộ Hòa (禾) ngụ ý cây lúa. Bộ Nhân人 tượng hình vỏ trái bắp ngô, bên dưới vẽ 1 cái lõi bắp ngô, và 4 hạt bắp ngô. (氺 giống bộ Thủy nhưng không có nghĩa là nước 水)。 9. Tiểu (小) nhỏ, Đại (大) to, là nói đến những bộ có nghĩa đối nhau. 10. Tiếp theo sẽ là Tường đối ngược dạng chữ với Phiến (片). Tường vẽ cái giường (chữ Sàng, giường có bộ tường. 牀 = 床). Quay bộ Tường 90 độ theo chiều ngược kim đồng hồ, sẽ thấy hình dạng cái giường. Bộ Phiến (片) ngược với bộ Tường (爿), nghĩa là mỏng (như tờ giấy, nên tôi tạm dịch Phiến là tờ). Bộ Suyễn (舛) vẽ 2 bàn chân dẫm trên mặt đất, nhưng vì thời gian dài biến đổi tự dạng, nên khó mà nhận ra 2 bàn chân. (bạn có thể thấy nó trong chữ Vũ 舞 là múa). Bộ Vi (韋) ở giữa có 1 chữ Khẩu tượng trưng cho 1 tòa thành. Bên trên bên dưới vẽ 2 bàn chân đang đi vòng quanh tòa thành (ngụ ý bao vây). Tương tự bộ Suyễn (舛), tự dạng biến đổi nhiều, ta khó nhận ra được. ( nguồn Lý Lạc Nghị – bộ Vi, bộ Suyễn)

Giải thích : 1. Bộ Trỉ (夂) vẽ hình 1 cái bàn chân đang đi xuống. Vd : a) Giáng 降 gồm các tổ hợp nét : 阝(phụ : đồi cao), 夂 (trỉ : bàn chân), ヰcũng là hình vẽ của 1 bàn chân. Một quả đồi (阝, phụ) và 2 bàn chân đi từ trên đồi xuống thì có nghĩa là “Giáng” (đi xuống). (Hình vẽ 2 bàn chân bên phải đã trải qua hàng nghìn năm biến đổi tự dạng, nên hơi khó nhận ra, bạn nào muốn coi diễn biến của hình vẽ này, xin tìm nguồn tư liệu “汉字演变五百例” của 李乐毅) . b) Phùng 逢 : Gồm bộ 辶 (Sước), 夂 (Trỉ), 丰(Phong). Ban đầu viết như thế này 夆 (phong), Phùng nghĩa là gặp gỡ, muốn gặp được thì phải đi tới (bộ Trỉ, bàn chân) bên dưới là chữ Phong chỉ âm đọc, Phong biến âm thành “Phung” rồi “Phùng”. Sau đó người ta thêm bộ Sước vào cho rõ nghĩa hơn. (Sước là đi xa, ngụ ý hành động). Bộ Tuy (夊) trông rất giống bộ Trỉ (夂), nên đôi khi người học dễ bị nhầm lẫn. Nhưng bạn chỉ cần để ý 1 chút là sẽ phân biệt được. Vd : Chữ 麥 = 木+人+人+夊 . Chữ Mạch là cây lúa mạch, nên có chữ Mộc chỉ cây, hai chữ Nhân là vẽ 2 bông lúa nặng trĩu, bên dưới vẽ rễ cây lúa mạch.

2. Chữ Tự (自) ban đầu chính là vẽ cái mũi. Sau đó người ta mượn chữ “Mũi” này để chỉ nghĩa Tự như “Tự mình”. Vì vậy cần phải tạo ra 1 chữ khác chỉ cái mũi, chính là chữ Tỵ. (âm đọc cổ của chữ Tự 自 và Tỵ 鼻 gần giống nhau) 鼻(Tỵ) = 自 (tự) + 畀(tý). Chữ Tỵ = mũi được tạo mới là 1 chữ Hình thanh (bộ Tự bên trên chỉ nghĩa, chữ Tý bên dưới chỉ âm đọc) 畀Tý ghép bởi hai tổ hợp nét là 田(điền) và 廾(Củng). Tý nghĩa là đem cho. Bên trên vẽ bộ Điền 田, tượng trưng 1 gói quà, ta có thể coi như 1 chiếc bánh chưng cho dễ nhớ. Bên dưới vẽ hai bàn tay (bộ Củng 廾vẽ hai bàn tay chắp lại nâng một vật). Ngụ ý, đem quà đi tặng. Bộ Nhĩ (耳) vẽ cái tai. Đã bị biến đổi tự dạng rất nhiều Bộ Thủ (首)vẽ đầu con thú, có 2 sừng phía trên, khá giống đầu 1 con vật có sừng. Chú ý phân biệt với bộ Hiệt (頁, câu 14) vẽ đầu người, không có 2 sừng bên trên.

3. Bộ Thanh (青) nghĩa là màu xanh, ghép từ hai tổ hợp nét 生 và 丹. Chữ Hán cổ viết bên trên là Sinh (Sanh) chỉ âm đọc (Ghi chú : âm đọc Hán cổ và âm Hán hiện đại khác nhau, có lẽ thời cổ đại, chữ Sinh và chữ Thanh có âm đọc tương đối giống nhau). Bên dưới là Đan chỉ màu đỏ, ngụ ý màu xanh luôn đi đôi với màu đỏ, nay viết thành chữ nguyệt 月. Bộ Thảo (艹) vẽ 2 ngọn cỏ, cổ văn (艸) và hiện nay (艹) đều dễ dàng nhận ra điều đó. Bộ Sắc (色) trong màu sắc, vẽ con Kỳ nhông đuôi dài, 2 nét trên cùng là cái đầu con kỳ nhông, phần ở giữa vẽ cái thân con kỳ nhông, nét cong dưới cùng là cái đuôi con kỳ nhông. Vì con kỳ nhông thường thay đổi màu nhanh chóng, nên người Trung Quốc lấy hình dạng con vật này để chỉ nghĩa màu sắc.

4. Bộ Trĩ (豸, hoặc Sãi, Trãi) vẽ hình 1 con thú đuôi dài, bên trên là cái đầu có mõm nhọn, răng dài. có thể phân ra thành : – Đầu con thú tượng hình bằng bộ nguyệt viết nghiêng – Lưng và đuôi con thú là nét cong bao bên ngoài – 4 chân con thú tượng hình bằng 2 nét cong bên trong (vì đây là hình vẽ con thú nhìn nghiêng) Những loài thú dữ có xương sống thường dùng bộ Trĩ này để chỉ ý. Vd : 豹,豺,豼,貇,貅 Bộ Kệ (彑) vẽ cái đầu con heo, có mõm dài, rất khó nhận ra, nhưng ta có thể thấy tàn dư của nó trong các chữ Hán đang dùng ngày nay : 彖 [tuàn], âm Hán Việt là thoán, vốn là 1 loài heo rừng, sau mượn dùng làm chữ Soán trong kinh dịch.

5. Bộ Thử (鼠) là con chuột, cổ văn vẽ hình 1 con chuột, sau đó diễn biến thành chữ như ngày nay. Nếu bạn lấy chữ Thử tiểu triện quay ngược kim đồng hồ 90 độ, sẽ thấy khá giống 1 con chuột đang bò 鼠. hiện nay, muốn nhớ được chữ này, bạn có thể nhớ theo cách sau : Thử thuộc bộ Cữu (臼 cối xay gạo). Con chuột “xay” gạo cũng khá dữ dội, cho nên lấy bộ Cữu (臼) tượng trưng cho cái đầu của nó. Phần bên dưới vẽ 3 nét dài 4 nét ngắn. 3 nét dài tượng trưng cho mình và đuôi con chuột, 4 nét ngắn tượng trưng cho 4 chân. Học tiếng Trung qua bài hát có thể giúp bạn nghe tiếng Trung tốt hơn.

6. Bộ Hương (香) nghĩa là thơm, bên trên viết bộ Hòa (禾cây lúa), bên dưới viết bộ Cam (甘 nghĩa là ngọt ngào, sau biến thành chữ Viết 曰). Gộp 2 ý lại thành mùi bông lúa chín ngọt ngào và thơm tho. 香 = 禾 + 甘 = 禾 + 曰 Bộ Mễ (米) vẽ hình 1 bông lúa, sau có nghĩa là gạo. Trông hình dạng chữ khá giống bông lúa. Những chữ Hán có chứa bộ Mễ (米) thường chỉ về các loại hạt, hạt nhỏ, thậm chí nhỏ đến mức không nhìn thấy vd : 精, 氣 Bộ Triệt (屮) vẽ 1 ngọn cỏ, tượng trưng cho loài rêu, bộ này ít dùng. Bộ Dụng (用) vẽ hình 1 quả chuông (không có núm). Người xưa đặt nó trên bàn làm việc, khi cần “DÙNG” đến lính hầu, người ở thì dùng tay nắm lấy lắc cho kêu. do vậy mà người TQ vẽ cái chuông này để chỉ nghĩa Dùng, sử dụng.

7. Bộ Đấu (斗) vẽ hình 1 cái đấu đong gạo. Người TQ cổ đại đong bằng đấu. Ở miền bắc vẫn dùng đơn vị “đấu” để đong gạo cho đến tận nhưng năm 80 của thế kỷ 20.

8. Bộ Can (干) là cái lá chắn, họăc là dụng cụ dùng để dựng giáo mác thời xưa. Nay đã biến đổi dạng chữ, khó nhận ra, tuy nhiên nó cũng rất đơn giản, chỉ có 3 nét, nên cũng khá dễ nhớ. Bộ Công (工) vẽ hình cái thước thợ (giống như thước kẹp thợ sắt ngày nay) 1 dụng cụ để lấy góc vuông của người thợ Trung quốc cổ đại. Nếu bạn nào có chuyên môn về xây dựng sẽ dễ dàng hình dung ra hơn.

9. Bộ Thị (示) vẽ hình 1 cái bàn thờ thời tiền sử (họ dùng 1 mặt đá làm mặt bàn, chụm 3 khúc gỗ làm chân), nên bộ Thị hiện nay viết : Nét trên cùng là thức ăn cúng tế, nét ngang thứ 2 là mặt bàn thờ, 3 nét có chiều thẳng là vẽ chân bàn. bộ Thị hiện có 2 cách viết được chấp nhận : 示, 礻 như : 福,社,祭,。。。

10. Bộ Ngọc (玉) vẽ 1 chuỗi ngọc, cổ văn viết chữ Ngọc玉 và chữ Vương 王 giống nhau, sau này người ta mới thêm 1 chấm nhỏ vào bộ Ngọc để phân biệt với chữ Vương. Rất nhiều người học chữ Hán thường nhầm là bộ “Vương”. Thực ra, không hề có bộ Vương, chỉ có bộ Ngọc, bộ ngọc khi nằm trong các chữ Hán phức tạp, có hình dạng của chữ Vương. Vd : 珍珠, 琥珀, 玻璃, … Bộ Bối (貝) vẽ hình cái vỏ sò, hai nét dưới cùng là hai cái khớp trên vỏ con sò biển. Người Trung quốc cổ đại trao đổi hàng hóa bằng vỏ sò, họ dùng vỏ sò thay thế tiền. Do vậy, Bối có nghĩa mở rộng là tiền bạc, đồ quý hiếm, của báu. Vd trong tiếng việt : Bảo bối, Qua 1 thời gian dài biến hình, bộ Bối khó nhận ra được hình dạng vỏ sò, nhưng nó thường nằm trong các chữ chỉ về tiền bạc, 貴賤 quý tiện, 買賣mua bán, 賠償bồi thường v.v

Giải thích : 61, 62: vẫn tiếp tục nói đến bàn thờ, và các thứ đặt trên bàn thờ : Đậu (豆) là bát đựng đồ thờ, Sưởng (鬯) là rượu cúng, dậu (酉) là vò rượu, y (衣) là áo (giấy), cân (巾) là khăn (giấy), đều là cá thứ dùng để cúng tế.

Giải thích : 71. Câu 70 nói về duật (聿) là bút, nên câu tiếp theo 71 này nói về văn, chữ viết.

Bạn đang xem bài viết Cách Học 214 Bộ Thủ Tiếng Trung / 2023 trên website Lienminhchienthan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!